Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Quan niệm về bản thể luận trong triết học phương Đông

Quan niệm về bản thể luận trong triết học phương Đông

Tải bản đầy đủ - 0trang

là khởi nguồn sinh diệt của thế giới. Điểm đặc biệt của học thuyết này thể hiện ở

chỗ nó khơng chỉ giải thích một cách hợp lý sự tồn tại, phát triển và diệt vong

của các hiện trượng trong tự nhiên mà còn có thể dùng nó để giải thích một các

thuyết phục các vấn đề trong xã hội. Đây chính mốc lịch sử đánh dấu sự phát

triển sơ khai của tư duy kho học người Trung Quốc cổ đại nhằm thoát khỏi sự

chi phối của các tư tưởng duy tâm tôn giáo.

Quan niệm của các triết gia:

Quan điểm về Đạo của Lão tử là quan điểm tiêu biểu của người Trung

Quốc cổ đại về bản thể luận. Theo Lão tử, “Đạo” là cái có trước trời đất, trống

khơng và lặng yên nhưng lại có ở mọi nơi, là nguồn gốc của vạn vật. Nó là sự

thống nhất của thế giới, là bản nguyên sâu kín, huyền diệu mà từ đó vạn vật có

danh tính, có hình thể được sinh ra. Đạo là thực thể vật chất của khối “hỗn độn”,

“mập mờ”, “thấp thống” khơng có đặc tính, khơng có hình thể, nhìn khơng nhìn

thấy, nghe khơng nghe thấy, bắt khơng bắt đươc, chẳng thể gọi tên. Nó tồn tại

bất luận con người có nhận thức được hay khơng 3. Qua những quan điểm về

bản thể luận trong khái niệm “Đạo”, ta có thể thấy những quan niệm biện chứng

đầy tinh tế và bí hiểm của người phương Đơng.

Quan điểm của phái Nho gia chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử

tư tưởng Trung Quốc, có ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống mọi mặt của xã hội

Trung Quốc suốt hơn hai nghìn năm lịch sử, cũng như tác động đến Việt Nam và

một số nước Đông Á khác. Nho giáo chứa đựng những tư tưởng biện chứng sâu

sắc về mối liên hệ, về vận động, về quy luật với mục tiêu là xây dựng những cơ

sở lý luận cho các quan điểm chính trị, đạo đức và xã hội và con người nên lại

đưa ra những quan niệm khác khi lý giải về bản nguyên của tồn tại. Theo Mạnh

Tử “Tâm” là cái chủ thể trong mỗi con người, là cái thần linh có đủ mọi lý và

trời phú cho con người để hiểu biết, ứng đối với vạn vật, vạn sự. Tâm có quan hệ

với Tính, đem tâm tính đấy là ứng xử với vạn vật được gọi là Tình. Tâm - Lương

Tri - Lương năng là cơ sở để xây dựng luân lý đạo đức, nó là cái tự nhiên có ở

con người chứ khơng phải qua học tập, là cái vĩnh viễn không thay đổi, do vậy

con người cần “ phản tỉnh” để hành xử cho hợp lễ nghĩa.



1.2. Quan niệm của triết học Ấn Độ cổ trung đại về bản thể luận

Tri thức và văn hóa Ấn Độ truyền thống hết sức đa dạng, phong phú và có

những yếu tố phỏng đốn vượt thời gian. Nét đặc biệt trong văn hóa Ấn Độ là

mang dấu ấn sâu đạm về mặt tín ngưỡng, tơn giáo và tâm linh, với nhiều yếu tố

thần bí. Những kiến thức và văn hóa đó đã trở thành những chất liệu trực tiếp

cho sự xuất hiện các trường phái triết học ở Ấn Độ thời cổ đại. Các nhà triết học

ở Ấn Độ cho rằng bản thể của thế giới chính là các vị thần có tính chất tự nhiên,

vũ trụ tồn tại ba thế lực có liên hệ mật thiết với nhau là thiên giới, trần thế và địa

ngục. Sớm nhất là trong khoảng thế kỷ VIII - VI trước Công Nguyên, bộ kinh

Upanisad đã cho rằng bản nguyên tối cao bất diệt của thế giới là “tinh thần vũ

trụ tối cao” Brahman, đó là thực thể duy nhất, có trước, tồn tại vĩnh viễn, bất

diệt, là cái từ đó tất cả thế giới đều nảy sinh ra và nhập về nó sau khi chết. Ngồi

ra có nhiều các trường phái khác nhau như phái Samkhya, trường phái Nyaya

Vaisesika và Phật giáo.

