Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Sơ đồ 1.1: Quy trình nghiệp vụ môi giới chứng khoán

Sơ đồ 1.1: Quy trình nghiệp vụ môi giới chứng khoán

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chuyên đề thực tập

- Tuổi, ngày tháng năm sinh

- Tên vợ chồng và nơi làm việc

- Giấy chứng nhận của ngân hàng.

Một số công ty yêu cầu cung cấp thông tin chi tiết hơn, như vấn đề về

chính sách, mặc dù thông tin này không được pháp luật quy định. Thơng tin

này có thể bao gồm:

- Thu nhập hàng năm và giá trị tài sản thực tế

- Số con và tuổi của chúng

- Tài khoản của khách hàng hiện ở CTCK khác

Một số công ty cũng yêu cầu khách hàng ký tên trên thẻ chữ ký. Các thẻ

này trở thành văn bản lưu ký chữ ký của khách hàng trong thời gian quy định.

Khi cả đơn, thẻ chữ ký được hoàn tất và tất cả các yêu cầu khác được đáp

ứng, khách hàng có thể tiến hành kinh doanh với công ty.

(2): Đặt lệnh

Lệnh giao dịch là chỉ thị của khách hàng cho CTCK. Lệnh giao dịch phải

bao gồm đầy đủ nội dung quy định theo mẫu của CTCK. Mỗi lần giao dịch,

khách hàng phải điền vào phiếu lệnh theo mẫu in sẵn.

Nhân viên môi giới hướng dẫn khách hàng ghi phiếu lệnh theo đúng quy

định sau:

- Khách hàng điền số CMND khi đặt lệnh giao dịch.

- Lệnh được điền đầy đủ, chính xác, rõ ràng.

- Lệnh được gửi trong thời gian quy định.

- Lệnh hợp lệ về khối lượng, giá và thời gian.

Khách hàng ghi rõ ngày tháng đặt lệnh, ký vào phiếu lệnh và gửi nhân

viên môi giới tại Phòng giao dịch.

Các phiếu lệnh phải được kiểm tra đầy đủ các dữ liệu sau:

- Kiểm tra các dữ liệu ghi trên phiếu lệnh phải điền đầy đủ và hợp lệ

- Kiểm tra tính hợp lý của chữ ký

23



Chuyên đề thực tập

- Kiểm tra số dư tài khoản, phải đủ tiền (đối với lệnh mua chứng khoán)

hoặc đủ chứng khoán (đối với lệnh bán chứng khoán).

Đối với những phiếu lệnh không đáp ứng đủ các tiêu chuẩn cần thiết,

nhân viên mơi giới có trách nhiệm liên hệ với NĐT để giải quyết các vấn đề

hoặc tham khảo ý kiến của trưởng phòng trước khi hủy lệnh.

NĐT có thể lựa chọn các hình thức giao dịch sau tùy từng CTCK:

- Đặt lệnh trực tiếp tại trụ sở công ty

- Đặt lệnh qua điện thoại

- Ủy quyền cho người thứ 3 tiến hành giao dịch

- Đặt lệnh qua internet

- Đặt lệnh tại đại lý nhận lệnh.

Nếu nhận lệnh giao dịch của khách hàng qua internet, điện thoại, fax,

CTCK phải tuân thủ:

- Luật giao dịch điện tử và các văn bản hướng dẫn, đảm bảo có ghi nhận

thời điểm nhận lệnh.

- Đối với lệnh nhận qua điện thoại, fax, CTCK phải đảm bảo nguyên tắc:

xác nhận lại với khách hàng trước khi nhập lệnh vào hệ thống giao dịch, lưu

giữ bằng chứng chứng minh về việc đặt lệnh của khách hàng.

- Có biện pháp khắc phục thích hợp khi khơng nhập được lệnh của khách

hàng vào hệ thống giao dịch do lỗi của công ty.

(3): Chuyển lệnh đến thị trường phù hợp để thực hiện

Sau khi nhận lệnh và kiểm tra tính hợp lệ của lệnh, nhân viên mơi giới có

thể chuyển lệnh cho đại diện của công ty tại sàn hoặc nhập lệnh vào hệ thống

của Sở GDCK qua máy tính kết nối với Sở.

