Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chỉ đạo hệ thống giáo dục

Chỉ đạo hệ thống giáo dục

Tải bản đầy đủ - 0trang

GVHD: TS. Dương Minh Quang



Thực hiện: Nhóm 11 – NVSP K34



công khai tài trợ. TEC chịu trách nhiệm cho việc đánh giá hồ sơ, nếu cần thiết đề xuất, thảo

luận về những thay đổi trong hồ sơ. TEC sẽ phê duyệt hồ sơ - qua đó cung cấp tiếp cận nguồn

vốn. Hồ sơ cá nhân đóng góp cho một bản đồ chi tiết hơn về các lĩnh vực giáo dục đại học và

thiết lập giám sát thích hợp hơn, báo cáo và trách nhiệm giải trình đối với các tổ chức công

khai tài trợ.

TEC sử dụng đánh giá về sự phù hợp chiến lược của các khóa học và trình độ chuyên

môn để xác định Ts đạt được sự chấp thuận cho tiếp cận nguồn vốn nào hoặc theo đuổi các

sáng kiến cụ thể. Đánh giá của TEC bổ sung đảm bảo chất lượng và các yêu cầu giám sát và

trách nhiệm thực hiện thành lập thông qua hồ sơ.

TEOs báo cáo về việc thực hiện và tài chính chỉ tiêu đề ra trong hồ sơ của họ trong một

tuyên bố hàng năm của Performance Service. TEC, NZQA và Bộ GD cũng thực hiện một loạt

các hoạt động giám sát khác.



 Kinh phí của hệ thống giáo dục

Hệ thống giáo dục đại học có một khn khổ tài trợ tích hợp. Khung này được thiết kế để

bổ sung cho các cuộc cải cách giáo dục đại học và các TES. Mục đích của nó là để phân phối

tài ngun và chỉ đạo hệ thống giáo dục đại học, trong khi cung cấp Teos với sự linh hoạt để

hoạt động một cách đáp ứng và sáng tạo. Có ba yếu tố chính:

-



Tài trợ cho việc giảng dạy và học tập của sinh viên trong nước

Tài trợ cho nghiên cứu,

Tài trợ chiến lược để giúp Teos sắp xếp dịch vụ của họ với TES.

Khung thiết kế có những đặc điểm chung sau đây:



-



Kinh phí được giao để Teos và ITOs như một khoản trợ cấp với số lượng lớn

Khơng có kinh phí được giao cho đến khi TEC chấp thuận một phần hoặc tồn bộ hồ sơ

của TEO cho mục đích tài trợ

Theo thời gian, khuôn khổ tài trợ sẽ được chuyển đến liên kết lớn hơn với các mục tiêu



của các hiến lược.

Trong khi đó để cho chính quyền thiết lập tổng số tiền tài trợ dành cho giáo dục đại học

và để xác định các chính sách tài trợ rộng, TEC chịu trách nhiệm thiết lập quy chế hoạt động

tài trợ và phân bổ kinh phí cho TEOs.

Tổng chi tiêu của chính phủ về giáo dục đại học trong năm tài chính 2004/05, bao gồm

cả chi phí hoạt động tương đương với 2,5% tổng sản phẩm quốc dân. Trong số này, hai khoản



mục chi phí lớn nhất là cho việc giảng dạy và học tập với $ 1.9 tỷ và nguồn vốn cho sinh viên

vay là $ 1.0 tỷ. Năm 2004 ngành cơng nghiệp đóng góp 47 triệu $ cho đào tạo trong ngành

cơng nghiệp trong khi chính phủ đóng góp $ 125 triệu.



 Giám sát của hệ thống giáo dục

Bộ Giáo Dục chịu trách nhiệm giám sát và đánh giá các TES. Theo dõi đánh giá chiến

lược hàng năm sẽ đo lường sự tiến bộ của ngành giáo dục đại học thông qua đo lường các

kết quả được thưc hiện trong TES, bằng cách sử dụng các chỉ số đo lường khác nhau. Mỗi

TE cũng sẽ được đánh giá với một tập trung vào việc xác định giá trị, công đức, giá trị và

tầm quan trọng của chiến lược. Việc đánh giá các TES hiện tại và đầu tiên đã bắt đầu được

thực hiện.

Việc giám sát đã cung cấp cho chính phủ thơng tin về tiến độ thực hiện của TES, của các

ngành và các ban với một bối cảnh rộng lớn hơn cho q trình phát triển chính sách và quy

hoạch ngành và các bên liên quan với sự hiểu biết về đóng góp của ngành đạt được mục tiêu

quốc gia.

