Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
KHÁI NIỆM VÀ CÁC TƯ TƯỞNG TRƯỚC MÁC

KHÁI NIỆM VÀ CÁC TƯ TƯỞNG TRƯỚC MÁC

Tải bản đầy đủ - 0trang

Nói chung những người theo chủ nghĩa duy tâm xuất phát từ sự cơng

nhận ý thức là tính thứ nhất, vật chất là tính thứ hai, đều cho rằng ý thức sản

sinh ra vật chất. Với nhiều dạng khác nhau, dù cơng khai hay che đậy bằng

những mánh khóe tinh vi, chủ nghĩa duy tâm cuối cùng cũng đi đến thừa nhận

sự tồn tại của một lực lượng siêu nhiên, của “Thượng đế”, do đó mà chủ nghĩa

duy tâm đã trở thành cơ sở thế giới quan của tôn giáo.

Khác với chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa duy tâm khách quan,

những người theo thuyết hoài nghi coi nhận thức là trạng thái hoài nghi về sự

vật và biến sự nghi ngờ về tính xác thực của tri thức thành một nguyên tắc của

nhận thức. Đến thời kỳ cận đại, khuynh hướng này phủ nhận khả năng nhận thức

của con người. Họ cho rằng con người chỉ nhận thức được các thuộc tính bề

ngồi, còn bản chất bên trong của sự vật thì khơng thể nhận thức được.

Kể cả chủ nghĩa duy vật của Phơ-bách, một chủ nghĩa duy vật được

C.Mác và Ăngghen đánh giá rất cao cũng khơng thốt khỏi những quan niệm

phiến diện, hẹp hòi về nhận thức. Chính vì vậy mà trong “Luận cương về Phơbách, C.Mác đâ nêu lên một nhận định có tính tổng kết về hạn chế của chủ nghĩa

duy vật và triết học trước đó về nhận thức rằng: “Khuyết điểm chủ yếu của toàn

bộ chủ nghĩa duy vật từ trước tới nay – kể cả chủ nghĩa duy vật của Phơ-bách là

sự vật, hiện thực khách thể hay hình thức trực quan, chứ không được nhận thức

là hoạt động cảm giác của con người, là thực tiễn, không nhận thức được về mặt

chủ quan.” [3, tr.9]

Cụ thể hơn, các quan niệm này được thể hiện như sau:

1.2.1.Nhận thức luận trong triết học Ấn Độ cổ, trung đại

Trường phái Nyàya - Vai’sesika: Thừa nhận sự tồn tại khách quan của

đối tượng nhận thức; đề cao vai trò của kinh nghiệm trong nhận thức..v.v. Thước

đo duy nhất để kiểm tra tính chân lý của các tri thức là thực tiễn.

Trường phái Jaina: Cho rằng nhận thức là sự phản ánh thế giới, phản ánh

tính biếnchuyển liên tục của thế giớiTơma. Để nhận thức thế giới phải xây dựng



4



và sử dụng hệ thống các khái niệm như là các công cụ đồng thời cũng là kết quả

của sự nhận thức.

Trường phái Lokàyata: Phái này có khuynh hướng duy vật theo lập

trường kinh nghiệm luận. Họ cho rằng cảm giác là nguồn gốc duy nhất, xác thực

của nhận thức. Các kết luận, các suy lý chỉ có giá trị trong mối liên hệ với thế

giới một cách kinh nghiệm. Họ phủ nhận tính chân lý của những tri thức lý tính.

1.2.2. Nhận thức luận trong triết học Hy Lạp – La Mã cổ đại

Triết học Hy Lạp – La Mã cổ đại là một trong những xuất phát điểm của

lịch sử triết học thế giới. Cho đến ngày nay, nó vẫn sáng lên ánh hào quang của

những trí tuệ bách khoa kỳ diệu của những khả năng tư duy triết học thiên tài,

như:

Hêraclít (520 - 460 tr.CN): Ông cho rằng, nhận thức thế giới là nhận

thức lôgôt của vũ trụ, nghĩa là nhận thức tự nhiên và xã hội trong trạng thái đấu

tranh và hài hòa của những mâu thuẫn của chúng. Ơng rất coi trọng nhận thức

cảm tính nhưng khơng tuyệt đối nó. Theo ơng, thị giác thường bị lừa vì tự nhiên

thích giấu mình nên muốn nhận thức được nó phải tư duy, phải có óc sáng suốt.

