Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN

MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chuyên đề thực tập

chứng từ giao dịch đối với CTCK có nghiệp vụ mơi giới chứng khốn, tự

doanh chứng khốn;

- Hệ thống phòng cháy chữa cháy theo quy định của pháp luật;

- Có hệ thống an ninh, bảo vệ an tồn trụ sở làm việc

• Có vốn điều lệ thực góp tối thiểu bằng mức vốn pháp định theo quy định tại

Điều 18 Nghị định số 14/2007/NĐ-CP ngày 19 tháng 01 năm 2007 của Chính

phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán. Cụ thể, vốn

điều lệ cho mỗi nghiệp vụ như sau:

- Môi giới chứng khoán: 25 tỷ VNĐ

- Tư vấn đầu tư chứng khoán: 10 tỷ VNĐ

- Tự doanh: 100 tỷ VNĐ

- Bảo lãnh phát hành chứng khoán: 165 tỷ VNĐ

Trong trường hợp CTCK xin hoạt động cho nhiều loại hình kinh doanh

thì vốn pháp định là tổng số vốn pháp định của những loại hình kinh doanh

mà CTCK được cấp giấy phép.

Có hai loại nhân sự cần thiết cho CTCK:





-



Cá nhân được cấp giấy phép hành nghề kinh doanh chứng khoán trong CTCK

(Giám đốc, Tổng giám đốc, nhân viên kinh doanh): tiêu chuẩn hành nghề của

họ và quy chế CTCK quy định, bao gồm: có đủ năng lực pháp lý và hành vi

dân sự, có đủ các chứng chỉ đào tạo và chun mơn cần thiết, khơng bị truy

cứu trách nhiệm hình sự, nộp lệ phí đầy đủ...



-



Người đại diện cho CTCK: đây là người hành nghề tham gia vào hoạt động

chứng khoán của CTCK. Họ thường là Giám đốc, Tổng Giám đốc, Phó giám

đốc) chịu trách nhiệm chính về hoạt động của công ty ở Sở GDCK, các chi

nhánh. Người đại diện cho CTCK phải đáp ứng các điều kiện như: có đủ trình

độ chun mơn, được UBCKNN cấp giấy phép hành nghề.

Ở Việt Nam, các CTCK hiện nay hoạt động theo Luật Chứng khoán

ngày 29/06/2006 và Quyết định số 27/2007/QĐ-BTC ngày 24/4/2007 về quy

5



Chuyên đề thực tập

chế tổ chức và hoạt động của CTCK. Theo đó tồn bộ q trình thành lập,

hoạt động của công ty được quy định rõ ràng về mặt luật pháp và những quy

định này sẽ được thay đổi tùy theo tình hình hoạt động thực tế của thị trường.

Phân loại CTCK



1.1.2.



Phân loại theo mơ hình tổ chức của CTCK



1.1.2.1.





CTCK theo mơ hình chun doanh: hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do

các CTCK độc lập, chun mơn hóa đảm nhận, các ngân hàng khơng được

tham gia vào kinh doanh chứng khốn.

Mơ hình này có ưu điểm là hạn chế rủi ro cho hệ thống ngân hàng, tạo

điều kiện cho TTCK phát triển, tuy nhiên lại hạn chế khả năng san bằng rủi ro

kinh doanh.







CTCK theo mơ hình đa năng:



-



Cơng ty đa năng một phần: các ngân hàng muốn kinh doanh chứng

khốn phải thành lập cơng ty con kinh doanh độc lập.

Cơng ty đa năng tồn phần: các ngân hàng thương mại được kinh



-



doanh tổng hợp (chứng khốn, bảo hiểm, tiền tệ).

Mơ hình này có ưu điểm là giảm bớt rủi ro trong hoạt động kinh doanh,

nhưng một khi thị trường có biến động mạnh thì hoạt động kinh doanh sẽ bị

ảnh hưởng nếu không tách bạch các nghiệp vụ kinh doanh.

Phân loại theo hình thức kinh doanh của CTCK



1.1.2.2.





Cơng ty mơi giới: loại cơng ty này còn được gọi là cơng ty thành viên vì nó là

thành viên của Sở GDCK. Cơng việc kinh doanh chủ yếu của công ty môi

giới là mua và bán chứng khoán cho khách hàng của họ trên Sở GDCK mà

cơng ty đó là thành viên.