Phái Samkhya có tư tưởng rất cổ và ảnh hưởng rất lớn. Tuy nhiên, nó có

tinh thần duy vật, phủ nhận sự tồn tại của Brahman và thần. Phái Samkhya cho

rằng thế giới là thế giới vật chất và nó tồn tại và vận động theo quy luật nhân

quả, kết quả đã tồn tại trong nguyên nhân trước khi nó xuất hiện. Quan niệm về

bản thể bắt đầu từ nguyên nhân.

Phái Nyaya - Vaisesika quan niệm bản nguyên duy nhất, đầu tiên của thế

giới là những hạt vật chất không đồng nhất, bất biến, vĩnh hằng được phân biệt ở

chất lượng, khối lượng và hình dạng, tồn tại trong một môi trường đặc biệt được

gọi là Anu (nguyên tử).

Phái Lokayata quan niệm bản nguyên của tồn tại được hình thành từ bốn

yếu tố: đất, nước, lửa, khơng khí. Những yếu tố này có khả năng tự tồn tại, tự

vận động trong không gian và cấu thành vạn vật. Thế giới xung quanh ta đa

dạng chính là do sự kết hợp khác nhau của các yếu tổ bản ngun đó.

Phật giáo là một tơn giáo mang tư tưởng giải thoát chúng sinh ra khỏi nỗi

khổ cuộc đời. Phật cho rằng bản nguyên của thế giới chính là “Tâm”. “Tâm” ban

đầu vốn tròn đầy, chưa xao động, giống như mặt nước, khi gió thổi (vọng tâm



sinh khởi) mà tạo ra song to, sóng nhỏ, bọt hay bong bóng khác nhau. Gió

ngừng thổi thì mặt nước trở lại n lặng. Vậy “tâm” ban đầu khơng thay đổi, khi

có tác động từ bên ngồi, có sự tiếp xúc “lục căn” (sáu giác quan) và lục trần

(thế giới khách quan) thì mới làm “tâm” xao động sinh ra “tham”, “sân”, “si”.

Khi vượt qua được “tham, sân, si” tức là con người đã được giác ngộ, được giải

thoát, trở về cái “tâm”ban đầu thanh tịnh. Một khái niệm khác của Phật giáo khi

đề cập đến vấn đề bản thể luận là “không”. Và trog kinh Phật có cụm từ “sắc sắc

khơng khơng” để nói về sự vơ thường của cuộc sống. Vạn vật tự sinh tự diệt,

chuyển biến không ngừng trong từng phút giây.

2. Quan niệm về bản thể luận trong triết học phương Tây.

Trong khi phương Đông lấy xã hội, con ngời cá nhân làm gốc để nhìn nhận

xung quanh, đối tượng của triết học phương Đông chủ yếu là xã hội, chính trị, đạo

đức, tâm linh nên xu hướng là hướng nội. lấy trong để giải thích ngồi thì triết học

phương Tây lại có đối tượng rất rộng ơm tồn bộ tự nhiên, xã hội tư duy mà gốc

là tự nhiên, lấy ngoại để giải thích trong theo xu hướng nổi trội là duy vật. Khái

niệm “bản thể luận” được xuất hiện ở thế kỷ XVII tại phwong Tây. Khái niệm này

liên hệ mật thiết và hữu cơ với quá trình hình thành triết học phương Tây tới mức

chính nó, chính sự lý giải về nó đã tạo thành bản chất của phương pháp tư duy

trieetgs học Tây Âu. Trong mỗi thời kỳ, triết học Phương Tây lại có những nhà

triết học tiêu biểu với nhiều quan niệm về “bản thể luận” khác nhau, điều đó đã

tạo nên một bức tranh đầy màu sắc về triết học phương Tây.