Ơng còn nêu lên tính tương đối của nhận thức tùy theo hoàn cảnh và điều kiện

mà thiện - ác, xấu tốt, lợi - hại chuyển hóa cho nhau.

Đêmơcrít (460 - 370 tr.CN): Khác với nhiều nhà triết học trước đó phủ

nhận vai trò của nhận thức cảm tính, tuyệt đối hố vai trò của nhận thức lý tính.

Đêmơcrít đã chia nhận thức thành hai dạng:

Dạng nhận thức mờ tối là dạng nhận thức cảm tính, do các giác quan đưa

lại, dạng nhận thức theo "dư luận chung", nghĩa là những cảm giác như mùi vị,

màu sắc, âm thanh v.v. là những cảm giác phổ biến mà mọi người đều cảm nhận

được một cách dễ dàng khi nhận thức. Nhận thức cảm tính là nhận thức chân

thực nhưng còn mờ tối vì chưa nhận thức được cái bên trong, cái sâu kín của sự

vật.

Dạng nhận thức chân lý là dạng nhận thức thông qua những phán đốn

lơ-gích, đó là dạng nhận thức được bản chất của sự vật, vì nó chỉ ra được cái

5



khởi ngun của thế giới là nguyên tử, chỉ ra được tính đa dạng của thế giới là

do sự sắp xếp khác nhau của các ngun tử.

Platơn (427 - 347 tr.CN) :Ơng cho rằng, tri thức là cái có trước các sự vật

cảm tính mà khơng phải là sự khái qt kinh nghiệm trong q trình nhận thức

các sự vật đó. Những ý kiến xác thực được khơi dậy, được hồi tưởng lại nhờ các

câu đối thoại giữa lồi người thì sẽ trở thành tri thức. Cách đối thoại như vậy được Platôn gọi là phương pháp biện chứng.

Theo ông nhận thức cảm tính có sau nhận thức lý tính vì linh hồn trước

khi nhập vào thể xác con người dưới trần thế thì ở thế giới bên kia đã có sẵn các

tri thức.Do vậy, nhận thức của con người chỉ là quá trình nhớ lại, hồi tưởng lại

của linh hồn những cái đã bị lãng quyên trong quá khứ chứ không phải là sự

phản ánh các sự vật của thế giới khách quan.

Arixtốt (384 - 322 tr.CN): Trong lý luận nhận thức của mình, Arítxtốt

thừa nhận thế giới khách quan là đối tượng của nhận thức, là nguồn gốc kinh

nghiệm và cảm giác. Cảm giác đóng vai trò quan trọng trong nhận thức, nhờ

cảm giác về đối tượng mà có tri thức đúng, có kinh nghiệm và lý trí hiểu biết về

đối tượng, cảm giác là điểm khởi đầu trên con đường hình thành tư duy khoa

học theo quá trình: cảm giác - biểu tượng - kinh nghiệm - nghệ thuật - khoa học.

Mối quan hệ giữa đối tượng và tri thức tuân theo trật tự thời gian: đối tượng

nhận thức là cái tồn tại trước, tri thức là cái có sau.

