Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
VÀ Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN

VÀ Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Quan niệm vật chất:

Vật chất, với tư cách là phạm trù cơ bản của triết học, ngay từ khi mới ra

đời đã được các nhà triết học quan tâm giải quyết. Phát triển quan niệm của Mác

và Ăng-ghen, Lênin đã đưa ra định nghĩa về vật chất: “Vật chất là một phạm trù

triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho cong người trong

cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại

không lệ thuộc vào cảm giác”5. Định nghĩa trên đã có ý nghĩa to lớn khi Lênin

đã làm rõ: Với tư cách là thực tại khách quan, vật chất không tồn tại phụ thuộc

vào ý thức con người, kiên định và triệt để uan niệm nhất nguyên của chủ nghĩa

duy vật, không thể quy v ật chất nói chung về vật thể, khơng thể đồng nhất vật

chất với những dạng cụ thể của cật chất như các nhà duy vật cổ đại. Thứ hai,

Lênin đã chỉ ra vật chất có thể được ý thức phản ánh, khẳng định được năng lực

nhận thức của con người, vạch ra đường ranh giới với thuyết bất khả tri. Thứ ba,

trong nhận thức luận, khi vật chất đối lập với ý thức, đặc tính duy nhất để nhận

biết vật chất là tính thực tại khách quan.Vậy, Lênin đã đưa ra được phương pháp

định nghĩa mới, mang tính trừu tượng hóa, khái quát hóa cao. Định nghĩa này là

một dấu mốc lớn, bác bỏ thuyết không thể biết, khắc phục những sai lầm, hạn

chế trong quan điểm duy tâm, siêu hình về vật chất. Bên cạnh đó, quan niệm này

cũng đã khắc phục được cuộc khủng hoảng về thế giới quan trong vật lý học,

định hướng cho sự phát triển của khoa học cụ thể. Cho đến bây giờ và mai sau,

khoa học không thể bác bỏ được định nghĩa của Lênin về vật chất. Theo

Ph.Ăng-ghen: “Vận động là phương thức tồn tại của vật chất”. Nghĩa là, vật chất

chỉ tồn tại bằng cách vận động, thông qua vận động mà biểu hiện sự tồn tại của

mình. Khơng thể có vật chát không vận động, thông qua vận động mà bộc lộ đặc

điểm, tính chất, kết cấu của nó và từ đó, con người có thể nhận thức được bản

chất, quy luật của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan. Mang tính kế

thừa, Mác-Lênin khẳng định vật chất gắn liền với vận động, nhưng trong q

trình vận động khơng ngừng đó vẫn bao hàm cả hiện tượng đứng im. Tuy nhiên,

đứng im chỉ là tương đối khi nó biểu hiện sự vận động trong thăng bằng, trong

sự ổn định tương đối về vật chất hoặc nó chỉ xảy ra khi đặt nó trong một mối



quan hệ xác định chứ khơng phải trong mọi quan hệ cùng lúc và đứng im chỉ

xảy ra với một hình thức vận động nhất định chứ khơng phải với mọi hình thức

vận động. Vì vậy, đứng im chỉ là tạm thời, tương đối, vận động mới là vĩnh viễn,

tuyệt đối, bởi vận động diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc, trong mọi sự vật, hiện tượng,

nó tồn tại từ đầu khi sự vật ra đời cho đến khi sự vật kết thúc, sự vật đó mất đi,

sự vật khác lại ra đời lại có hình thức vận động của mình. Khơng gian và thời

gian là những hình thức tồn tại của vật chất, khơng có vật chất tồn tại ngồi

khơng gian và thời gian.

Quan niệm về ý thức:

Trên cơ sở của những thành tựu khoa học, ý thức được định nghĩa là thuộc

tính của vật chất nhưng không phải là mọi dạng vật chất mà chỉ là thuộc tính cảu

một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc con người. Nói một cách khác, ý thức

có nguồn gốc tự nhiên, đồng thời nó chỉ xuất hiện ở giai đoạn phát triển cao nhất

của thế giới vật chất, đó là sự xuất hiện của con ngời cùng bộ não. Bên cạnh đó,

ý thức còn có nguồn gốc xã hội, nó được hình thức chủ yếu do hoạt động lao

động cải tạo, biến đổi thế giới khách quan của con người và xuất hiện ngôn ngữ.

Thơng qua lao động, con người có thể tác động vào thế giới khách quan làm cho

nó bộ lộ những thuộc tính, kết cấu, những quy luật vận động của mình để dần

hình thành tri thức. Trong quá trình lao động, ngơn ngữ cũng xuất hiện với vai

trò là hệ thống tín hiệu vật chất mnang nội dung ý thức. Khơng có ngơn ngữ thì

ý thức khơng thể tồn tại và thể hiện được. Vậy, bản chất của ý thức là sự phản

ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người một cách năng động,

sáng tạo.Ý thức không phải là một hiện tượng tự nhiện thuần túy mà là một hiện

tượng mang tính xã hội, ý thức bắt nguồn từ thực tiễn lịch sử - xã hội, là sản

phẩm của các quan hệ xã hội, chịu sự chi phối chủ yếu của các quan hệ xã hội,

các điều kiện sinh hoạt hiện thực của con người và phản ánh những quan hệ xã

hội 6.

Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức:

Chủ nghĩa duy tâm đã trừu tượng hóa ý thức, tinh thần vốn có của con

người thành một lực lượng thần bí, tách khỏi con người hiện thực. Họ coi con



người là tồn tại duy nhất, tuyệt đối, là tính thứ nhất từ đó sinh ra tất cả, còn thế

giới vật chất chỉ là bản sao, biểu hiện khác của ý thức tinh thần, là tính thứ hai.

Do ý thức tinh thần sinh ra. Trong khi đó, chủ nghĩa duy vật siêu hình thì truyệt

đối hóa yếu tố vật chất, chỉ nahaans mnahj một chiều vai trò của vật chất sinh ra

ý thức, quyết định ý thức, phủ nahanj tính độc lập tương đối của ý thức, khơng

thấy được tính năng động sáng tạo, vai trò to lớn của ý thức trong hoạt động

thực tiễn cải tạo hiện thực khách quan.

Triết học Mác-Lênin khẳng định vật chất và ý thức, có quan hệ chặt chẽ với

nhau, trong đó vật chất đóng vai trò quyết định ý thức, nhưng ý thức cũng có tác

động trở lại đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Vật

chất quyết định sự ra đời cuả ý thức bởi ý thức ra đời là kết quả tất yếu của q

trình tiến hóa lâu dài của thế giới vật chất, dẫn đến sự xuất hiện của một kết cấu

đặc biệt là bộ não người từ đó có khả năng phản ánh bằng ý thức. Vật chất quyết

định nội dung, sự vận động, biến đổi của ý thức. Thế giới khách quan đa dạng ra

sao sẽ được phản ánh và cải biến trong bộ não người. Khi thế giới khách quan

thay đổi thì nội dung phản ánh của ý thức cũng thay đổi theo. Ngược lại, ý thức có

vai trò chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người, chính vì vậy nó có thể tác đọng

trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Ý thức giúp con

người nhận thức được quy luật khách quan, trên cơ sở, con người xác định đúng

đắn mục tiêu và đề ra phương hướng hoạt động phù hợp. Chính vì vậy, nếu ý thức

phản ánh đúng đắn điều kiện vật chất, hồn cảnh khách quan thì sẽ thúc đẩy tạo

sự thuận lợi cho sự phát triển của đối tượng vật chất. Ngược lại, nếu ý thức phản

ánh sai lệch hiện thực sẽ làm cho hoạt động của con người khơng phù hợp với

quy luật khách quan, do đó sẽ kìm hãm sự phát triển của vật chất.

Biểu hiện ở mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong đời sống xã hội là

quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, trong đó tồn tại xã hội quyết định ý

thức xã hội, đồng thời ý thức xã hội có tính độc lập tương đối và tác động trở lại

tồn tại xã hội. Ngoài ra, mối quan hệ giữa vật chất và ý thức còn là cơ sở để

nghiên cứu, xem xét mối quan hệ khác như: lý luận và thực tiến, khách thể và

chủ thể, vấn đề chân lý.



2. Ý nghĩa phương pháp luận và liên hệ thực tiễn.

Những quan điểm về bản thể luận trong triết học Mác-Lênin đã giải quyết

triệt để hai mặt trong một vấn đề cơ bản của triết học theo quan điểm của chủ

nghĩa duy vậ biện chứng. Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định vật chất có

trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức, nhưng ý thực lại có tác động

ngược trở lại tới vật chất. Chính vì thế, con người cần phải tơn trọng khách quan

đồng thời phát huy tính năng động chủ quan. Con người cần tôn trọng các quy

luật tự nhiên và xã hội, trong hoạt động thực tiễn con người phải xuất phát từ

thực tế khách quan, lấy khách quan làm căn cứ cho những hoạt động của mình.

Nếu con người lấy tình cảm làm điểm xuất phát, áp đặt ý chí thay cho thực tế,

lấy ảo tưởng thay cho hiện thực thì sẽ rơi vào chủ quan duy ý chí. Bên cạnh đó,

phát huy vai trò tích cực của ý thức, của nhân tố con người trong việc phản ánh

đúng đắn thế giới khách quan, nhận thức được quy luật, xác định được mục tiêu,

đề ra phương hướng và tổ chức hoạt động hiệu quả.

Quan điểm triết học Mác-Lênin đã khắc phục hạn chế sai lầm của chủ

nghĩa duy vật trước Mác về vật chất: Bác bỏ phủ nhận quan điểm của chủ nghĩa

duy tâm và tôn giáo về vấn đề này. Nó tạo cơ sở cho các nhà triết học duy vật

biện chứng xây dựng quan điểm vật chất trong lĩnh vực đời sống xã hội.