Hình 2. trình bày một sơ đồ thiết kế cải cách đại học của New Zealand



GVHD: TS. Dương Minh Quang



1.5



Thực hiện: Nhóm 11 – NVSP K34



Cục quản lý chất lượng văn bằng New Zealand (NZQA)

NZQA duy trì một cái nhìn tổng quan về yêu cầu cho giáo dục và đào tạo bắt buộc và



không bắt buộc thông qua hệ thống Đăng Ký Trình Độ chất Đảm Bảo Chất Lượng của New

Zealand ("Hệ thống Đăng ") cung cấp một danh sách đầy đủ của tất cả các trình độ đảm bảo

chất lượng tại New Zealand. Mục đích chính của NZQA là:

- Để xác định rõ tất cả các trình độ đảm bảo chất lượng tại New Zealand;



- Để đảm bảo rằng tất cả các bằng cấp có mục đích và mối liên hệ với nhau mà sinh viên và

công chúng có thể hiểu được;

- Để duy trì và tăng cường khả năng chuyển đổi tín chỉ cho người học để thơng qua việc

thành lập một hệ thống tín chỉ chung;

- Để tăng cường và xây dựng lên sự công nhận của quốc tế về trình độ giáo dục của New

Zealand.

Đăng ký đại học có mười cấp bao gồm những yêu cầu đã được đăng ký phù hợp với các

chức năng của nó. Cấp độ 1 là ít phức tạp nhất và cấp độ10 là phức tạp nhất. Mức độ phụ

thuộc vào sự phức tạp của việc học. Chúng không đồng nghĩa với 'số năm học' nhưng phản

ánh nội dung của trình độ chun mơn. Hình 2.3 cho thấy cấp độ của Đăng Ký liên quan thế

nào đến các cấp trong hệ thống giáo dục New Zealand.



Trong những năm gần đây phạm vi yêu cầu của ban giáo dục đã gia tăng đáng kể, và

sự đa dạng về yêu cầu của việc Đăng ký cũng phản ánh những phát triển cho ngành công

nghiệp mới hoặc đang phát triển cũng như sự tăng trưởng trong những thiết kế để phát triển

năng lực chung mà có thể được áp dụng trong một loạt các thay đổi. Trong năm 2003 có

6.800 yêu cầu cho đảm bảo chất lượng chuyên môn cho việc đăng ký, trong đó có khoảng 2/3

là ở cấp giấy chứng nhận, 12% ở cấp bằng tốt nghiệp, 12% ở mức độ cử nhân và 10% ở cấp

độ sau đại học.



GVHD: TS. Dương Minh Quang

1.6



Thực hiện: Nhóm 11 – NVSP K34



Những thay đổi lớn trong giáo dục đại học trong những năm qua tại New Zealand

Bối cảnh hiện tại của hệ thống giáo dục của New Zealand cần phải được xem xét trong



suốt quá trình 2 thập kỉ. Trong mười năm qua đã chứng kiến hệ thống giáo dục đại học New

Zealand di chuyển từ một hệ thống phân cấp, tự quản lý, tập trung vào nhu cầu và cạnh tranh

lẫn nhau với những hàng rào thể chế vơ hình, đang hướng tới một mạng lưới cung cấp liên kết

và hợp tác lẫn nhau nhiều hơn, phù hợp với mục tiêu phát triển trọng điểm quốc gia, như nêu

trong TES.

Trong thời gian này đã có những điều chỉnh lớn đối với tất cả các quy định và đòn bẩy

nguồn lực. Các mơ hình mới, như mơ tả trong hình 3 nêu trên, đòi hỏi nhiều hơn các mối quan

hệ và tương tác phức tạp và tinh vi hơn nhiều giữa các cơ quan chính phủ, trong chính bản

thân các ngành giáo dục và giữa các ngành giáo dục với nhau, và tương tác giữa giáo dục đại

học và các lĩnh vực khác thuộc về chính sách kinh tế, xã hội và giữa chính phủ và các ngành.