1.2.3. Nhận thức luận trong triết học Tây Âu thời kỳ trung cổ

Lịch sử phát triển của xã hội Tây Âu thời kỳ trung cổ kéo dài hàng ngàn

năm khoảng từ thế kỷ IV đến thế kỷ XV. Đây là giai đoạn mà xét về góc độ triết

học là bước thụt lùi so với thời kỳ cổ đại, song xét về sự phát triển của hình thái

kinh tế-xã hội thì đây là thời kỳ đầu cho sự phát triển mới, gồm các đại biểu sau:

Tômát Đacanh (1225 - 1274): ông cho rằng, mọi nhận thức diễn ra trong

chủ thể nhờ tiếp thu ở khách thể những gì giống với chủ thể chứ không phải mọi

tồn tại của khách thể đều được tiếp thu, đó là hình ảnh của sự vật chứ khơng

phải bản thân sự vật.Ơng chia "hình dạng" thành hình dạng cảm tính và hình

6



dạng lý tính. Hình dạng lý tính cao hơn hình dạng cảm tính, nhờ hình dạng lý

tính mà ta mới biết được cái chung chứa đựng nhiều thực thể riêng biệt. Hình

dạng cảm tính có vai trò trong nhận thức là nhờ nó mà cảm giác trở nên cảm thụ

tích cực.

Đơn Xcốt (1265 - 1308): Tri thức được hình thành từ tinh thần và từ đối

tượng nhận thức. Tinh thần tuy có vai trò to lớn trong nhận thức nhưng cũng vẫn

phải phụ thuộc vào đối tượng nhận thức. Cũng có cái ý chí "khơng ai biết được"

tựa hồ như quyết định tính chất hoạt động tinh thần của con người. Nhưng, theo

ĐơnXcốt, chỉ có những sự vật đơn nhất, cá biệt mới là thực tại cao nhất.

1.2.4. Nhận thức luận trong triết học Tây Âu thời kỳ phục hưng và cận

đại

Những thành tựu khoa học tự nhiên có ảnh hưởng to lớn đến nhận thức

duy vật về thế giới trong triết học Tây Âu thời kỳ phục hưng, nổi hơn cả là

thuyết nhật tâm (lấy mặt trời làm trung tâm) của Nicơlai Cơpécních (1475 1543), để bác bỏ thuyết địa tâm của Ptôlêmê (người Hy Lạp thế kỷ II), một giả

thuyết sai lầm coi quả đất là trung tâm của hệ mặt trời. Thuyết nhật tâm của

Cơpécních đã giáng một đòn nặng nhất vào thần học, vào thế giới quan tôn giáo,

vào những truyền thuyết của tôn giáo.

Do sự phát triển của mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật trong xã hội Tây

Âu thời kỳ cận đại, đó là tiền đề cho sự phát triển rực rỡ của triết học, với các

đại diện tiêu biểu sau:

Bru nơ (1548-1600):Nhận thức luận của Bru-nơ có ý nghĩa lớn đối với

sự phát triển của triết học. Ông đã nêu ra quan niệm biện chứng trong vấn đề

nhận thức giới tự nhiên: "Ai muốn nhận thức những bí mật của giới tự nhiên thì

hãy xem xét cái tối thiểu và cái tối đa của những mâu thuẫn và những mặt đối

lập". Ơng đề cao vai trò của thực nghiệm và kinh nghiệm đòi hỏi khoa học tự

nhiên phải dựa trên thực nghiệm, đồng thời cũng hết sức coi trọng tư duy lý tính

trong q trình nhận thức. Mục đích cao nhất của tư duy là nắm bắt được qui

luật tự nhiên.

7



Q trình nhận thức được Brunơ chia thành ba giai đoạn. Giai đoạn đầu

là cảm giác, giai đoạn hai là là lý trí và giai đoạn cuối cùng- giai đoạn cao là trí

tuệ. Brunơ đã bị Giáo hội thiêu sống chính vì những tư tưởng triết học duy vật

chống lại chủ nghĩa kinh viện và những người đứng đầu giáo hội.

Phranxi Bêcơn (1561 - 1621): Ông cho rằng con người cần thống trị,

phải làm chủ giới tự nhiên. Điều đó có thực hiện được hay khơng, tất cả phụ

thuộc vào sự hiểu biết của con người. Bêcơn cho rằng tri thức là sức mạnh, sức

mạnh là tri thức.

