Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
QUAN NIỆM VỀ BẢN THỂ LUẬN TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG VÀ PHƯƠNG TÂY

QUAN NIỆM VỀ BẢN THỂ LUẬN TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG VÀ PHƯƠNG TÂY

Tải bản đầy đủ - 0trang

là khởi nguồn sinh diệt của thế giới. Điểm đặc biệt của học thuyết này thể hiện ở

chỗ nó khơng chỉ giải thích một cách hợp lý sự tồn tại, phát triển và diệt vong

của các hiện trượng trong tự nhiên mà còn có thể dùng nó để giải thích một các

thuyết phục các vấn đề trong xã hội. Đây chính mốc lịch sử đánh dấu sự phát

triển sơ khai của tư duy kho học người Trung Quốc cổ đại nhằm thoát khỏi sự

chi phối của các tư tưởng duy tâm tôn giáo.

Quan niệm của các triết gia:

Quan điểm về Đạo của Lão tử là quan điểm tiêu biểu của người Trung

Quốc cổ đại về bản thể luận. Theo Lão tử, “Đạo” là cái có trước trời đất, trống

khơng và lặng yên nhưng lại có ở mọi nơi, là nguồn gốc của vạn vật. Nó là sự

thống nhất của thế giới, là bản nguyên sâu kín, huyền diệu mà từ đó vạn vật có

danh tính, có hình thể được sinh ra. Đạo là thực thể vật chất của khối “hỗn độn”,

“mập mờ”, “thấp thống” khơng có đặc tính, khơng có hình thể, nhìn khơng nhìn

thấy, nghe khơng nghe thấy, bắt khơng bắt đươc, chẳng thể gọi tên. Nó tồn tại

bất luận con người có nhận thức được hay khơng 3. Qua những quan điểm về

bản thể luận trong khái niệm “Đạo”, ta có thể thấy những quan niệm biện chứng

đầy tinh tế và bí hiểm của người phương Đơng.

Quan điểm của phái Nho gia chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử

tư tưởng Trung Quốc, có ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống mọi mặt của xã hội

Trung Quốc suốt hơn hai nghìn năm lịch sử, cũng như tác động đến Việt Nam và

một số nước Đông Á khác. Nho giáo chứa đựng những tư tưởng biện chứng sâu

sắc về mối liên hệ, về vận động, về quy luật với mục tiêu là xây dựng những cơ

sở lý luận cho các quan điểm chính trị, đạo đức và xã hội và con người nên lại

đưa ra những quan niệm khác khi lý giải về bản nguyên của tồn tại. Theo Mạnh

Tử “Tâm” là cái chủ thể trong mỗi con người, là cái thần linh có đủ mọi lý và

trời phú cho con người để hiểu biết, ứng đối với vạn vật, vạn sự. Tâm có quan hệ

với Tính, đem tâm tính đấy là ứng xử với vạn vật được gọi là Tình. Tâm - Lương

Tri - Lương năng là cơ sở để xây dựng luân lý đạo đức, nó là cái tự nhiên có ở

con người chứ khơng phải qua học tập, là cái vĩnh viễn không thay đổi, do vậy

con người cần “ phản tỉnh” để hành xử cho hợp lễ nghĩa.



1.2. Quan niệm của triết học Ấn Độ cổ trung đại về bản thể luận

Tri thức và văn hóa Ấn Độ truyền thống hết sức đa dạng, phong phú và có

những yếu tố phỏng đốn vượt thời gian. Nét đặc biệt trong văn hóa Ấn Độ là

mang dấu ấn sâu đạm về mặt tín ngưỡng, tơn giáo và tâm linh, với nhiều yếu tố

thần bí. Những kiến thức và văn hóa đó đã trở thành những chất liệu trực tiếp

cho sự xuất hiện các trường phái triết học ở Ấn Độ thời cổ đại. Các nhà triết học

ở Ấn Độ cho rằng bản thể của thế giới chính là các vị thần có tính chất tự nhiên,

vũ trụ tồn tại ba thế lực có liên hệ mật thiết với nhau là thiên giới, trần thế và địa

ngục. Sớm nhất là trong khoảng thế kỷ VIII - VI trước Công Nguyên, bộ kinh

Upanisad đã cho rằng bản nguyên tối cao bất diệt của thế giới là “tinh thần vũ

trụ tối cao” Brahman, đó là thực thể duy nhất, có trước, tồn tại vĩnh viễn, bất

diệt, là cái từ đó tất cả thế giới đều nảy sinh ra và nhập về nó sau khi chết. Ngồi

ra có nhiều các trường phái khác nhau như phái Samkhya, trường phái Nyaya

Vaisesika và Phật giáo.