Cơng ty đầu tư ngân hàng: loại cơng ty này phân phối những chứng







khốn mới phát hành cho cơng chúng qua việc mua chứng khốn do công ty

cổ phần phát hành và bán lại các chứng khốn này cho khách hàng theo giá

tính gộp cả lợi nhuận của cơng ty. Vì vậy cơng ty này còn gọi là nhà bảo lãnh

6



Chun đề thực tập

phát hành.

Cơng ty giao dịch phi tập trung: Công ty này mua bán chứng khốn







trên thị trường OTC.

Cơng ty dịch vụ đa năng: những cơng ty này khơng bị giới hạn hoạt







động ở một lĩnh vực nào của TTCK. Ngoài các dịch vụ trên họ còn cung cấp

cho khách hàng dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khoán, niêm yết chứng khoán

trên Sở GDCK, ủy nhiệm các giao dịch buôn bán cho khách hàng trên thị

trường OTC. Sự kết hợp giữa sản phẩm và kinh nghiệm của công ty sẽ quyết

định cơ sở những dịch vụ mà họ có thể cung cấp cho khách hàng.

Cơng ty bn bán chứng khốn: là cơng ty đứng ra mua bán chứng







khốn với chi phí do công ty tự chịu. Công ty phải cố gắng bán chứng khốn

với giá cao hơn giá mua vào. Vì vậy loại công ty này hoạt động với tư cách là

người ủy thác chứ không phải là đại lý nhận ủy thác.

Cơng ty bn bán chứng khốn khơng nhận hoa hồng: loại cơng ty này







nhận chênh lệch giá qua việc bn bán chứng khốn, do đó họ còn được gọi

là nhà tạo lập thị trường, nhất là trên thị trường OTC.

Vai trò của CTCK



1.1.3.



Vai trò huy động vốn







Các CTCK là các trung gian tài chính có vai trò huy động vốn, tức là họ

là các kênh chuyển vốn từ nơi dư thừa sang nơi có nhu cầu sử dụng vốn. Các

CTCK thường đảm nhiệm vai trò này qua các hoạt động về nghiệp vụ ngân

hàng đầu tư và môi giới chứng khốn.

Vai trò xác định giá chứng khốn







Thơng qua Sở GDCK, thị trường OTC, các CTCK cung cấp một cơ chế

giá cả nhằm giúp NĐT có được sự đánh giá đúng thực tế và chính xác về giá

trị khoản đầu tư của mình.

Vai trò thực hiện tính thanh khoản của chứng khốn





7



Chun đề thực tập

Các CTCK thực hiện cơ chế chuyển đổi này, từ đó giúp NĐT thực hiện

mong muốn chuyển tiền mặt thành chứng khoán và ngược lại một cách ít thiệt

hại nhất.

Thúc đẩy vòng quay chứng khốn







Các CTCK cũng là người tạo ra sản phẩm bằng cách cung cấp cho khách

hàng các cách đầu tư khác nhau. Qua đó họ góp phần làm tăng vòng quay của

chứng khốn qua việc chú ý đến nhu cầu của người đầu tư, cải tiến các cơng

cụ của mình sao cho chúng phù hợp với nhu cầu của khách hàng.

Cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính







Các CTCK với dịch vụ tổng hợp khơng chỉ thực hiện lệnh của khách

hàng mà còn tham gia vào nhiều dịch vụ tư vấn, cung cấp các thông tin đa

dạng, nghiên cứu thị trường cho các công ty cổ phần và các cá nhân đầu tư.

Công ty có thể tư vấn về thu thập và xử lý thông tin và các khả năng về cơ hội

đầu tư, triển vọng ngắn và dài hạn của TTCK và các công ty trong thời gian

hiện tại và tương lai, tư vấn đầu tư chứng khoán...

Cung cấp các sản phẩm đầu tư







Các sản phẩm đầu tư hiện nay đang phát triển rất mạnh, nhận thức của

khách hàng đối với thị trường tài chính ngày càng rõ ràng hơn, các CTCK

cũng nỗ lực tiếp thị sản phẩm hơn. Các CTCK có các dịch vụ yểm trợ to lớn

đối với thị trường, vì mỗi loại sản phẩm tài chính có những quy trình riêng

biệt và nhu cầu của khách hàng là đa dạng khác nhau.