2.1. Quan niệm của triết học Hy lạp cổ đại

Thời kỳ này các nhà triết học cũng chính là các nhà khoa học, chính vì

vậy quan niệm về bản thể luận của những nhà triết học thời này rất phong phú,

mang đậm dấu ấn cùng những ngành khoa học họ nghiên cứu.

Ta-let (624-547 TCN) cố gắng đi tìm một nguồn gốc chung, một thực thể

chung làm cơ sở của mọi vật. Đối với ơng, thực thể đó chính là nước.

Trong cơng cuộc đi tìm cách xây dựng “bản thể luận mới”, chúng ta phải

kể đến Pi-ta-go (571-497 TCN). Ông vừa là nhà triết học vừa là nhà tốn học.

Ơng cho rằng bản ngun thể giới là những con số. Con số là lực lượng chi phối



toàn bộ thế giới theo một quy luật nhất định. Vì vậy, con số khơng chỉ là bản

ngun của tồn bộ sự vật mà còn là cơ sở của hiện tượng tinh thần. Con số tồn

tại vĩnh viễn nên linh hồn cũng bất tử. Nó chỉ chuyển từ dạng này sang dạng

khác. Tuy nhiên, uy luật toán học chỉ là một loại quy luật, ngồi ra còn rất nhiều

những quy luật khác.

Hê-ra-clit (khoảng 530 - 470 TCN) được coi là đại biểu vĩ đại nhất của chủ

nghĩa duy vật và phép biện chứng. Ông quan niệm về bản thể luận của thế giới là

lửa. Lửa là nguồn gốc của mọi sự trong vũ trụ, là cơ sở của linh hồn con người.

Theo ông, cả vũ trụ là một ngọn lửa vĩnh hằng, khồng không bùng cháy và tàn lụi.

Lửa trao đổi với tất cả và tất cả trao đổi với lửa. Cũng như chúng ta đổi hàng hóa

vấy vàng và vàng thành hàng hóa.

Đê-mơ-crit (460-370TCN) đã tiếp tục con đường phân tích những cấu trúc

của tồn tại, trong quan hệ của nó với nguyên tử. Theo Đê - mô - crits, cơ sở của

thế giới vật chất là nguyên tử. Nguyên tử là các hạt vật chất nhỏ, không thể phân

chia được và tồn tại vĩnh viễn. Tuy nhiên, các nguyên tử khác nhau về hình thức,

trật tự và tư thế. Nguyên tử không những vô hạn về số lượng mà còn vơ hạn về

hình thức. Các ngun tử không kết hợp với nhau tùy tiên, ngẫu nhiên mà theo

trật tự nhất định. Sở dĩ các sự vật của thế giới khác nhau là do cấu tạo của

nguyên tử khác nhau lại được sắp xếp theo những trật tự khác nhau và đặc biệt

là ở những tư thế khác nhau.

Khác với Đê-mô-crit, Platon chia thế giới thành 2 bộ phận: thế giới của

những ý niệm và thế giới của những sự vật cảm tính. Thế giới của những sự vật

cảm tính là thế giới tồn tại khơng chân thực và thường xuyên biến đổi phụ thuộc

vào thế giới của những ý niệm, nó là cái bóng của ý niệm, do các ý niệm sản

sinh ra. Ông cũng kế thừa quan điểm của Pi-ta-go về những con số. Theo ông,

sự tồn tại cảu thế giới các ý niệm thông qua các quan hệ tỷ lệ toán học tác động

vào vật chất tạo ra thế giới các sự vật cảm tính. Chỉ có ý niệm mới tồn tại chân

thực, mới là đối tượng của nhận thức chân lý, còn có sự vật cảm tính chỉ là kết

quả của sự bắt chước ý niệm4.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Quan niệm về bản thể luận trong triết học phương Đông

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×