Theo Bêcơn, phương pháp nhận thức tốt nhất là phương pháp quy nạp

tức là phương pháp đi từ cái riêng lẻ, ít chung hơn đến cái khái quát trừu tựơng,

nhiều chung hơn. Tri thức chân chính chỉ có thể đạt được bằng cách giải thích

những liên hệ nhân quả. Bêcơn coi phương pháp thực nghiệm là công cụ chủ

yếu của nhận thức khoa học; khoa học cần nhận thức giới tự nhiên, chứ không

cần những giáo lý của thần học.

Tômát Hốpxơ (1588 - 1679): Hốpxơ đã phát triển tư tưởng đúng đắn cho

rằng, cơ sở nhận thức là tri giác cảm tính. Nhưng do hạn chế về mặt lịch sử,

Hốpxơ vẫn chưa thể hiểu được mối quan hệ biện chứng của nhận thức cảm tính

và lý tính.

Xpinơda (1632 - 1677):Nhận thức luận của Xpinơda gồm bốn nội dung

chính. Một là, Thừa nhận khả năng nhận thức của con người là vô hạn; hai là,

Khơng thừa nhận có tư tưởng bẩm sinh và cho rằng, nhiệm vụ của nhận thức là

phải đạt tới việc phát hiện ra sự tồn tại của những nguyên nhân khách quan của

các "dạng thức", tức là của các sự vật đơn nhất; ba là, Chia quá trình nhận thức

của con người thành nhận thức cảm giác, nhận thức giác tính và trực giác. Trực

giác lý tính giúp chúng ta nhận thức được bản chất đích thực của thực thể; bốn

là, Giải quyết mối quan hệ giữa tất yếu và tự do một cách duy vật, tất yếu và tự

do không loại trừ nhau, mà phụ thuộc vào nhau- muốn có tự do phải nhận thức

và hành động theo cái tất yếu.



8



1.2.5. Nhận thức luận trong triết học cổ điển Đức cuối thế kỷ XVIII - nửa

đầu thế kỷ XIX

Kant (1724 - 1804): Ông chia tri thức của con người ra làm hai loại: tri

thức kinh nghiệm cảm giác và tri thức “tiên nghiệm” (tri thức có sẵn); ông chia

nhận thức của con người làm ba giai đoạn: Trực quan cảm tính, Giác tính phân

tích và Lý tính.

Lútvích Phơbách (1804 - 1872): Công lao của Phoiơbắc ở chỗ ông công

nhận con người có khả năng nhận thức được thế giới, những gì hơm nay chưa

nhận thức được thì các thế hệ mai sau tiếp tục nhận thức. Đối tượng nhận thức là

giới tự nhiên, là thế giới vật chất khơng phụ thuộc vào ý thức của con người.

Ơng đã phê phán kịch liệt những người theo chủ nghĩa hồi nghi và thuyết

khơng thể biết.

Trong khi phát triển lý luận nhận thức duy vật, Phơibách chỉ mới hiểu

được thực tiễn là tổng hợp những yêu cầu của con người về tinh thần, về sinh lý,

mà chưa nhận thức được nội dung cơ bản của thực tiễn là hoạt động vật chất của

con người, là lao động sản xuất vật chất, là đấu tranh giai cấp trong xã hội của

con người, và hoạt động thực tiễn của nó là cơ sở của nhận thức cảm tính và lý

tính. Đó là những hạn chế của ông trong lý luận nhận thức.



9



CHƯƠNG 2. QUAN NIỆM CỦA TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN VỀ BẢN

CHẤT QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC

2.1.Khái quát chung sự khác biệt

Đối lập với các quan điểm trên, chủ nghĩa duy vật thừa nhận khả năng

nhận thức của con người và coi nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan

vào trong đầu óc của con người. Tuy nhiên do hạn chế bởi tính trực quan, siêu

hình nên chủ nghĩa duy vật trước Mác đã coi nhận thức là sự phản ánh trực

quan, là bản sao chép nguyên xi trạng thái bất động của sự vật. Họ chưa thấy

được vai trò của thực tiễn đối với nhận thức.