Các nghiệp vụ của CTCK



1.1.4.



CTCK hoạt động theo các nguyên tắc bắt buộc như: giao dịch trung thực và

công bằng vì lợi ích của khách hàng, kinh doanh có kỹ năng, có tinh thần trách

nhiệm, ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước khi thực hiện lệnh của cơng

ty, đảm bảo nguồn tài chính trong cam kết chứng khoán với khách hàng.

Nghiệp vụ kinh doanh của CTCK thực hiện một, một số hoặc toàn bộ

nghiệp vụ kinh doanh bao gồm:

8



Chun đề thực tập

-



Mơi giới chứng khốn



-



Tự doanh chứng khoán



-



Bảo lãnh phát hành chứng khoán



-



Tư vấn đầu tư chứng khoán

CTCK chỉ được phép thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng

khoán khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh chứng khốn. Ngồi các nghiệp vụ

kinh doanh quy định trên, CTCK được cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính và

các dịch vụ tài chính khác.

1.1.4.1. Mơi giới chứng khốn

Mơi giới chứng khoán là việc CTCK làm trung gian thực hiện mua bán

chứng khoán cho khách hàng. CTCK nhận các lệnh mua, lệnh bán chứng

khoán của khách hàng, chuyển các lệnh đó vào Sở GDCK và hưởng hoa hồng

mơi giới. Nghiệp vụ mơi giới do đó còn được hiểu là làm đại diện, được ủy

quyền thay mặt khách hàng mua bán một hoặc một số loại chứng khoán.

1.1.4.2. Tự doanh chứng khoán

Tự doanh chứng khoán là việc CTCK sử dụng vốn kinh doanh của

mình để mua bán chứng khốn nhằm phục vụ mục đích đầu tư kinh doanh thu

lợi của chính mình. Đó là hoạt động mua đi bán lại chứng khoán nhằm thu

chênh lệch giá. Ở Việt Nam, theo Luật Chứng khốn ngày 29/06/2006 thì

nghiệp vụ tự doanh là việc CTCK mua bán chứng khốn cho chính mình.

Mục đích của hoạt động tự doanh là dự trữ đảm bảo khả năng thanh

toán, kinh doanh đầu tư, kinh doanh hùn vốn, can thiệp bảo vệ giá chứng

khoán, thu lợi từ chênh lệch giá.

Hoạt động tự doanh giúp làm tăng tính sơi động và tính thanh khoản

cho TTCK. Tuy nhiên CTCK có thể thao túng thị trường, thơng đồng với

nhau để làm giá chứng khoán, gây tổn hại cho các NĐT nhỏ.

1.1.4.3. Bảo lãnh phát hành chứng khoán

Bảo lãnh phát hành là việc tổ chức bảo lãnh cam kết với tổ chức phát

9



Chuyên đề thực tập

hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, nhận mua một

phần hay tồn bộ chứng khốn của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua số

chứng khốn còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành trong

việc phân phối chứng khốn ra cơng chúng.

Hoạt động bảo lãnh phát hành gồm:

Nghiên cứu và tư vấn cho tổ chức phát hành về các thủ tục và phương



-



pháp phát hành cơ cấu giá...

Thỏa thuận với các nhà bảo lãnh phát hành khác trong việc tiếp thị,



-



phân phối chứng khoán.

-



Quản lý phân phối và thanh tốn chứng khốn.



-



Thực hiện các cơng việc hỗ trợ cho thị trường và dịch vụ sau khi phát

hành.

Đại lý phân phối chứng khoán.



-



1.1.4.4. Tư vấn đầu tư chứng khoán

Tư vấn đầu tư chứng khoán là các hoạt động tư vấn liên quan đến chứng

khốn hoặc cơng bố và phát hành các báo cáo phân tích, đưa ra lời khun có

liên quan đến chứng khốn hoặc thực hiện một số cơng việc có tính chất dịch

vụ cho khách hàng. Tư vấn đầu tư bao gồm tư vấn mua bán chứng khoán, tạo

dựng danh mục đầu tư và quản trị điều hành tài sản đầu tư. Theo Luật Chứng

khoán của Việt Nam ban hành ngày 29/06/2006 thì tư vấn đầu tư chứng khoán

là việc CTCK cung cấp cho NĐT kết quả phân tích, cơng bố báo cáo phân

tích và khuyến nghị liên quan đến chứng khoán.