Phái Samkhya có tư tưởng rất cổ và ảnh hưởng rất lớn. Tuy nhiên, nó có

tinh thần duy vật, phủ nhận sự tồn tại của Brahman và thần. Phái Samkhya cho

rằng thế giới là thế giới vật chất và nó tồn tại và vận động theo quy luật nhân

quả, kết quả đã tồn tại trong nguyên nhân trước khi nó xuất hiện. Quan niệm về

bản thể bắt đầu từ nguyên nhân.

Phái Nyaya - Vaisesika quan niệm bản nguyên duy nhất, đầu tiên của thế

giới là những hạt vật chất không đồng nhất, bất biến, vĩnh hằng được phân biệt ở

chất lượng, khối lượng và hình dạng, tồn tại trong một môi trường đặc biệt được

gọi là Anu (nguyên tử).

Phái Lokayata quan niệm bản nguyên của tồn tại được hình thành từ bốn

yếu tố: đất, nước, lửa, khơng khí. Những yếu tố này có khả năng tự tồn tại, tự

vận động trong không gian và cấu thành vạn vật. Thế giới xung quanh ta đa

dạng chính là do sự kết hợp khác nhau của các yếu tổ bản ngun đó.

Phật giáo là một tơn giáo mang tư tưởng giải thoát chúng sinh ra khỏi nỗi

khổ cuộc đời. Phật cho rằng bản nguyên của thế giới chính là “Tâm”. “Tâm” ban

đầu vốn tròn đầy, chưa xao động, giống như mặt nước, khi gió thổi (vọng tâm



sinh khởi) mà tạo ra song to, sóng nhỏ, bọt hay bong bóng khác nhau. Gió

ngừng thổi thì mặt nước trở lại n lặng. Vậy “tâm” ban đầu khơng thay đổi, khi

có tác động từ bên ngồi, có sự tiếp xúc “lục căn” (sáu giác quan) và lục trần

(thế giới khách quan) thì mới làm “tâm” xao động sinh ra “tham”, “sân”, “si”.

Khi vượt qua được “tham, sân, si” tức là con người đã được giác ngộ, được giải

thoát, trở về cái “tâm”ban đầu thanh tịnh. Một khái niệm khác của Phật giáo khi

đề cập đến vấn đề bản thể luận là “không”. Và trog kinh Phật có cụm từ “sắc sắc

khơng khơng” để nói về sự vơ thường của cuộc sống. Vạn vật tự sinh tự diệt,

chuyển biến không ngừng trong từng phút giây.

2. Quan niệm về bản thể luận trong triết học phương Tây.

Trong khi phương Đông lấy xã hội, con ngời cá nhân làm gốc để nhìn nhận

xung quanh, đối tượng của triết học phương Đông chủ yếu là xã hội, chính trị, đạo

đức, tâm linh nên xu hướng là hướng nội. lấy trong để giải thích ngồi thì triết học

phương Tây lại có đối tượng rất rộng ơm tồn bộ tự nhiên, xã hội tư duy mà gốc

là tự nhiên, lấy ngoại để giải thích trong theo xu hướng nổi trội là duy vật. Khái

niệm “bản thể luận” được xuất hiện ở thế kỷ XVII tại phwong Tây. Khái niệm này

liên hệ mật thiết và hữu cơ với quá trình hình thành triết học phương Tây tới mức

chính nó, chính sự lý giải về nó đã tạo thành bản chất của phương pháp tư duy

trieetgs học Tây Âu. Trong mỗi thời kỳ, triết học Phương Tây lại có những nhà

triết học tiêu biểu với nhiều quan niệm về “bản thể luận” khác nhau, điều đó đã

tạo nên một bức tranh đầy màu sắc về triết học phương Tây.

2.1. Quan niệm của triết học Hy lạp cổ đại

Thời kỳ này các nhà triết học cũng chính là các nhà khoa học, chính vì

vậy quan niệm về bản thể luận của những nhà triết học thời này rất phong phú,

mang đậm dấu ấn cùng những ngành khoa học họ nghiên cứu.