Sở GDCK tiến hành khớp lệnh theo từng chu kỳ do Sở GDCK quy định

và theo các ngun tắc đấu giá, sau đó thơng báo kết quả cho các thành viên

giao dịch, các CTCK sẽ thông báo kết quả thực hiện lệnh cho khách hàng.

24



Chuyên đề thực tập

(4): Xác nhận cho khách hàng

Sau khi nhận được kết quả thực hiện lệnh từ Sở GDCK, bộ phận thanh

toán bù trừ và lưu ký chứng khoán sẽ kiểm tra lại với nhân viên môi giới về

các thông tin của lệnh. Nhân viên môi giới xác nhận lại với khách hàng về các

thơng tin này.

(5): Thanh tốn và giao hàng

Nếu nhân viên mơi giới xác nhận lệnh đúng thì bộ phận thanh toán bù trừ

sẽ in chứng từ, chuyển cho các bên liên quan để tiến hành thanh toán cho

khách hàng.

Kỹ năng nghiệp vụ mơi giới chứng khốn



1.2.5.



TTCK là một thể chế bậc cao của nền kinh tế thị trường. Những nét đặc

trưng riêng của một thị trường bậc cao với sản phẩm và dịch vụ đa dạng, phức

tạp đòi hỏi các CTCK phải được tổ chức và vận hành theo cách riêng, đồng

thời đòi hỏi người mơi giới chứng khốn phải có những phẩm chất, kỹ năng

và điều kiện hoạt động rất đặc thù.

Các kỹ năng mà một nhà mơi giới chứng khốn cần có là:

-



Kỹ năng truyền đạt thơng tin



-



Kỹ năng tìm kiếm khách hàng



-



Kỹ năng khai thác thông tin khách hàng



-



Kỹ năng bán hàng.

Kỹ năng truyền đạt thông tin



1.2.5.1.



Nghề môi giới được đặt trên nền tảng cơ sở về năng lực truyền đạt thông

tin của người môi giới đến khách hàng một cách có hiệu quả, dựa vào mối

quan hệ của người môi giới với đồng nghiệp và với cấp trên của họ, và dựa

vào mối quan hệ với đội ngũ nhân viên hỗ trợ giúp người mơi giới hồn tất

cơng việc. Nói cách khác trước khi được khách hàng ủy thác tài sản với tư

cách là người mơi giới, thì người mơi giới phải làm cho khách hàng cảm nhận

được tồn bộ thơng điệp, mà theo một số chuyên gia phân tích, một hàm

25



Chuyên đề thực tập

lượng rất lớn trong thơng điệp đó được chuyển tải không bằng lời.

Truyền đạt thông tin bao gồm cả năng lực của người môi giới trong việc

thiết lập mối đồng cảm và lòng tin, cũng như phải biết cách lắng nghe những

thông tin quan trọng liên quan đến cách ra quyết định và động lực của khách

hàng. Người môi giới cần nghĩ cách sử dụng thơng tin đó để có thể tác động

làm thay đổi hiệu quả của việc thuyết trình mại vụ.

Sự phản ứng tự nhiên chống đối của khách hàng đối với việc bán hàng

đều nảy sinh từ 3 nguyên nhân sau:

-



Khách hàng chỉ nhận thức được người môi giới là người bán hàng



-



Người môi giới không thể truyền đạt rõ ràng về thông tin nhà nghề theo

quan điểm của khách hàng

Người mơi giới khơng có khả năng thiết lập sự đồng cảm sâu sắc và sự



-



tin cậy trong quan hệ với khách hàng.

Muốn khắc phục được các nguyên nhân trên, người môi giới trước hết

phải hiểu rõ các sản phẩm dịch vụ của mình và các sản phẩm dịch vụ đó đáp

ứng nhu cầu của khách hàng như thế nào. Người môi giới phải truyền đạt tới

khách hàng bằng thái độ quan tâm, hiểu được khách hàng mong muốn điều gì

và nói bằng ngơn ngữ riêng của khách hàng.

Kỹ năng tìm kiếm khách hàng



1.2.5.2.



Hầu như tất cả những người làm nghề môi giới đều mong muốn mở rộng

việc kinh doanh và muốn có thù lao, do đó họ thường xuyên tìm kiếm khách

hàng mới để giúp đỡ. Tìm khách hàng là phương pháp truyền thống để đạt

mục tiêu đó.