Từ lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và kinh nghiệm rút ra trong quá trình

lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã rút ra bài học quan trọng là

“mọi đường lối, chủ trương của Đảng”



(7)



. Một trong những bài học lớn về sự



thành công của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lãnh đạo cách mạng Việt

Nam là bài học kiên định lập trường, vận dụng sáng tạo lý luận và phương pháp

luận khoa học của chủ nghĩa Mác- Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta. Rõ

ràng, muốn xây dựng nền kinh tế xã hội nên nền tảng lực lượng sản xuất tiên

tiến, hiện đại, theo V.I.Lênin, dứt khốt phải giữ vững vai trò lãnh đạo cảu giai

cấp cơng nhân, thơng qua đội tiền phong của mình là Đảng cộng sản. Đồng thời

phải thường xuyên làm tốt việc củng cố nền chun chính vơ sản, củng cố khối

đại đoàn kết dân tộc, đặc biệt là khối liên minh cơng nhân, nơng dân và trí thức.

Nhờ sự trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ



thể của Việt Nam nên cách mạng nước ta giành những thắng lợi to lớn, có ý

nghĩa lịch sử, lập nên những kỳ tích vĩ đại.



KẾT LUẬN

Bản thể luận là tri thức căn cốt của triết học, từ đó ứng dụng vào nhiều

lĩnh vực khao học khác nhau, bởi nó khơng chỉ quy định việc ta lựa chọn những

lý thuyết nào cho những nghiên cứu của mình mà còn quyết định tính đúng đắn

của những kết quả nghiên cứu và ứng dụng của nó trong mọi mặt của xã hội.

Nghiên cứu các thời đại lịch sử bản thể luận không những đem lại cho chúng ta

bức tranh cô đọng, xúc tích, chuẩn xác về tiến trình phát triển của bản thân triết

học, mà còn cho phép chúng ta nhận thấy các thang bậc kế tiếp nhau trong công

cuộc khám phá và hiện thực hóa bản chất của lồi ngời thông qua những giá trị

tinh thần căn bản nhất. Mỗi thời đại đều có những ý kiến khác nhau về thực chất

của tồn tại người và có vơ số những tư tưởng đã xuất hiện. Chỉ có một số ít

những tư tưởng có thể bám rễ được vào mơi trường tinh thần của một xã hội, có

tính đúng đắn để làm cơ sở cho các thế hệ sau. Gạt bỏ những điểm hạn chế, kế

thừa những mặt tích cực, triết học Mác-Lênin đã đưa ra những quan điểm đúng

đắn về bản thể luận, tìm ra được câu trả lời cho những đường hướng, những

phương pháp nhằm phát triển xã hội. Nắm vững linh hồn sống của chủ nghĩa

Mác là phép biện chứng duy vật, V.I.Lênin đã giải quyết thành công mối quan hệ

giữa kế thừa và sáng tạo, giữa bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác trong lịch sử

mới, nhờ đó đã định ra chiến lược và sách lược đấu tranh cách mạng đúng đắn.

Cách mạng Việt Nam đã kiên định, vận dụng linh hoạt quan điểm của chủ nghĩa

Mác-Lênin vào điềukiện của ta. Trong bất kỳ điều kiện nào, kiên định và vận

dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin là cái đảm bảo chắc chắn nhất để giành cách

mạng thắng lợi; trái lại nếu dập khn, máy móc thì nhất định sẽ mắc sai lầm và

khơng thể tránh khỏi tổn thất hay sự sụp đổ như chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và

Đông Âu.



DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Bùi Đăng Duy - Nguyễn Tiến Dũng: Lịch sử triết học phương Tây hiện

đại, nxb tổng hợp Tp.HCM.

2. Bùi Thị Thanh Hương - Nguyễn Văn Đại: Khái lược lịch sử triết học,

nxb Chính trị - Hành chính, 2013.

3. Bùi Thị Thanh Hương - Nguyễn Đình Trình: Giáo trình lịch sử triết học

cổ điển Đức, nxb Khoa học xã hội, 2014.

4. Đảng cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ

quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nxb Sự thật, Hà nội, 1995.Tr5.

5. Khoa triết học, Học viện Báo chí và tun truyền: Giáo trình lịch sử

triết học Trung Quốc thời kỳ cổ - trung đại, nxb Chính trị - Hành chính,2009.

6. Khoa triết học, Học viện Báo chí và tun truyền: Giáo trình lịch sử

triết học Mác-Lênin, nxb Chính trị - Hành chính,2009.

7. Thích Quảng Tùng, Luân văn thạc sỹ triết học, trường đại học khoa học

xã hội và nhân văn, “Tư tưởng bản thể luận trong triết học phật giáo quan kinh

viên giác”

8. Trường Đại học kinh tế quốc dân: Những nội dung cơ bản của triết học

Mác-Lênin, nxb Đại học kinh tế quốc dân,2007.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

VÀ Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×