Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU



1.1. Cơ sở khoa học về sản suất nơng sản hàng hóa

1.1.1. Cơ sở lý luận

a. Khái quát chung về sản xuất hàng hóa

Lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội đã và đang trải qua hai kiểu

tổ chức kinh tế, đó là sản xuất tự cấp tự túc và sản xuất hàng hoá. Sản xuất

hàng hoá là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phâm được sản xuất ra nhằm

để trao đổi hoặc bán trên thị trường. Sản xuất hàng hoá ra đời là bước ngoặt

căn bản trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, để loài người thốt khỏi

tình trạng “mơng muội”, xố bỏ nền kinh tế tự nhiên, phát triển nhanh chóng

lực lượng sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội.

Sản xuất hàng hoá khác với kinh tế tự cấp tự túc, do sự phát triển của

phân công lao động xã hội làm cho sản xuất được chun mơn hố ngày càng

cao, thị trường ngày càng mở rộng, mối liên hệ giữa các ngành, các vùng ngày

càng chặt chẽ. Sự phát triển của sản xuất hàng hố đã xố bỏ tính bảo thủ, trì

trệ của nền kinh tế, đẩy nhanh quá trình xã hội hố sản xuất. Sản xuất hàng

hóa chỉ ra đời khi có đủ cả hai điều kiện là có sự phân công lao động xã hội

và sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất:

+ Phân công lao động xã hội tạo ra sự chun mơn hóa lao động, do đó

là chun mơn hóa sản xuất thành những ngành nghề khác nhau. Do phân

công lao động nên mỗi người sản xuất chỉ tạo ra một hoặc một vài loại sản

phâm nhất định. Song cuộc sống của mỗi người lại cần đến rất nhiều loại sản

phâm khác nhau. Để thỏa mãn nhu cầu đòi hỏi họ phải có mối liên hệ phụ

thuộc vào nhau, trao đổi sản phẩm cho nhau.



+ Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất. Sự

tách biệt này do các quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất, mà khởi

thủy là chế độ tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất, đã xác định người sở hữu tư

liệu sản xuất là người sở hữu sản phâm lao động. Như vậy, chính sự quan

hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất đã làm cho những người sản xuất độc

lập, đối lập với nhau, nhưng họ lại nằm trong hệ thống phân công lao động

xã hội nên họ phụ thuộc lẫn nhau về sản xuất và tiêu dùng. Trong điều kiện

đó người này muốn tiêu dùng sản phâm của người khác phải thông qua sự

mua - bán hàng hóa, tức là phải trao đổi dưới những hình thái hàng hóa.

Sản xuất hàng hóa có các đặc trưng và tư thế như sau:

+ Do mục đích của sản xuất hàng hóa khơng phải để thỏa mãn nhu cầu

của người sản xuất như trong kinh tế tự nhiên mà để thỏa mãn nhu cầu của

người khác, của thị trường. Sự gia tăng không hạn chế nhu cầu của thị trường

là một động lực mạnh mẽ thúc đây sản xuất phát triển.

+ Cạnh tranh ngày càng gay gắt, buộc mỗi người sản xuất hàng hóa phải

năng động trong sản xuất - kinh doanh, phải thường xuyên cải tiến kỹ thuật,

hợp lý hóa sản xuất để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản

phẩm, nhằm tiêu thụ được hàng hóa và thu được lợi nhuận ngày càng nhiều

hơn. Cạnh tranh đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ.

+ Sự phát triển của sản xuất xã hội với tính chất “mở” của các quan hệ

hàng hóa tiền tệ làm cho giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các địa phương trong

nước và quốc tế ngày càng phát triển. Từ đó tạo điều kiện ngày càng nâng cao

đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân.

b. Đặc điểm sản xuất nông sản hàng hóa

Nơng nghiệp có đặc điểm kinh tế, kỹ thuật, xã hội riêng biệt so với các

ngành sản xuất khác; đó là: Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào điều

kiện tự nhiên; mang tính thời vụ cao; đối tượng sản xuất nông nghiệp là sinh



vật, chu kỳ tái sản xuất kinh tế phụ thuộc vào chu kỳ tái sản xuất tự nhiên của

sinh vật nên thường có chu kỳ sản xuất dài. Nhu cầu về đầu vào như giống,

phân bón, thuốc trừ sâu, nguyên nhiên liệu, thức ăn chăn nuôi, lao động…

lượng nơng sản hàng hố cung ra trên thị trường cũng mang tính thời vụ. Thực

tế này ảnh hưởng đến quan hệ cung cầu, ảnh hưởng đến việc hình thành giá cả

trên thị trường, dẫn đến sự dao động lớn của đầu vào và đầu ra theo mùa vụ.