Hệ thống tập trung vào nhu cầu của những năm 1990 đã đáp ứng được những sự lựa chọn

của sinh viên và nhu cầu của cộng đồng và nó đã góp phần đẩy mạnh sự phát triển đáng kể

của sự tham gia, đổi mới và một nền dân số có trình độ tốt hơn. Tuy nhiên trong giai đoạn

cơng nghệ thay đổi nhanh chóng và kinh tế bấp bênh không ổn định, người ta đã nhận thức

được rằng việc thiếu định hướng và can thiệp vào giáo dục của chính phủ trung ương có thể

đặt sự phát triển kinh tế của New Zealand vào tình trạng rủi ro cao. Đồng thời, trong những

năm 90s, nhận thức về sự cần thiết của chất lượng của việc cung cấp và nghiên cứu xuất sắc.

Ở một mức độ thể chế, TEOs vận hành giống như các doanh nghiệp và cạnh tranh trong việc

tuyển sinh. Có những làn ranh trong những đặc điểm đặc trưng của các loại hình khác nhau

của các tổ chức, với các trường cao đẳng và ITPS cấp bằng đại học và bằng sau đại học trong

khi một số trường đại học mở rộng phạm vi cấp chứng chỉ và văn bằng. Mặc cho tốc độ tăng

trưởng trong tuyển sinh, một số tổ chức đã khơng xây dựng tiềm lực tài chính cho riêng họ.

Các cải cách quan trọng nhất của ngành trong mười năm qua đạt được là nhờ vào kết quả

của những đóng góp của Ủy ban Tư vấn Giáo dục đại học (TEAC), được thành lập bởi chính

phủ trong năm 2000 để cung cấp lời khuyên về định hướng chiến lược dài hạn cho các ngành

đại học. Những cải cách mà kết quả tìm kiếm để thay đổi ngành giáo dục đại học vào một môi

trường chiến lược kết nối với các mục tiêu kinh tế xã hội và quốc gia của chính phủ.

Một số bộ phận của ngành đã nhận xét rằng sự quản lý thay đổi và điều chỉnh vốn được

yêu cầu bởi các ngành và các cơ quan đã bị đánh giá thấp và rằng việc thực hiện những cải

cách hiện nay đã bị ảnh hưởng bởi những thứ còn “treo” của cải cách trước đó. Đặc biệt,



những tác động của những thay đổi được thực hiện trong 1998/9 để tài trợ cho PTEs trên cơ

sở tương tự như TEIs và để loại bỏ các giới hạn về số lượng các địa chỉ được tài trợ đã làm

thay đổi độ nhạy bén của hệ thống một cách cơ bản; trước đây đã từng rất khó khăn để tách

các tác động của những thay đổi các cuộc cải cách hiện nay.

Những tính năng đáng chú ý của hệ thống giáo dục đại học của New Zealand trong mười

năm qua bao gồm:

-



Sự tăng trưởng đáng kể trong việc tham gia vào hệ thống giáo dục đại học;



-



Sự tăng trưởng trong sự đóng góp của khối tư nhân cho chi phí giáo dục đại học;



-



Việc giỡ bỏ các ranh giới thể chế khi một số TEOs tìm cách mở rộng hoạt động của

họ ra ngồi vai trò truyền thống;



-



Sự chú trọng vào việc giải quyết các vấn đề giáo dục cho người Maori;



-



Liên kết cung cấp giáo dục với nhu cầu của doanh nghiệp thông qua các ngành đào

tạo công nghiệp chiến lược



-



Sự phát triển của giáo dục quốc tế, mà bây giờ đã trở thành một ngành công nghiệp

xuất khẩu quan trọng;



-



Sự phát triển của yêu cầu về Đăng ký của New Zeland về Năng Lực Đảm Bảo Chất

Lượng đã tạo ra các kết quả tìm kiếm trong mỗi trình độ và thiết lập một cách phổ

biến để mơ tả trình độ, do đó tạo điều kiện cho các con đường và chuyển đổi tín chỉ;



-



Sự ra đời của TES và tác động của nó đối với nền văn hóa và chỉ đạo của ngành;



-



Việc thành lập Ủy ban Giáo dục đại học;



-



Các yêu cầu mới tại nơi làm việc cho các cấp cao hơn về kỹ năng, dẫn đến phát triển

của một số sinh viên ;



-



Quản lý sự phát triển của ngành; và sự phát triển của chính phủ đầu tư vào giáo dục

đại học, cả trong việc tài trợ cho TEOs và hỗ trợ sinh viên



1.7 Những chú trọng trong tương lai

Chính sách của TES là sẽ tiếp tục ưu tiên cho phát triển mảng giáo dục đại học. Những

bằng chứng về sự giám sát TES hiện tại cho thấy rằng TES đã có tác động về tư duy trong

lĩnh vực này nhưng vẫn có một số cách khác để đạt được những thay đổi dự kiến.