Các phương pháp tìm kiếm khách hàng thơng dụng nhất:

-



Theo chỉ đạo từ công ty hoặc tiếp nhận tài khoản



-



Khách hàng được giới thiệu



-



Giới thiệu khách hàng, tận dụng mạng lưới kinh doanh



-



Chiến dịch viết thư

26



Chuyên đề thực tập

-



Tổ chức tọa đàm



-



Gọi điện làm quen.

Kỹ năng khai thác thông tin khách hàng



1.2.5.3.



Mục tiêu của việc khai thác thông tin khách hàng là để tư vấn đầu tư có

hiệu quả. Muốn vậy, người môi giới phải khai thác từ khách hàng các thơng

tin sau:

-



Năng lực tài chính, thu nhập



-



Nhu cầu tài chính, mục tiêu đầu tư



-



Mức độ chấp nhận rủi ro



-



Nghề nghiệp, sự am hiểu của khách hàng



-



Lịch sử đầu tư và quy mô danh mục đầu tư của khách hàng



-



Quan hệ gia đình và người ảnh hưởng đến quyết định của khách hàng



-



Cách thức suy nghĩ và ra quyết định của khách hàng



-



Sở thích.

Quy trình tìm hiểu thơng tin khách hàng như sau:



-



Thiết lập sự đồng cảm với khách hàng và tạo cho khách hàng sự thoải mái



-



Khai thác và sắp xếp thứ tự ưu tiên của khách hàng



-



Xác định các thông số cho từng nhu cầu , mục tiêu đó



-



Tìm hiểu xem khách hàng có tài sản có hay tài sản nợ khác hay không



-



Xem lại các thông số



-



Tạo lập một cuộc hẹn để đưa ra giải pháp.

Kỹ năng bán hàng



1.2.5.4.



Bán hàng xét trên phương diện môi giới chứng khốn là việc người mơi

giới thuyết trình cho khách hàng về thông tin và đặc điểm của sản phẩm dịch

vụ, giúp cho khách hàng hiểu biết thêm về sản phẩm dịch vụ và đưa ra quyết

định mua sản phẩm hoặc sử dụng dịch vụ hay khơng.

Quy trình bán hàng thơng thường của người mơi giới chứng khốn như

sau:

27



Chun đề thực tập

Mở đầu



-



Trong bước này người môi giới phải chuẩn bị cho bài thuyết trình bằng

cách rà sốt lại nhu cầu của khách hàng và kiểm tra lại sự hiểu biết của mình

về các tình huống cũng như mong muốn của khách hàng để giải quyết nhu

cầu, giải quyết vướng mắc và đáp ứng mong muốn đó.

Phần chính của thuyết trình



-



Phần này đề cập đến cách người mơi giới đưa ra giải pháp để giải quyết

vấn đề của khách hàng và giải thích những đặc điểm, những ưu điểm và lợi

ích thích hợp của sản phẩm hay dịch vụ.

Các dữ liệu hỗ trợ



-



Người môi giới nên cung cấp cho khách hàng dữ liệu về tên, mức độ an

toàn, mức độ tăng trưởng kỳ vọng, thông tin về trả lãi hay cổ tức… của sản

phẩm dịch vụ.

Đạt được cam kết



-



Với tư cách người hành nghề bán hàng tài chính, lý do tồn tại duy nhất

của người môi giới là giúp khách hàng giải quyết một vấn đề hay đáp ứng

một nhu cầu. Tuy nhiên người môi giới chỉ thực hiện được mục đích khi

hồn tất q trình này bằng việc bán sản phẩm hay dịch vụ theo nhu cầu

của khách hàng.

Khi sử dụng phương pháp bán hàng tư vấn thì hầu như khơng nên ép

khách hàng. Thay vào đó người mơi giới nên hướng khách hàng đi đến quyết

định thích hợp. Điều này tạo một tình huống rất có ích để có được lời giới

thiệu với khách hàng mới và lặp lại việc làm ăn. Nó sẽ đáp ứng nhu cầu của

khách hàng và củng cố quá trình bán hàng dài hạn.