Phần lớn các nông sản được cung ra trên thị trường vào những thời

điểm nhất định, thường là sau thu hoạch; nhưng nhu cầu về các sản phẩm đó

lại hầu như liên tục và kéo dài trong cả năm, việc dự trữ, bảo quản, chế biến

nơng sản hàng hố là tất yếu. Sản xuất nơng nghiệp mang tính thời vụ nên khi

thu hoạch rộ thường làm cho các phương tiện dự trữ, bảo quản, chế biến, vận

chuyển có khi vượt quá khả năng và nhiều khi nông sản phâm không được

dùng hết, những sản phâm không bảo quản được phải chế biến ngay sau khi

thu hoạch.

Với những sản phâm không qua chế biến cần phải được người tiêu dùng

tiêu thụ, những vấn đề về phương tiện vận tải và phương thức, thời gian vận

chuyển đủ để đáp ứng yêu cầu chuyên chở nông sản phâm từ nơi sản xuất đến

nơi tiêu thụ; nhất là đối với những sản phẩm dễ hư hỏng, dễ giảm phâm cấp

khi vận chuyển cần được bảo quản tốt, tiêu thụ nhanh để đảm bảo chất

lượng và hạn chế hao hụt.

Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế được;

nước ta đất đai sản xuất nông nghiệp khá manh mún, lại do nhiều chủ sử dụng

quản lý nhất là đối với các tỉnh miền núi. Nông nghiệp phân bố trên phạm vi

khơng gian rộng lớn, phức tạp và mang tính khu vực rõ rệt; có nhiều tầng lớp

dân cư, dân tộc và trình độ dân trí khác nhau. Sản phâm nông nghiệp do các

thành phần và các tổ chức kinh tế khác nhau sản xuất như: Doanh nghiệp,

HTX, các trang trại, hộ nơng dân...; trong đó phần lớn nơng sản là do nông

dân sản xuất. Do các yếu tố trên nên khối lượng nông sản sản xuất ra thường

không lớn,



phân tán và chất lượng không đồng đều; người sản xuất và người tiêu thụ

thường khó kiểm sốt được số lượng và chất lượng sản phâm hàng hoá cung

ra thị trường. Do vậy quá trình tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm rất đa

dạng, phức tạp.

Nông nghiệp Việt Nam phát triển từ nền kinh tế tự cung, tự cấp sang

nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Do vậy, cần phải nhận thức, hiểu rõ

các đặc điểm của sản xuất nông sản và vận dụng tốt các quy luật kinh tế cơ

bản như: quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu… nhằm nâng

cao hiệu quả sản xuất. Cần làm tốt công tác quy hoạch, kế hoạch và tổ chức

thực hiện, chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Tổ chức sản xuất

rải vụ, trái vụ, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để chọn thời điểm thu

hoạch, tiêu thụ nông sản hợp lý, có hiệu quả cao.

d. Phát triển sản xuất và các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển sản xuất

* Khái niệm về sản xuất: Sản xuất là quá trình phối hợp và điều hòa các

yếu tố đầu vào (tài nguyên hoặc các yếu tố sản xuất) để tạo ra sản phâm hàng

hóa hoặc dịch vụ (đầu ra)

Có 2 phương thức sản xuất là:

- Sản xuất mang tính tự cung tự cấp, q trình này thể hiện trình độ còn

thấp của các chủ thể sản xuất, sản phâm sản xuất ra chỉ nhằm mục đích đảm

bảo chủ yếu cho các nhu cầu của chính họ, khơng có sản phâm dư thừa cung

cấp cho thị trường.