Ta-let (624-547 TCN) cố gắng đi tìm một nguồn gốc chung, một thực thể

chung làm cơ sở của mọi vật. Đối với ơng, thực thể đó chính là nước.

Trong cơng cuộc đi tìm cách xây dựng “bản thể luận mới”, chúng ta phải

kể đến Pi-ta-go (571-497 TCN). Ông vừa là nhà triết học vừa là nhà tốn học.

Ơng cho rằng bản ngun thể giới là những con số. Con số là lực lượng chi phối



toàn bộ thế giới theo một quy luật nhất định. Vì vậy, con số khơng chỉ là bản

ngun của tồn bộ sự vật mà còn là cơ sở của hiện tượng tinh thần. Con số tồn

tại vĩnh viễn nên linh hồn cũng bất tử. Nó chỉ chuyển từ dạng này sang dạng

khác. Tuy nhiên, uy luật toán học chỉ là một loại quy luật, ngồi ra còn rất nhiều

những quy luật khác.

Hê-ra-clit (khoảng 530 - 470 TCN) được coi là đại biểu vĩ đại nhất của chủ

nghĩa duy vật và phép biện chứng. Ông quan niệm về bản thể luận của thế giới là

lửa. Lửa là nguồn gốc của mọi sự trong vũ trụ, là cơ sở của linh hồn con người.

Theo ông, cả vũ trụ là một ngọn lửa vĩnh hằng, khồng không bùng cháy và tàn lụi.

Lửa trao đổi với tất cả và tất cả trao đổi với lửa. Cũng như chúng ta đổi hàng hóa

vấy vàng và vàng thành hàng hóa.

Đê-mơ-crit (460-370TCN) đã tiếp tục con đường phân tích những cấu trúc

của tồn tại, trong quan hệ của nó với nguyên tử. Theo Đê - mô - crits, cơ sở của

thế giới vật chất là nguyên tử. Nguyên tử là các hạt vật chất nhỏ, không thể phân

chia được và tồn tại vĩnh viễn. Tuy nhiên, các nguyên tử khác nhau về hình thức,

trật tự và tư thế. Nguyên tử không những vô hạn về số lượng mà còn vơ hạn về

hình thức. Các ngun tử không kết hợp với nhau tùy tiên, ngẫu nhiên mà theo

trật tự nhất định. Sở dĩ các sự vật của thế giới khác nhau là do cấu tạo của

nguyên tử khác nhau lại được sắp xếp theo những trật tự khác nhau và đặc biệt

là ở những tư thế khác nhau.

Khác với Đê-mô-crit, Platon chia thế giới thành 2 bộ phận: thế giới của

những ý niệm và thế giới của những sự vật cảm tính. Thế giới của những sự vật

cảm tính là thế giới tồn tại khơng chân thực và thường xuyên biến đổi phụ thuộc

vào thế giới của những ý niệm, nó là cái bóng của ý niệm, do các ý niệm sản

sinh ra. Ông cũng kế thừa quan điểm của Pi-ta-go về những con số. Theo ông,

sự tồn tại cảu thế giới các ý niệm thông qua các quan hệ tỷ lệ toán học tác động

vào vật chất tạo ra thế giới các sự vật cảm tính. Chỉ có ý niệm mới tồn tại chân

thực, mới là đối tượng của nhận thức chân lý, còn có sự vật cảm tính chỉ là kết

quả của sự bắt chước ý niệm4.



Arixtot (384-322TCN) được coi là nhà bách khoa vĩ đại nhất cổ đại Hy

Lạp khi ông nghiên cứu nhiều ngành khoa học khác nhau. Ông phê phán học

thuyết ý niệm của Platon, ông vạch ra những mâu thuẫn về mặt logic trong học

thuyết ý nghĩa là Platon đã nhân đôi đối tượng nhận thức chứ không phải sự

nhận thức về chính đối tượng. Ơng cho rằng bản chất sự vật khơng thể ở bên

ngồi sự vật, tách rời sự vật mà nằm ngay chính trong sự vật. Quan niệm của

ông về thế giời được thể hiện qua học thuyết bốn nguyên nhân: hình thức, vật

chất, vận động, mục đích. Ơng đề xướng thuyết địa tâm, phủ nhận tính thống

nhất vật chất của thế giới. Quan điểm của ông có nhân tố duy vật khi cho rằng

thế giới cấu thành bởi các nhân tố: đất, nước, lửa, khơng khí và ete.