Hậu mãi



-



Công đoạn này bao gồm các việc người môi giới phải làm sau khi bán

hàng, bao gồm việc thực hiện một số cuộc gọi xác nhận, trả lời những câu hỏi

thêm, cung cấp dịch vụ và nhận được lời giới thiệu với khách hàng mới từ

28



Chuyên đề thực tập

phía khách hàng để người mơi giới có thể mở rộng cơng việc kinh doanh của

mình.

Các nhân tố ảnh hưởng đến việc nâng cao hiệu quả mơi giới chứng



1.3.



khốn

1.3.1. Nhân tố khách quan

Có rất nhiều yếu tố nội tại tác động tới hiệu quả hoạt động của CTCK

nói chung và hoạt động tư vấn nói riêng. Tuy nhiên, khi xem xét hiệu quả hoạt

động của bất kỳ một doanh nghiệp nào ta thường đề cập đến các yếu tố chính

như vốn, nguồn nhân lực, chiến lược kinh doanh, trình độ cơng nghệ. Đây là

các nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động tư vấn của các

CTCK.

Nguồn nhân lực

Trong bất kỳ lĩnh vực nào, nhân lực luôn là yếu tố quan trọng nhất,

quyết định đến sự thành bại của mọi hoạt động. Điều này đặc biệt càng đúng

đối với hoạt động tư vấn. Đây là hoạt động cung cấp các dịch vụ với hàm

lượng tri thức cao nên những đòi hỏi về kiến thức, trình độ chun mơn, kinh

nghiệm và đạo đức nghề nghiệp được đặt lên hàng đầu. Do đó, đối với các

CTCK có nguồn nhân lực dồi dào, với những nhân viên đáp ứng được những

yêu cầu trờn thỡ hoạt động tư vấn sẽ phát triển, hiệu quả được nâng cao, tạo

được niềm tin cho khách hàng. Từ đó, vị thế và uy tín của cơng ty sẽ được

tăng lên và dần trở thành tổ chức tư vấn hàng đầu.

Tại những TTCK mới nổi như ở Việt Nam, những chuyên gia tư vấn là

những người cần nhất nhưng lại thiếu nhất. Để trở thành nhân viên tư vấn thì

trước hết phải có giấy phép hành nghề tư vấn chứng khoán với những yêu cầu

cao hơn nhiều so với những nhân viên môi giới thông thường. TTCK khơng

phải là sân chơi cho những người khơng có kiến thức về lĩnh vực này. Tuy

nhiên, không phải ai cũng đủ trình độ hiểu và phân tích kỹ càng trước những

dữ liệu và thơng tin được cơng bố để có thể đưa ra những quyết định chính

29



Chuyên đề thực tập

xác, hợp lý. Chính vì vậy họ tìm đến những nhà tư vấn, cần được tư vấn một

cách tốt nhất, hoàn hảo nhất. Mặc dù quyết định cuối cùng thuộc về họ nhưng

lời khuyên của những chuyên gia tư vấn có ảnh hưởng không nhỏ. Và một

quyết định thành công sẽ làm cho khách hàng càng tin tưởng vào vai trò của

nhà tư vấn. Cho nên việc tập trung đào tạo nguồn nhân lực luôn được các

CTCK chú trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động tư vấn.

Chiến lược kinh doanh và định hướng phát triển của công ty

Bất kỳ doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh nào

khi được thành lập đều phải lập ra cho mình một chiến lược kinh doanh nhất

định, phù hợp với khả năng của doanh nghiệp đó và với xu thế phát triển của

thị trường. Các CTCK cũng không phải là ngoại lệ. Hầu hết các CTCK khi

mới thành lập đều tập trung vào phát triển hoạt động mơi giới vì đây là hoạt

động mang lại doanh thu chủ yếu và hoạt động này tạo ra mạng lưới khách

hàng cho công ty. Tuy nhiên hiện nay các CTCK đã bắt đầu khai thỏc,phỏt

triển hoạt động tự doanh và tư vấn chứng khoán. Một cơng ty muốn phát triển

tồn diện khơng thể chỉ chuyờn sõu về một mảng hoạt động thế mạnh mà xem

nhẹ, bỏ qua các hoạt động khác. Bởi vì các hoạt động của CTCK luụn cú mối

liên hệ mật thiết với nhau. Hoạt động tư vấn đạt hiệu phát triển sẽ thúc đẩy

các hoạt động khác phát triển.