- Sản xuất cho thị trường tức là phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa,

sản phẩm sản xuất ra chủ yếu trao đổi trên thị trường, thường được sản xuất

trên quy mô lớn, khối lượng sản phẩm nhiều. Sản xuất này mang tính tập

trung chuyên canh và tỷ lệ sản phẩm hàng hóa cao. Phát triển kinh tế thị

trường phải



hướng theo phương thức thứ hai. Nhưng cho dù sản xuất theo mục đích nào thì

người sản xuất cũng phải trả lời được ba câu hỏi cơ bản là: Sản xuất cái gì?

Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào? Tóm lại sản xuất là quá trình tác

động của con người vào các đối tượng sản xuất, thông qua các hoạt động để

tạo ra các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phục vụ đời sống con người.

* Phát triển sản xuất: Từ những khái niệm về phát triển và khái niệm về

sản xuất trên, ta có thể hiểu một cách chung nhất về phát triển sản xuất như

sau: Phát triển sản xuất là quá trình nâng cao khả năng tác động của con

người vào các đối tượng sản xuất, thông qua các hoạt động nhằm tăng quy mô

về số lượng, đảm bảo hơn về chất lượng sản phâm, hàng hóa, dịch vụ phục vụ

đời sống ngày càng cao của con người. Như vậy có thể thấy phát triển sản

xuất được nhìn nhận dưới 2 góc độ: Thứ nhất đây là q trình tăng quy mơ

về số lượng sản phâm, hàng hóa, dịch vụ; Thứ hai là q trình nâng cao chất

lượng sản phâm, hàng hóa, dịch vụ. Cả hai q trình này đều nhằm mục đích

phục vụ cho đời sống của con người. Phát triển sản xuất là yêu cầu tất yếu

trong quá trình tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia trên thế giới. Phát triển

sản xuất càng có vai trò quan trọng hơn nữa khi nhu cầu về các sản phâm

hàng hóa, dịch vụ càng ngày được nâng cao, đặc biệt hiện nay với xu thế

tăng mạnh nhu cầu về chất lượng sản phâm.

* Các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình phát triển sản xuất

+ Vốn sản xuất: là những tư liệu sản xuất như máy móc, thiết bị, các

phương tiện vận tải, kho tàng, cơ sở hạ tầng và kỹ thuật. Vốn đối với q trình

phát triển sản xuất là vơ cùng quan trọng. Trong điều kiện năng suất lao động

không đổi thì tăng tổng số vốn sẽ dẫn đến tăng thêm sản lượng sản phâm hàng

hóa. Tuy nhiên, trong thực tế việc tăng thêm sản lượng hàng hóa còn phụ

thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa, như chất lượng lao động, trình độ khoa học

kỹ thuật.



+ Lực lượng lao động: là yếu tố đặc biệt quan trọng trong quá trình phát

triển sản xuất. Mọi hoạt động của sản xuất đều do lao động của con người

quyết định, nhất là người lao động có trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm và kỹ

năng lao động. Do đó chất lượng lao động quyết định kết quả và hiệu quả của

quá trình phát triển sản xuất.

+ Đất đai: là yếu tố sản xuất không chỉ có ý nghĩa quan trọng với ngành

nơng nghiệp, mà còn rất quan trọng với sản xuất cơng nghiệp. Đất đai là yếu

tố cố định lại bị giới hạn về quy mô, nên người ta phải đầu tư thêm vốn và

lao động trên một đơn vị diện tích nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai.

Các loại tài nguyên khác trong lòng đất như khống sản, tài ngun rừng,

biển và tài nguyên thiên nhiên đều là những đầu vào quan trọng trong quá

trình phát triển sản xuất.

+ Khoa học và công nghệ: Quyết định đến sự thay đổi năng suất lao

động và chất lượng sản phẩm. Những phát minh sáng tạo mới được ứng dụng

trong sản xuất đã giải phóng được lao động nặng nhọc, độc hại cho người

lao động và tạo ra sự tăng trưởng nhanh chóng, góp phần vào sự phát triển

kinh tế của xã hội và đó là nhân tố quan trọng thúc đây nhanh quá trình phát

triển sản xuất.