Nội dung tư vấn đầu tư chứng khoán bao gồm:

-



Tư vấn chiến lược và kỹ thuật giao dịch.



-



Cung cấp kết quả phân tích chứng khốn và TTCK.

Các nội dung này phải có cơ sở hợp lý và phù hợp dựa trên thông tin

đáng tin cậy, phân tích logic.

CTCK khơng được đảm bảo cho khách hàng kết quả đầu tư trừ trường

10



Chuyên đề thực tập

hợp đầu tư vào những sản phẩm đầu tư có thu nhập cố định, không được trực

tiếp hay gián tiếp bù đắp một phần hoặc toàn bộ các khoản thua lỗ của khách

hàng do đầu tư chứng khoán, trừ trường hợp việc thua lỗ của khách hàng là do

lỗi của CTCK, không được quyết định đầu tư thay cho khách hàng.

CTCK phải có trách nhiệm ngăn ngừa xung đột lợi ích liên quan đến tư

vấn đầu tư chứng khốn, phải cơng bố cho khách hàng biết trước về những

xung đột lợi ích có thể phát sinh giữa CTCK, người hành nghề chứng khoán

và khách hàng. CTCK, người hành nghề chứng khoán phải cơng bố lợi ích

của mình về chứng khốn mà mình sở hữu cho khách hàng đang được tư vấn

về chứng khốn đó.

Bên cạnh dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khốn các CTCK còn cung cấp

dịch vụ tư vấn tài chính doanh nghiệp. Dịch vụ này bao gồm:

Tư vấn tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp, thâu tóm, sáp nhập doanh



-



nghiệp, tư vấn quản trị công ty cổ phần.

-



Tư vấn phát hành, chào bán, niêm yết chứng khoán.



-



Tư vấn cổ phần hóa, xác định giá trị doanh nghiệp.



-



Tư vấn tài chính khác phù hợp quy định của pháp luật.

1.1.4.5. Các nghiệp vụ phụ trợ

1.1.4.5.1. Nghiệp vụ cho vay ứng trước tiền bán

Khách hàng có thể vay ứng trước số tiền bán chứng khốn ngay sau khi

có thơng báo khớp lệnh thay cho việc chờ tới ngày T+3. Mức phí nhỏ, thủ tục

đơn giản, nhanh chóng. CTCK sẽ đại diện cho khách hàng làm các thủ tục cần

thiết với ngân hàng.

1.1.4.5.2. Nghiệp vụ cho vay cầm cố chứng khốn

CTCK có thể cho vay cầm cố chứng khoán trên cơ sở đề nghị của khách

hàng. Đây là khách hàng có nhu cầu vay tiền dựa trên tài sản đảm bảo là

chứng khoán trên tài khoản. Họ sẽ đề nghị vay vốn cầm cố chứng khoán niêm

yết đang lưu ký tại CTCK. Trước tiên, họ làm thủ tục vay vốn, CTCK sẽ

11



Chuyên đề thực tập

phong tỏa chứng khoán được cầm cố, làm thủ tục cho vay cầm cố. Sau khi hồ

sơ vay được duyệt, CTCK sẽ thông báo cho Trung tâm lưu ký chứng khoán về

trường hợp cầm cố chứng khoán để vay tiền để Trung tâm làm thủ tục chuyển

chứng khoán sang tài khoản cầm cố. Nếu có nhu cầu, khách hàng có thể u

cầu bán số chứng khốn cầm cố, khoản tiền thu được từ việc bán chứng khoán

cầm cố sẽ được dùng để trả nợ và lãi vay, phần còn lại sẽ được trả về tài

khoản của khách hàng.

Tỷ lệ vay tính trên thị giá chứng khốn cầm cố do CTCK quy định.