2.2. Quan niệm triết học Tây Âu thời trung cổ

Xã hội Tây Âu vào thế kỷ II - V là xã hội đánh dấu sự tan rã của chế độ

nô lệ và là sự ra đời của chế độ phong kiến, và chế độ phong kiến kéo dài đến

thế kỷ thứ XIV với sự thống trị của giai cấp địa chủ phong kiến và phương thức

sản xuất phong kiến cùng chế độ phong kiến phân quyền. Triết học thời kỳ này

là nển triết học kinh viện lấy vấn đề trung tâm là cuộc đấu tranh giữa niềm tin

tôn giáo và trí tuệ. Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy thức và chủ nghĩa duy

danh là biểu hiện cho cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy

tâm trong triết học Tây Âu thời kỳ này. Tiêu biểu nhất trong thời kỳ này là nhà

triết học Tô-mát Đa-canh. Triết học của ông được nhờ Thiên Chúa coi là học

thuyết duy nhất đúng đắn và làm hệ tư tưởng của mình. Về quan niệm về bản thể

luận, ơng cho rằng Thượng đế là cơ sở tồn tại của thế giới. Ông đưa ra năm luận

cứ để chứng minh cho sự tồn tại của Thượng đế. Luận cứ 1: Mọi sự vật đều vận

động nhưng đầu tiên không thể tự nó vận động được mà cần có “cú hích ban

đầu” và cú hích đó chính là Thượng đế. Luận cứ 2: Mọi sự vật đều có nguyên

nhân, và vũ trụ cũng có ngun nhân của mình và ngun nhân của nguyên nhân

đó là thượng đế. Trong vũ trụ có cả cái tất nhiện và cái ngẫu nhiên nhưng thế

giới với tư cách là một chỉnh thể là cái tất nhiên. Điều đó đòi hỏi phải có cái tất

yếu tuyệt đối chi phối, đó chính là thượng đế. Luận cứ 4: Mọi sự vật trong thế

giới đều thuộc về một mức độ Chân, Thiện, Mỹ nhất định. Do đó, để xác định



được mức độ Chân, Thiện, Mỹ cần phải có một cái Chân, Thiện, Mỹ tuyệt đối

làm tiêu chuẩn, đó chính là thượng đế. Luận cứ 5: Trong thế giới cần có Thượng

đế thì mới có thể lý giải được tính hợp lý của giới tự nhiên,

2.3. Quan niệm của triết học Tây Âu thời Phục hưng (TK15 - 16)

Cùng với những thay đổi về kinh tế - xã hội, cũng như sự phát triển khoa

học và nghệ thuật, triết học thời kỳ phục hưng đã có một bước ngoặt trong sự

phát triển, mở đầu cho một thời kỳ phát triển mới của chủ nghĩa duy vật. Về vấn

đề bản thể luận trong thời kỳ này, có một nhà triết học tiêu biểu là Giooc-đa-nô

Bru-no (1548-1600) ông là nhà triết học, đồng thời là nhà khoa học tự nhiên vĩ

đại người Italia. Phạm trù trung tâm trong triết học của ông là Cái duy nhất

(Uno). Uno chính là thượng đế tồn tại dưới dạng giới tự nhiên (Tự nhiên thần

luận). Ông cũng đã kế thừa và chịu ảnh hưởng của A-ritx- tốt, ơng cho rằng có

sự thống nhất giữa vật chất và hình dạng trong Uno, mọi hình dạng chẳng qua

chỉ là hình dạng của vật chất mà thơi. Ơng cũng tiếp nhận tư tưởng về sự thống

nhất vật chất của vũ trụ khi cho rằng: “mọi sự vật đều nằm trong vũ trụ và vũ trụ

nằm trong tất thảy mọi vật. Chúng ta ở trong vũ trụ và vũ trụ nằm trong chúng

ta”. Bên cạnh đó, ơng cũng xây dựng thuyết đơn từ (monad): Theo đó, mọi sự

vật và cả vũ trụ đều được cấu tạo từ đơn tử, là những phần tử vật chất nhỏ nhất

có chứa khả năng tinh thần. Ông cũng kế tục và pháttriển học thuyết của Cơpéc-ních “mặt trời là trung tâm”, nhưng ơng cũng bổ sung thêm rằng, có vơ số

thế giới, xung quanh trái đất có một bầu khơng khí cùng xoay với trái đất và mặt

trời cũng đổi chỗ với các vì sao. Với học thuyết đó, Bruno đã bác bỏ một quan

điểm cơ bản của tôn giáo về sự tồn tại của thế giới bên kia, thế giới thần linh.