+ Ngồi ra còn một số yếu tố khác: các hình thức tổ chức sản xuất, mối quan

hệ cân đối tác động qua lại lẫn nhau giữa các ngành, giữa các thành phần kinh

tế, các yếu tố về thị trường nguyên liệu, thị trường tiêu thụ sản phâm, các chủ

chương, chính sách của ðảng và Nhà nước liên quan đến phát triển sản xuất...

cũng có quyết định tới quá trình phát triển sản xuất.

1.1.2. Cơ sở thực tiễn

a. Sản xuất cam quýt hàng hóa trên thế giới



Các vùng trồng cam quýt nổi tiếng thế giới hiện nay chủ yếu nằm ở

những vùng khí hậu khá ơn hồ thuộc vùng Á nhiệt đới hoặc vùng ven biển

chịu ảnh hưởng chính của khí hậu đại dương. Những nước trồng cam quýt nổi

tiếng hiện nay phải kể đến là: Tây Ban Nha, Italia, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Ma

Rốc, Ai Cập, Ixraen, Hoa Kỳ, Mêhicô; Brazil, Vênêzuêla, Argentina, Cuba,

Jamaica, Trung Quốc và Nhật Bản.

Theo số liệu của Cục nông nghiệp nước ngồi - Bộ nơng nghiệp Mỹ USDA Tổng sản lượng quýt của thế giới niên vụ 2013/2014 ước đạt 26,0 triệu

tấn, tăng 5% so với năm trước, Trung Quốc và Ma Rốc là hai quốc gia tăng

sản lượng mạng nhất. Nhu cầu tiêu thụ tươi và xuất khẩu quýt của thế giới

cũng tiếp tục tăng mạnh.

Sản lượng quýt của Trung Quốc niên vụ 2013/2014 ước đạt 18,2 triệu

tấn, tăng 1,2 triệu tấn so với năm trước do thời tiết thuận lợi và đạt năng suất

cao. Sản lượng quýt của Trung Quốc chiếm 70% tổng sản lượng của cả thế

giới và chiếm 35% lượng xuất khẩu của thế giới.

Sản lượng, buôn bán và tiêu thụ quýt của khối Liên minh Châu Âu hầu

như không thay đổi so với năm trước, trong khi sản lượng của Nhật Bản tăng

10%, đạt

930.1



tấn trong niên vụ 2013/2014. Sản lượng của Thổ Nhĩ Kỳ cũng tăng



nhẹ, đạt 880.000 tấn. Sản lượng tại Mỹ cũng tăng nhẹ, đạt 674.000 tấn

Sản lượng quýt của Ma Rốc tăng mạnh, đạt 850.000 tấn trong niên vụ

2013/2014 do gặp thời tiết thuận lợi và tăng mạnh diện tích sản xuất. Sản xuất

tại Ma Rốc tăng mạnh là kết quả của chiến lược phát triển cây có múi của

chính phủ, bao gồm chính sách hỗ trợ trồng mới, áp dụng hệ thống tưới nhỏ

giọt và chính sách bảo hiểm cây trồng.

Bảng 1.1. Sản lượng, quýt của các nước trên thế giới

(Những nước có sản lượng trên 50.000 tấn)



(ĐVT: Tấn)

Quốc gia

Algeria

Argentina

Australia

Bolivia

Brazil

Chile

China

Colombia

Croatia

Egypt

Georgia

Greece

Iran

Israel

Italy

Japan

Mexico

Morocco

Nepal

Pakistan

Peru

Republic

South

Spain

Thailand

Turkey

United States of America

Uruguay

Venezuela



Năm 2014

227935

486630

100176

199001

965167

73094

16096656

132351

65000

956910

65900

140240

693844

143600

616973

874700

492039

1185388

149316

563607

339604

722325

171606

2389681

137726

1046899

664059

104846

158578



Năm 2015

262329

491384

101437

213116

1000546

78030

17020659

140633

35936

983246

71000

127490

666190

204000

822409

777800

486189

993182

149212

623012

357912

672045

175809

3592234

138456

1156365

764757

102282

138314



Nguồn: Faostat

b. Sản xuất cam quýt hàng hóa ở Việt Nam



Năm 2016

234165

468278

125233

225712

997993

84290

17315133

148950

52402

1020492

60000

129563

651571

164000

649148

805100

467451

1077628

146690

592132

403857

698741

180092

2941971

139666

1337037

779787

95095

158498



Theo tổng cục thống kê, diện tích trồng cam quýt cả nước năm 2011 là

68.900 ha, tập trung nhiều nhất ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long (35.900