Nguồn vốn kinh doanh

Yếu tố vốn luôn là điều kiện đầu tiên được đưa ra xem xét khi thành lập

CTCK và thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh trên thị trường. Bởi vì các

CTCK là trung gian cung cấp các dịch vụ tài chính, để tạo niềm tin nơi khách

hàng và phát triển các hoạt động một cách tồn diện thì CTCK phải có tiềm

lực tài chính dồi dào, lớn mạnh. Điều đó sẽ giúp cho CTCK đối mặt với nhiều

khó khăn từ nền kinh tế và từ những khách hàng của mình, nâng cao hiệu quả

các hoạt động của công ty.

30



Chuyên đề thực tập

Hoạt động tư vấn là hoạt động kinh doanh chất xám nên yêu cầu về vốn

không lớn như các hoạt động khác. Hiện nay vốn pháp định để thực hiện hoạt

động tư vấn chứng khoán tại Việt Nam chỉ là 10 tỷ đồng. Tuy nhiên CTCK

vẫn cần đầu tư vào các cơng cụ phục vụ cho q trình hoạt động và xử lí dữ

liệu. Cơng cụ càng hiện đại, phát triển sẽ giúp cho việc phân tích xử lý dữ liệu

nhanh chóng, từ đó có thể đưa ra những lời tư vấn kịp thời, chính xác cho

khách hàng, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động tư vấn.

Cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ cơng nghệ thơng tin

Ngày nay ở các nước có TTCK phát triển thì đa số các hoạt động đều

được thực hiện qua hệ thống máy móc hiện đại. Các CTCK muốn có hiệu quả

hoạt động tốt cũng cần phải ứng dụng các công nghệ hiện đại. Hoạt động tư

vấn phụ thuộc nhiều vào khối lượng thơng tin mà CTCK thu thập được bởi vì

trên cơ sơ cú cỏc thơng tin thì họ mới có thể tiến hành nghiên cứu, phân tích

được. Vì vậy, nhân viên tư vấn cần có các phương tiện, máy móc nhằm hỗ trợ

cho họ trong quá trình làm việc. Cho nên, điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật

có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của CTCK nói chung và hiệu quả hoạt

động tư vấn nói riêng.

Một điều chắc chắn rằng một CTCK có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại

hơn sẽ hoạt động tốt hơn không chỉ trong hoạt động tư vấn. Các CTCK có thể

tìm kiếm, tư vấn khách hàng thơng qua mạng máy tính, được trang bị công

nghệ hiện đại sẽ giỳp cỏc nhân viên tư vấn tìm kiếm được nhiều khách hàng

hơn, giải quyết cơng việc nhanh chóng và hiệu quả hơn. Bên cạnh đó hoạt

động tư vấn có quan hệ mật thiết đối với các hoạt động khác. Vì vậy trong

CTCK cần có các trang thiết bị để liên kết các bộ phận với nhau, việc này

khơng chỉ có tác dụng tích cực đối với hoạt động tư vấn mà còn góp phần

nâng cao hiệu quả hoạt động chung của toàn CTCK.

1.3.2. Nhân tố khách quan

Hiệu quả hoạt động tư vấn của CTCK không chỉ bị ảnh hưởng bởi các

31



Chuyên đề thực tập

yếu tố nội tại của chính cơng ty mà còn phụ thuộc vào các nhân tố khách quan

từ bên ngoài. Các nhân tố này cũng có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của

hoạt động tư vấn.

Chính sách của nhà nước

Đây là nhân tố quan trọng tác động trực tiếp đến hoạt động của CTCK.

Chính sách của nhà nước khơng chỉ ảnh hưởng đến hoạt động tư vấn hay các

hoạt động của CTCK nói chung mà nú cũn có tác động to lớn đối với mọi

ngành nghề của nền kinh tế. Một chính sách hợp lý, khả thi sẽ thúc đẩy sự

phát triển của TTCK cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động tư vấn. Ngược

lại, một chính sách lỏng lẻo và thiếu định hướng sẽ kìm hãm sự phát triển của

thị trường, làm giảm hiệu quả hoạt động của CTCK. Các chính sách luụn cú

độ trễ nhất định so với kết quả mà nó đem lại. Chính vì vậy, việc ban hành

chính sách phải được tính tốn một cách kỹ lưỡng và được thực hiện chu đáo

sao cho đem lại hiệu quả cao đối với sự phát triển của thị trường cũng như đối

với hoạt động của các CTCK.