Ông còn cho rằng thế giới vật chất tồn tại khơng ngừng, khơng có chúa trời nào

thống trị vũ trụ đó cả.

2.4. Quan niệm của triết học Tây Âu thời kỳ cận đại (TK 17 - 18)

Cuối thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, phương thức sản xuất tư bản chủ

nghĩa làm cho xã hội phong kiến Tây Âu rơi vào khủng hoảng trầm trọng về

kinh tế, chính trị và tinh thần. Từ đó dẫn đến các cuộc cách mạng tư sản, nhà

nước tư sản được hình thành, dân tộc tư sản ra đời. Triết học thời kỳ này khác về



chất so với triết học duy vật cổ đại Hy lạp, thể hiện ở phương pháp siêu hình, sự

gắn bó với khoa học thực nghiệm. Một đại diện tiêu biểu của thời kỳ này là

Phăng-xi Bê-cơn (1561-1626) người Anh. Ông là người đã kế thừa những tư

tưởng duy vật cổ đại Hy Lạp trong quan niệm về thế giới, thể hiện ở chỗ ơng

thường xun trích dẫn và ca ngợi những nhà duy vật. Ông kịch liệt chống lại

quan điểm của triết học kinh viện về vật chất (thụ động, trừu tượng, chế cứng,

khơng vận động, dùng trong tranh luận…). Ơng đưa ra khái niệm “vật chất thứ

nhất” để đối lập với khái niệm vật chất này của triết học kinh viện, trên cơ sở đó,

ơng đưa ra 19 dạng vận động khác nhau của “vật chất thứ nhất”. Bên cạnh đó,

ơng cũng ủng hộ quan điểm của Ăm-pê-đốc-lơ về sự không mất đi của vật chất.

Theo ông, tổng vật chất là giữ ngun. Ơng còn cải biến học thueyets về bốn

nguyên nhân của Arix-tốt theo hướng duy vật. Nhà triết học thứ hai trong thời

kỳ này là Rơ-nê Đê-các-tơ (1596-1654), nhà triết học và khoa học nổi tiếng

người Pháp. Khi giải quyết vấn đề cơ bản của triết học, Đê-các-tơ đứng trên lập

trường nhị ngun luận. Ơng thừa nhận có hai thực thể vật chất và tinh thần tồn

tại độc lập với nhau, cùng song song là nguồn gốc của mọi sự vật, hiện tượng

trong thế giới. Thực thể vật chất là đối tượng nghiên cứu của vật lý, còn thực thể

tinh thần là đối tượng nhiên cứu của triết học. Tuy nhiên, cả hai thực thể này đều

là phụ thuộc vào một thực thể thứ ba là Thượng đế. Ông cố gắng đứng trên cả

chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm để giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa

vật chất và tinh thần, giữa tồn tại và tư duy nhưng cuối cùng lại rơi vào chủ

nghĩa duy tâm. Ơng còn phát hiện ra ngun tắc quyết định luận trong thế giới,

có những dự báo khoa học về nguồn gốc vũ trụ, về sự phát triển đa dạng của các

lồi sinh vật. Quan niệm của ơng về bản thể luận có nhiều điểm tiến bộ nhưng

còn mang tính máy móc, siêu hình.