1.1.4.5.3. Nghiệp vụ repo chứng khoán

Đây là nghiệp vụ bán chứng khoán cho CTCK và thỏa thuận sẽ mua lại

trong một kỳ hạn nhất định. Về bản chất, repo giống như một khoản vay có

đảm bảo bằng các chứng khoán.

1.1.4.5.4. Giao dịch ký quỹ

Giao dịch ký quỹ là việc mua chứng khốn mà NĐT chỉ cần có một số

tiền nhất định trong tổng số giá trị chứng khốn đặt mua, phần còn lại sẽ do

cơng ty mơi giới cho vay. Sau đó khi NĐT bán chứng khốn, công ty môi giới

sẽ thực hiện lệnh bán và thu về phần vốn cho vay, bao gồm cả vốn gốc và lãi.

1.1.4.5.5. Bán khống

Bán khống là việc bán chứng khoán không do người bán làm chủ, tức

là NĐT vay chứng khốn của cơng ty mơi giới để bán ra vào thời điểm giá

cao, sau đó sẽ mua chứng khốn khi giảm giá để trả lại cho CTCK.

1.1.4.5.6. Hợp tác đầu tư

CTCK sẽ cùng góp vốn với khách hàng để đầu tư một số mã chứng

khoán niêm yết theo sự lựa chọn của khách hàng và phù hợp với danh mục

hợp tác đầu tư chứng khoán niêm yết do CTCK cung cấp trong từng thời kỳ.

Tỷ lệ góp vốn của CTCK trong mỗi cơ hội đầu tư được điều chỉnh linh hoạt

trên cơ sở đáp ứng nhu cầu của khách hàng nhưng không vượt quá mức trần

quy định của công ty.

12



Chuyên đề thực tập

Trong kỳ hợp tác đầu tư, khách hàng được chủ động quyết định việc thực

hiện hoá lợi nhuận đối với chứng khoán hợp tác đầu tư. Khi chứng khoán

giảm giá, khách hàng sẽ được cảnh báo và yêu cầu nộp vốn bổ sung. Chỉ

trong một số trường hợp đặc biệt, CTCK sẽ quyết định thực hiện hoá lợi

nhuận thay khách hàng.

Lợi nhuận từ hoạt động hợp tác đầu tư trong kỳ sẽ được phân chia giữa

CTCK và khách hàng theo cơ chế hợp lý đảm bảo hiệu quả đầu tư cao cho

khách hàng.

1.2.



Nghiệp vụ mơi giới chứng khốn



1.2.1.



Khái niệm nghiệp vụ mơi giới chứng khốn

TTCK là loại thị trường đặc biệt, ở đó thực hiện trao đổi, mua bán các

loại chứng khốn, những hàng hóa này khác với các loại hàng hóa thơng

thường. Trên thị trường này có nhiều người tham gia, nhưng số lượng người

có khả năng phân tích và xác định được giá cả của chứng khốn còn hạn chế.

Ngun tắc trung gian trở thành một nguyên tắc hoạt động không thể thiếu

của TTCK. Nguyên tắc này đòi hỏi việc giao dịch, mua bán hàng hóa trên thị

trường phải thực hiện qua các tổ chức, cá nhân làm trung gian, đó là CTCK và

nhân viên mơi giới, người hành nghề mơi giới chứng khốn. Trong q trình

phát triển của thị trường, với tư cách làm trung gian mơi giới, người mơi giới

thúc đẩy q trình lưu thơng hàng hóa bằng cách rút ngắn khoảng thời gian

tìm kiếm và gặp gỡ giữa người mua và người bán, đặc biệt đối với loại hàng

hóa mà người có nhu cầu mua khơng dễ gặp người có nhu cầu bán. Nghề mơi

giới chứng khốn trên TTCK được hình thành trong mối quan hệ hữu cơ qua

lại giữa nhân viên môi giới với các CTCK và chính mối quan hệ tương quan

này lại tác động đến sự vận hành và phát triển của TTCK.

Theo Luật Chứng khoán ngày 29/06/2006: “Nghiệp vụ mơi giới chứng

khốn là việc cơng ty chứng khốn làm trung gian thực hiện mua, bán chứng

khoán cho khách hàng.”

13



Chuyên đề thực tập

Như vậy:

Quyết định mua bán là do khách hàng đưa ra và CTCK phải thực hiện



-



theo lệnh đó.