ha). Diện tích cam quýt cho thu hoạch của cả nước là 56.300 ha. Trong đó

vùng đồng bằng sơng Cửu Long có diện tích cam qt cho thu hoạch

cao nhất (29.600 ha). Ở miền Bắc, các tỉnh: Hà Giang, Tun Quang, Hòa

Bình, Bắc Kạn… có diện tích trồng cam quýt lớn (Hà Giang 1.700 ha, Tuyên

Quang 2.800 ha, Bắc Kạn khoảng 1.300 ha…).

Năng suất cam quýt bình quân của cả nước hiện rất thấp, chỉ đạt 101,8

tạ/ha. Vùng Đông Nam bộ đạt năng suất cao nhất là 122,1 tạ/ha. tiếp đến là

vùng Đồng bằng sông Cửu Long 115,7 tạ/ha và Đồng bằng sông Hồng đạt

105,4 tạ/ha, thấp nhất là vùng Nam Trung bộ đạt 32,2 tạ/ha.

Tổng sản lượng cam quýt năm 2011 đạt 702.100 tấn, riêng vùng cam

quýt của Đồng bằng sông Cửu Long đạt 463.500 tấn ( chiếm 66% tổng sản

lượng), cao nhất trong 8 vùng trồng cam quýt trên cả nước. Thấp nhất là

vùng Tây Nguyên đạt 2.600 tấn (chiếm 0,4% tổng sản lượng toàn quốc).

Theo niên giám thống kê năm 2016 thì đến năm 2016, tổng diện tích

cam quýt của cả nước đạt 75.300 ha. Trong đó diện tích thu hoạch đạt 64.100

ha với sản lượng đạt 728.600 tấn. Cụ thể ở Bảng 1.2 sau đây:

Bảng 1.2. Diện tích và sản lượng cam quýt cả nước

Diện tích cho thu hoạch

(ha)



Năm



Tổng diện tích (ha)



2010



75.300



64.100



728.600



2013



70.300



56.600



706.000



2014



78.500



59.000



758.900



2015



85.400



58.400



727.400



2016



97.500



64.700



799.500



(Nguồn: Tổng cục thống kê năm 2016)



Sản lượng (tấn)



* Các vùng sản xuất quýt chủ yếu:

- Vùng Đồng bằng sông Cửu Long:

Theo Trần Thế Tục (1980), các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp,

Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng và An Giang có vị trí từ 9015’ đến

10030’ vĩ bắc và 1050 đến 106045’ kinh đơng, địa hình rất bằng phẳng, có độ

cao từ 3 - 5 m so với mực nước biển. Các yếu tố khí hậu, nhiệt độ, âm độ,

lượng mưa và ánh sáng ở vùng này rất phù hợp với việc phát triển sản xuất

cây có múi. Lịch sử trồng cam qt ở Đồng bằng sơng Cửu Long có từ lâu

đời nên người dân ở đây rất có kinh nghiệm trồng trọt, chăm sóc các loại cây

ăn quả có múi. Cam quýt được trồng chủ yếu ở các vùng đất phù sa ven sông

hoặc trên các cù lao lớn nhỏ của sơng Tiền, sơng Hậu có nước ngọt quanh

năm, nơi đây có tập đồn giống cam qt rất phong phú như: Quýt Tiều

(quýt hồng), cam Chanh, cam Sành, chanh Giấy, ...