2.5. Quan niệm trong triết học cổ điển Đức (TK XVIII - nửa đầu TK XIX)

Bản thể luận duy tâm cổ điển Đức chịu tác động của những điều kiện kinh

tế - xã hội và chính trị đương thời. Trong khi Anh và Pháp tiến nhanh trên con

đường tư bản chủ nghĩa thì nước Đức vẫn là một nước lạc hậu về kinh tế và

chính trị. Vì giai cấp tư sản Đức yếu kém, khơng đủ khả năng nắm chính quyền,



nên các nhà lsy luận của giai cấp này là những nhà triết học duy tâm, sáng lập ra

các hệ thống triết học rất trừu tượng, tách khỏi đời sống thực tiến. Bế tắc trước

những vấn đề kinh tế - xã hội, các nhà triết học duy tâm Đức, bắt đầu từ Can-tơ

trở đi đã xây dựng bản thể luận triết học trong tư duy, ý thức của chủ thể, đặc

biệt đề cao tính năng động và tính duy lý của chủ thể.

Vốn là người sáng lập ra triết học cổ điển Đức, Can-tơ đã có những đóng

góp quan tron gj trong việc xây dựng bản thể luận độc đáo, đó chính là học

thuyết “vật tự có”. Theo ơng, “vật tự có” là bản chất của mọi vậ khách quan tồn

tại bên ngồi con ngời, nó thuộc về lĩnh vực siêu nghiệm, siêu nhiên, con người

không thể nào nhận thức được. Đó là tất cả những gì con người chưa biết được,

“vật tự có” là những chuẩn mực, những lý tưởng tuyệt đối hoàn hảo mà con

người khơng bao giờ đạt được, ví dụ như “Chúa trời”, “tự do”…

Tiếp nối các bậc tiền bối, Hê-ghen đề nghị phải lãnh hội và diễn đạt chân

lý không chỉ như bản thể mà còn như chủ thể. Ơng cho tinh thần thế giới là có

trước, tồn tại vĩnh viễn. Tinh thần thế giới tha hóa thành giới tự nhiên rồi lại

thơng qua xã hội, lịch sử trở về chính nó. Tinh thần thế giới (ý niệm tuyệt đối) là

đối tượng của logic học, tinh thần thế giới tha hóa thành giới tự nhiên là đối

tượng của triết học tự nhiên. Tồn tại trong tự nhiên, tinh thần thế giới vẫn vận

động, biến đổi và đến một giai đoạn nhất định tha hóa quay trở về bản thân nó

thơng qua xã hội, lịch sử trở về với tinh thần tuyệt đối, ý niệm tuyệt đối.

Một nhà đại diện triết học thời kỳ này là Lút-vích Phoi-ơ-bắc, một nhà triết

học lỗi lạc đã khôi phục lại địa vị xứng đáng cho chủ nghĩa duy vật trước Mác.

Ông cho rằng thế giới tự nhiên, thế giới vật chất là có trước, tồn tại vĩnh viễn,

không do ai sáng tạo ra, không phụ thuộc vào bất cứ ai. Nó tồn tại, vận động nhờ

những ngun nhân ở trong chính bản thân nó. Thế giới vật chất là có trước, ý

thức có sau, ý thức là sản phẩm, thuộc tính của bộ óc của con người. Ơng cũng có

quan điểm duy vật về khơng gian, thời gian. Theo ơng, khơng có khơng gian, thời

gian ngồi vật chất, cũng khơng có vật chất tồn tại ngồi khơng gian, thời gian.

Chính khơng gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất.



Nhìn chung, triết học cổ điển Đức đem lại cho triết học một diện mạo mới

những một hệ thống những bộ môn, những tư tưởng, những khái niệm sâu sắc,

đem lại một khn mẫu về văn hóa thế giới quan phổ qt. Bản thể luận duy tâm

của tồn tại xã hội ngời như một qúa trình phát triển, uan hệ giữa chủ thể và khách

thể được xem là một các triệt để. Hơn nữa, nó đi sâu vào lĩnh vực tồn tại lịch sử

cùa con người, luận chứng tư tưởng về tính quy luật xã hội, chỉ ra lao động như

những biểu hiện co bản của bản thể người. Tuy nhiên, nó cũng chủ yếu nhìn nhận

tiến trình tiến hóa và phát triển của tồn tại người từ lập trường duy tâm và thơng

qua lăng kính của kho học tự nhiên đương thời, do vậy nó đem lại một niềm tin

mãnh liệt vào sức mạnh của khoa học, một kiểu sùng bái khoa học. Hai nữa

những quan điểm thời kỳ này chỉ dựa trên những cơ sở giá trị văn hóa phương

Tây và nó có xu hướng kiên định quan niệm duy lý thái quá về bản tỉnh người, coi

tư duy khoa học là thước đo tối cao và tối hậu về nhân tính, là phương tiện quan

trọng nhất cho sự nghiệp làm người. Đây là hạn chế lớn nhất của bản thể luận duy

tâm Đức.