Môi trường pháp luật

TTCK có tác động trực tiếp đối với nền kinh tế. Một TTCK tăng trưởng

cả về quy mô và chất lượng thể hiện sự thịnh vượng của nền kinh tế, sự giàu

có của người dân và khả năng huy động vốn của các doanh nghiệp. Vì thế

TTCK được coi như là phong vũ biểu của nền kinh tế. Tuy nhiên, việc tác

động tích cực hay tiêu cực của TTCK tới nền kinh tế tùy thuộc vào sự quản lý

của nhà nước. Nhà nước quản lý thị trường thông qua hệ thống pháp luật

nhằm đảm bảo sự phát triển lành mạnh của TTCK.

Hoạt động tư vấn cũng như bất kỳ các hoạt động khác của CTCK đều

chịu sự chi phối, quản lý, giám sát, điều chỉnh của các quy phạm pháp luật. Vì

đặc thù của hoạt động tư vấn chứa đựng nhiều yếu tố nhạy cảm về lợi ích của

khách hàng và CTCK nên dễ xảy ra tranh chấp, khiếu nại. Do đó cần phải có

những quy định pháp lý chặt chẽ để hạn chế xung đột lợi ích giữa hai bên, đòi

32



Chuyên đề thực tập

hỏi các bên liên quan phải thực hiện đúng quy định. Sự hoàn thiện các văn

bản pháp luật, sự chặt chẽ trong các nghị định và sự mềm dẻo linh hoạt của

các văn bản hướng dẫn thi hành sẽ khiến cho các hoạt động của CTCK nói

chung và hoạt động tư vấn nói riêng đạt được hiệu quả cao.

Sự phát triển của TTCK

TTCK phát triển sẽ tạo cơ sở cho mọi hoạt động của CTCK phát triển.

Hoạt động tư vấn cũng khơng nằm ngồi quy luật đó. Khi thị trường phát triển

sẽ tạo ra nhu cầu sử dụng dịch vụ tư vấn, bởi lúc này việc huy động vốn trung

và dài hạn cho nền kinh tế qua kênh này sẽ chiếm tỷ trọng lớn. Điều đó đồng

nghĩa với việc các doanh nghiệp, tổ chức phát hành sẽ rất cần đến các hoạt

động tư vấn như tư vấn phát hành, tư vấn niêm yết, còn hoạt động tư vấn đầu

tư sẽ giúp cho các nhà đầu tư sáng suốt hơn khi ra quyết định và thực hiện đầu

tư thành công, hiệu quả. Hơn nữa khi thị trường phát triển, quy mô hoạt động

của CTCK tăng cao, kéo theo doanh thu, lợi nhuận hoạt động cũng tăng lên.

Các CTCK sẽ có cơ hội cải thiện trình độ kỹ thuật, công nghệ để nâng cao

hiệu quả hoạt động tư vấn.

Doanh nghiệp, nhà đầu tư

Doanh nghiệp và nhà đầu tư là những khách hàng sử dụng trực tiếp dịch

vụ tư vấn, nên họ có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động này. Chính

họ là những người tạo ra doanh thu cho hoạt động tư vấn của CTCK. Khi các

doanh nghiệp và nhà đầu tư dành sự quan tâm đến TTCK, muốn gia nhập thị

trường, họ sẽ tìm đến các CTCK để mở tài khoản tham gia giao dịch, để được

tư vấn phát hành, tư vấn niêm yết, tư vấn đầu tư… Hoạt động tư vấn và các

hoạt động khác của CTCK khi đó sẽ phát triển. Ngược lại, khi doanh nghiệp

khơng còn quan tâm đến phương thức huy động vốn qua TTCK, nhà đầu tư

rời bỏ thị trường thì hoạt động tư vấn cũng như các hoạt động khác của

CTCK sẽ khơng có cơ hội phát triển, hiệu quả hoạt động thấp.

33



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Sơ đồ 1.1: Quy trình nghiệp vụ môi giới chứng khoán

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×