- Vùng khu bốn cũ:

Gồm các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh trải dài từ 180 đến 20030’

vĩ bắc, trọng điểm trồng cam quýt vùng này là Phủ Quỳ - Nghệ An gồm một

cụm các Nông trường chuyên trồng cam với diện tích năm 1990 là 600 ha. Các

giống cam ở Phủ Quỳ có khả năng sinh trưởng tốt và năng suất tương đối ổn

định. Hai giống Sunkiss và Xã Đồi có ưu thế về tiềm năng, năng suất và sức

chống chịu sâu bệnh hại nặng trên cả cây và quả.

Huyện Hương Khê là một trong những vùng đất miền núi của tỉnh Hà

Tĩnh. Nhân dân ở đây đã có tập quán trồng bưởi lâu đời, đặc biệt là bưởi Phúc

Trạch, một trong những giống bưởi đặc sản ngon nhất hiện nay. Ngoài bưởi

Phúc Trạch ở vùng này còn có một giống cam qt rất nổi tiếng là cam Bù.

Cam Bù có quả to, ngon, màu sắc hấp dẫn, chín muộn nên có thể đưa vào cơ

cấu cam quýt chín muộn ở nước ta hiện nay. Cam Bù có năng suất cao nhờ có

bộ lá quanh hợp tốt và số lượng lá trên cây lớn, có tính chịu hạn tốt. Cam Bù

thường được trồng với mật độ cao (600 đến 1000 cây/ha) để cho cây chóng

giao tán, che phủ đất chống xói mòn và hạn chế ánh sáng trực xạ ở vùng núi

thấp.



- Vùng miền núi phía Bắc:

Vùng này có các tỉnh trồng cam qt với diện tích lớn đó là: Tuyên

Quang, Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang, Bắc Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn và Thái

Nguyên với điều kiện khí hậu hồn tồn khác với hai vùng trên, cam quýt

được trồng ở các vùng đất ven sông, suối như: Sông Hồng, Sông Lô, Sông

Thương, Sông Chảy... Cam quýt được trồng thành từng khu tập trung 500 ha

hoặc trên

1.000 ha như ở Bắc Sơn - Lạng Sơn, Bạch Thông - Bắc Kạn, Hàm Yên,

Chiêm Hoá - Tuyên Quang, Bắc Quang - Hà Giang, tại những vùng này cam

quýt trở thành thu nhập chính của hộ nơng dân, đem lại hiệu quả kinh tế cao

nhất so với các loại cây trồng khác trên cùng loại đất. Do địa hình sinh thái

phong phú dẫn đến có nhiều loại cam quýt, đặc biệt ở vùng núi phía bắc là

nơi chứa đựng tập đoàn giống cam quýt đa dạng với nhiều giống đặc sản

mang hương vị đặc trưng riêng có của từng vùng.

Khu vực huyện Bắc Sơn Bắc là vùng sản xuất cam qt ở khu vực phía

Đơng Bắc với giống Qt Bắc Sơn có màu sắc rất hấp dẫn, mã quả vàng sáng,

múi quả căng mọng màu vàng sẫm, ít hạt, ăn có vị ngọt đậm hơi chua, hương

vị rất đặc trưng mà qt ở nơi khác khơng có được. Theo thống kê, huyện Bắc

Sơn có tổng cộng gần 1.000 ha quýt, trong đó diện tích đã cho thu hoạch

quả gần 600 ha, sản lượng hàng năm đạt trên 1.600 tấn. Cây quýt tập trung

nhiều nhất tại một số xã như: Nhất Hoà, Nhất Tiến, Quỳnh Sơn, Bắc Sơn, Tân

Lập, Chiến Thắng, Vũ Sơn và Đồng ý. Có thời điểm cao nhất, diện tích cây

qt trên tồn huyện đã đạt tới trên 1.300 ha.

Vùng Bắc Quang - Hà Giang hiện nay là vùng sản xuất cam quýt lớn

của miền Bắc. Người ta tiến hành phân tích khí hậu vùng Bắc Quang, so

sánh với các vùng trồng cam quýt lớn ở miền bắc trước đây như Phủ Quỳ,

Sông Bôi, Bố Hạ và một số vùng cam quýt nổi tiếng trên thế giới như

Califocnia, Floria. Các chỉ tiêu phân tích như chế độ nhiệt, chế độ mưa, âm và

những điều kiện thời tiết



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×