Tóm lại, qua các thời kỳ lịch sử, lịch sử tinh thần của loài người ở phương

Tây được phản ảnh trong cách hệ thống bản thể luận triết học tương ứng. Bản

thể luận triết học cổ đại đã xây dựng hệ giá trị tinh thần gắn liền với con người

thế tục với “tự nhiên”dựa trên những hiểu biết của con người về thế giới tự

nhiên. Đến thời cận đại, bản thể luận xuất phát từ niềm tin tuyệt đối vào lý tính,

vào khoa học, coi đó là căn nguyên, là giá trị tối cao của tồn tại người, vì thế bản

thể luận này coi các nguyên lý của nhận thức khoa học như các nguyên lý của

tồn tại đích thực. Trong khi đó, bản thể luận duy tâm cổ điển Đức đồng thời

phản ảnh hệ thông giá trị văn hóa tinh thần truyền thống của thời đại cơng

nghiệp, phản tư lại hệ thống ấy qua lăng kính của xã hội đang chuẩn bị tiến hành

cách mạng tư sản và những thành tựu, cũng như những bài học của bản thân nền

văn minh cơng nghiệp. Ta có thể khẳng định bản thể luận trong triết học duy tâm

cổ điển Đức vẫn là một thành tựu lâu dài của lịch sử tư tưởng triết học nhân loại,

trở thành tiền đề cho những triết học ở thời hiện đại.



CHƯƠNG 3

QUAN NIỆM VỀ BẢN THỂ LUẬN TRONG TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN

VÀ Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN

1.Quan niệm về bản thể luận trong triết học Mác - Lênin.

Khuynh hướng chung của các nhà triết học duy vật thời cổ đại là đi tìm

một thức thể ban đầu nào đó là coi nó là yếu tố tạo ra tất cả các sự vật, hiện

tượng khác nhau của thế giới, tất cả để bắt nguồn từ đó và cuối cùng đều tan

biến phát triển, ddã xuất hiện những tư tưởng biện chứng nhất định trong quan

niệm về vật chất, song quan niệm đó ở các nhà triết học duy vật thời kỳ này về

cơ bản vẫn mang tính chất cơ giới, thời kỳ này thì các nhà triết học đã đồng nhất

vật chất với thuộc tính của vật chất. Chỉ đến triết học Mác-Lênin mới có thể giải

quyết triệt để những hạn chế theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng.

Chủ nghĩa Mác nói chung, triết học Mác nói riêng ra đời vào những năm 40 của

thế kỷ XIX với sự xuất hiện của giai cấp vô sản trên vũ đài lịch sử với tư cách

một lực lượng chính trị xã hội độc lập dấu tranh lại giai cấp tư sản vì dân chủ và

tiến bộ xã hội. Thực hiện cách mạng của giai cấp vô sản là cơ sở chủ yếu khác

nhất cho sự ra đời triết học Mác.

Cách tiếp cận vấn đề bản thể luận:

Về cách tiếp cận giải quyết vấn đề bản thể luận trong triết học Mác-Lênin

là chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất. Thế giới vật

chất tồn tại khách quan, có trước và độc lập với ý thức của con người; Hai là

mọi bộ phận của thế giới vật chất đều có mối liên hệ thống nhất với nhau, biểu

hiện ở chỗ chúng đều là những dạng cụ thể của vật chất, là những kết cấu vật

chất, hoặc có nguồn gốc vật chất, do vật chất sinh ra và cùng chịu sự chi phối

của những quy luật khách quan phổ biển của thế giới vật chất; Ba là thế giới vật

chất tồn tại vĩnh viễn, vô hạn và vô tận. Trong thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn,

vơ hạn và vơ tận. Trong thế giới khơng có gì khác ngồi những q trình vật chất

đang biến đổi và chuyển hóa lẫn nhau, là nguồn gốc, nguyên nhân và kết quả

của nhau.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

QUAN NIỆM VỀ BẢN THỂ LUẬN TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG VÀ PHƯƠNG TÂY

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×