Thêm vào đó, trong hai năm qua người ta đã tăng sự tập trung vào "giá trị của đồng tiền"

và các nhà chức trách đã chú trọng phối hợp tiếp cận lẫn nhau để đạt được mục tiêu này. Việc

chú trọng này được thấy qua những quan tâm cho các lĩnh vực sau:

-



Tiếp cận nghiêm ngặt hơn tới chất lượng cung cấp;



GVHD: TS. Dương Minh Quang



Thực hiện: Nhóm 11 – NVSP K34



-



Tiếp cận nghiêm ngặt hơn sự cần thiết của nguồn cung;



-



Những thay đổi trong mơ hình tài trợ để cải thiện sự cân bằng giữa chất lượng, sự

cần thiết và tiếp cận, đồng thời đảm bảo khả năng dự báo và duy trì nguồn tài chính;



-



Một mạng lưới tổng thể hiệu quả hơn trong việc cung cấp giáo dục đại học và nghiên

cứu;



-



Một cách tiếp cận kết nối hơn các ngành với nhau.

Phần 2: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM



2.1 Về hoạt động quản lý:





Cần đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường thanh tra, kiểm tra, kiểm định chất

lượng và giám sát các hoạt động giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.







Cần phân định rõ các loại hình giáo dục dựa theo mục đích và thiết lập chung một

phương pháp quản lý cho từng loại hình, tránh một loại hình mà có nhiều phương

thức quản lý khác nhau.







Phân cấp quản lý chưa hiệu quả, rõ ràng, thiếu tính ràng buộc về trách nhiệm.







Để phát triển giáo dục Việt Nam cần xây dựng hệ thống quản lý giáo dục đạt tiêu

chuẩn quốc tế. Hệ thống này có thể giao cho tổ chức nước ngồi quản lý.



2.2 Về chương trình đào tạo và hình thức đánh giá:





Cần chuyển đổi cơ chế đào tạo theo khả năng sang cơ chế đào tạo theo nhu cầu xã hội

nhằm tăng khả năng cạnh tranh cho sinh viên sau tốt nghiệp cũng như hạn chế thất

nghiệp.







Thực hiện tốt đào tạo theo học chế tín chỉ trong hệ thống giáo dục đại học để tạo

thêm cơ hội lựa chọn cho người học cũng như đa dạng hóa hoạt động đào tạo của nhà

trường.







Cần cập nhật nội dung đào tạo theo sự biến đổi mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và thị

trường.







Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy và học, khắc phục lối truyền thụ một chiều. Phát

huy phương pháp học tích cực, sáng tạo. Tăng tính tự giác học cũng như nghiên cứu

cho sinh viên; gắn lý thuyết với thực hành.







Ở Việt Nam thực hiện cải cách thường xuyên, đặc biệt trong giáo dục phổ thông

nhưng không hiệu quả do không đồng bộ, thống nhất.







Ở NZ áp dụng QH chiến lược bằng cách đầu tư phát triển theo mục tiêu ở từng cấp

độ.



2.3 Về cơ sở vật chất:





Cần cải thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phù hợp với phương pháp dạy và học đổi

mới nhằm hỗ trợ tối đa việc học cho sinh viên.



2.4 Về mạng lưới giáo dục:





Cần hạn chế các trường không đạt chuẩn về đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, trang

thiết bị cũng như đầu vào của sinh viên bằng cách sáp nhập hay chuyển đổi loại hình

hay bậc học để nâng cao hiệu suất đào tạo.







Đẩy mạnh công tác phát triển đội ngũ giảng viên nhằm nâng cao chất lượng đào tạo.



2.5 Về cơ chế tài chính





Điều chỉnh phân bổ kinh phí cho các cơ sở giáo dục công khai, minh bạch và hợp lý.

Sử dụng cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước như một công cụ để điều tiết hiệu quả cơ

cấu ngành đào tạo trong giáo dục đại học.







Cần học tập New Zealand trong việc thu hút nguồn đầu tư nước ngoải cho giáo dục

đại học.



TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. OECD THEMATIC REVIEW OF TERTIARY EDUCATION (January 2006), The New

Zeland Ministry of Education chương II Overall Description of the tertiary educatuon

system

2. Tổng quan hệ thống giáo dục của New Zeland (4/2004), International Policy and

Development Unit, Ministry of Education, New Zeland



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chỉ đạo hệ thống giáo dục

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×