CTCK đứng tên mình thực hiện các giao dịch theo lệnh của khách



-



hàng.

Việc hạch toán giao dịch phải được thực hiện trên các khoản thuộc sở



-



hữu của khách hàng.

CTCK chỉ được thu phí dịch vụ theo thỏa thuận trong hợp đồng ủy thác



-



giao dịch.

Phân loại nhà mơi giới chứng khốn



1.2.2.



Nhà mơi giới được ủy thác



1.2.2.1.



Hầu hết các thành viên của Sở GDCK là các bên góp vốn, hoặc là cổ

đơng có quyền bỏ phiếu và ủy viên hội đồng quản trị trong một CTCK.

CTCK, hay còn gọi là Cơng ty được ủy thác, được tính và thu của khách hàng

một tỷ lệ phí nhất định khi cung cấp dịch vụ. Người môi giới của công ty

thực hiện lệnh cho khách hàng trên sàn giao dịch của Sở GDCK được gọi là

nhà “môi giới thừa hành” hay “ môi giới tại sàn giao dịch”.

Môi giới độc lập



1.2.2.2.



Ở Mỹ, môi giới độc lập hay còn gọi là mơi giới hai đơ-la là thành viên

của Sở và không thuộc một CTCK nào. Môi giới hai đơ-la có thể sở hữu

hoặc th chỗ trên Sở. Mơi giới này có thể thực hiện lệnh cho tất cả

CTCK thuê họ. Trường hợp người môi giới của CTCK khơng có khả

năng thực hiện các lệnh giao dịch của mình hoặc vắng mặt trên sàn giao

dịch, họ có thể chuyển một số lệnh cho nhà môi giới độc lập. CTCK sẽ

trả cho nhà môi giới độc lập một khoản phí cung cấp dịch vụ.

1.2.2.3. Người GDCK có đăng ký

Ở Mỹ, một số người mua chỗ trên Sở GDCK chỉ nhằm mục đích mua,

14



Chun đề thực tập

bán chứng khốn cho chính họ. Những người đó được gọi là “người GDCK

có đăng ký”. Thơng thường “người GDCK có đăng ký” khơng thuộc một

CTCK nào.

1.2.2.4. Chuyên gia môi giới

Tại Mỹ, mỗi chứng khốn niêm yết trên Sở GDCK chỉ được bn bán

trên các quầy nhất định trên sàn giao dịch. Trong mỗi quầy giao dịch có một

số chun gia mơi giới. Mỗi chuyên gia môi giới được HĐQT của Sở GDCK

phân công vào một quầy giao dịch nhất định và thực hiện các giao dịch mua

bán chứng khoán đã được HĐQT của Sở phân công. Chuyên gia môi giới

thực hiện hai chức năng chủ yếu là thực hiện lệnh và tạo lập thị trường.

Các lệnh giao dịch giao cho chuyên gia môi giới thực hiện thường là

các lệnh giới hạn về giá. Khi đó chun gia mơi giới đóng vai trò như một

người mơi giới và nhận được các khoản phí thơng thường.

Tạo lập thị trường tức là các chuyên gia môi giới hỗ trợ duy trì một thị

trường ổn định có trật tự đối với các loại cổ phiếu được phân công tạo lập

giao dịch. Trong trường hợp một loại cổ phiếu có độ chênh lệch lớn giữa giá

mua và giá bán, chuyên gia môi giới sẽ chào bán hoặc chào mua cổ phiếu này

cho chính mình với giá ở giữa các mức giá trên. Bằng cách đó chun gia mơi

giới đã thu hẹp chênh lệch giá mua và giá bán cổ phiếu đó. Trong trường hợp

này chun gia mơi giới hoạt động với tư cách một nhà giao dịch.

1.2.2.5. Môi giới trái phiếu

Môi giới trái phiếu là những người môi giới tại quầy giao dịch trái

phiếu. Người môi giới trái phiếu thường là người môi giới thừa hành hoặc là

người mơi giới độc lập.



Vai trò của nghiệp vụ mơi giới chứng khốn



1.2.3.

1.2.3.1.



Vai trò trung gian huy động vốn, tham gia tạo kênh huy động vốn hiệu quả

15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×