Như vậy có thể nói, tất cả các trào lưu triết học trước triết học MácLênin đều quan niệm sai lầm hoặc phiến diện về nhận thức, những vấn đề về lý

luận nhận thức chưa được giải quyết một cách khoa học, đặc biệt chưa thấy

được vai trò của thực tiễn đối với nhận thức.

Bằng sự kế thừa những yếu tố hợp lý của các học thuyết đã có, khái quát

các thành tựu khoa học, C.Mác và Ph.Ăngghen đã xây dựng nên học thuyết biện

chứng duy vật về nhận thức. Học thuyết này ra đời đã tạo ra một cuộc cách

mạng trong lý luận nhận thức vì đã xây dựng được những quan điểm khoa học

đúng đắn về bản chất của nhận thức. Học thuyết này ra đời dựa trên các nguyên

tắc cơ bản sau:

Một là, thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan độc lập đối với ý

thức của con người. Theo đó, xét về bản chất, nhận thức ln mang tính thứ hai,

bị quyết định, chi phối bởi thế giới khách quan.

Hai là, thừa nhận khả năng nhận thức được thế giới của con người, coi

nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người, là

hoạt động tìm hiểu khách thể của chủ thể. Vì vậy, về ngun tắc, khơng có cái gì

mà con người khơng thể biết, chỉ có cái con người chưa biết. Trong tương lai,

với sự phát triển của khoa học và thực tiễn, dần dần con người sẽ biết. Nhận

thức chỉ có thể hoàn thành và thực hiện trong mối quan hệ giữa chủ thể và khách

thể nhận thức. Con người là chủ thể tích cực, sáng tạo của nhận thức. Khi nhận

thức, các yếu tố của chủ thể như lợi ích, lý tưởng, tài năng, ý chí, phẩm chất đạo

10



đức… đều tham gia vào quá trình nhận thức với những mức độ khác nhau và

ảnh hưởng đến kết quả nhận thức. Còn khách thể nhận thức là một bộ phận nào

đó của hiện thực mà nhận thức hướng tới nắm bắt, phản ánh, nó nằm trong phạm

vi tác động của hoạt động nhận thức. Do vậy, khách thể nhận thức không hoàn

toàn đồng nhất với toàn bộ hiện thực khách quan, phạm vi của khách thể rộng

đến đâu là tùy theo sự phát triển của khoa học. Như vậy, cả chủ thể nhận thức và

khách thể nhận thức đều mang tính lịch sử-xã hội.

Ba là, khẳng định nhận thức là một q trình tích cực, biện chứng, sáng

tạo. Sự phản ánh thế giới là một quá trình vận động, phát triển, mâu thuẫn chứ

không phải là một hành động tức thời, giản đơn, máy móc và thụ động. Q

trình nhận thức diễn ra theo con đường từ trực quan sinh động (nhận thức cảm

tính) đến tư duy trừu tượng (nhận thức lý tính) rồi từ tư duy trừu tượng đến thực

tiễn. Đó cũng là q trình nhận thức đi từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất

kém sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn.

Bốn là, nhận thức là quá trình trong đó con người thơng qua hoạt động

thực tiễn tác động vào hiện thực khách quan để nhận thức bản chất và quy luật

của hiện thực. Cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức là thực tiễn. Thực

tiễn vừa là động lực vừa là mục đích của nhận thức đồng thời là tiêu chuẩn của

chân lý.

Dựa trên nguyên tắc đó, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: nhận

thức là quá trình phản ánh biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới

khách quan vào trong đầu óc con người trên cơ sở thực tiễn.

2.2. Quan điểm của triết học Mác về nhận thức luận

Nhận thức là một quá trình biện chứng diễn ra rất phức tạp, bao gồm

nhiều giai đoạn, hình thức khác nhau. Tuỳ theo tính chất của sự nghiên cứu mà

quá trình đó được phân ra thành cấp độ khác nhau: nhận thức cảm tính và nhận

thức lý tính, nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận, nhận thức thông

thường và nhận thức khoa học.



11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

KHÁI NIỆM VÀ CÁC TƯ TƯỞNG TRƯỚC MÁC

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×