Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phát triển đội ngũ CBQL trường THCS phải lấy đích để hướng tới là Chuẩn của đội ngũ CBQL trường THCS, trong đó lấy căn cứ làm cơ sở là các quy định trong Luật Giáo dục, Điều lệ trường THCS và chuẩn Hiệu trưởng trường THCS, trường THPT và trường phổ thông

Phát triển đội ngũ CBQL trường THCS phải lấy đích để hướng tới là Chuẩn của đội ngũ CBQL trường THCS, trong đó lấy căn cứ làm cơ sở là các quy định trong Luật Giáo dục, Điều lệ trường THCS và chuẩn Hiệu trưởng trường THCS, trường THPT và trường phổ thông

Tải bản đầy đủ - 0trang

36

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ

CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN YÊN LẬP, TỈNH PHÚ THỌ

2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, tình hình phát triển kinh tế - xã hội,

giáo dục huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ

2.1.1. Điều kiện tự nhiên huyện Yên Lập

Huyện Yên Lập nằm về phía Tây Bắc của tỉnh Phú Thọ, cách trung tâm

thành phố Việt Trì khoảng 70 km; phía Đơng giáp huyện Cẩm Khê và huyện

Tam Nơng (tỉnh Phú Thọ), phía Tây giáp huyện Văn Chấn (tỉnh Yên Bái), phía

Nam giáp huyện Thanh Sơn, Tân Sơn (tỉnh Phú Thọ) và phía Bắc giáp huyện Hạ

Hồ (tỉnh Phú Thọ).

Yên Lập là huyện miền núi cao, địa hình đa dạng và phức tạp, có nhiều dãy

núi cao, độ dốc lớn, hệ thống suối, khe, ngòi hẹp và dốc lại phân bố khơng đều

làm cho địa hình bị phân cách mạnh, giao thơng đi lại khó khăn.

n Lập nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, nhiệt độ trung bình năm vào

khoảng 22,5°C, cao nhất 39°C và thấp nhất 4-5°C. Có hai mùa chính: mùa đơng

lạnh và khơ hạn, kéo dài từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau với nhiệt độ trung

bình 14,2°-18°; mùa hè nóng và mưa nhiều, kéo dài từ tháng 6 đến tháng 9 với

nhiệt độ trung bình 28-30°C. Lượng mưa trung bình năm là 1.570 mm. Độ ẩm

trung bình trong năm là 86-89%, cao nhất lên đến 90% vào tháng 7.8 và thấp

nhất xuống đến 62% thường vào tháng 12 hàng năm.

Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 437,5 km 2, trong đó đất nơng nghiệp

chiếm 87,8% diện tích đất tự nhiên; tồn huyện có 17 đơn vị hành chính cấp xã

(01 thị trấn và 16 xã) với tổng số dân là 82.969 người. Trên địa bàn huyện có 01

đường quốc lộ 70B, có 05 tuyến đường tỉnh lộ là các tuyến đường 313, 321,

321B, 313D và 321C. Toàn bộ các tuyến đường tỉnh lộ trên địa bàn Yên Lập có

chiều dài là 107,1 km, nhưng chỉ có 26,7 km là đạt tiêu chuẩn cấp V miền núi,

còn lại là đường tương đương cấp VI hoặc chưa vào cấp, chất lượng kém đi lại khó

khăn nhất là vào mùa mưa.

2.1.2. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội huyện Yên Lập



37

Yên Lập có tổng số dân 82.969 người, trong đó nữ 42.029 người, chiếm

50,66%. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên bình quân trong giai đoạn 2001- 2007 là

1,117%/năm. Mật độ dân số năm 2007 là 190 người/km², là huyện thưa dân thứ

hai của tỉnh Phú Thọ (chỉ sau huyện Tân Sơn). Trong địa bàn huyện có 13 dân

tộc cùng sinh sống, trong đó dân tộc Mường chiếm khoảng 70%, dân tộc Dao

chiếm khoảng 3%, dân tộc Kinh chiếm khoảng 17%, còn lại là các dân tộc khác.

Nguồn lao động của huyện có 44.940 người, chiếm 54,16% tổng số dân trong huyện.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt 5,64%; trong đó nơng, lâm

nghiệp, thủy sản tăng 5,5%, cơng nghiệp và xây dựng tăng 10,07%, các ngành

dịch vụ tăng 4,44%. Giá trị tăng thêm bình quân 18 triệu đồng/người/năm. Cơ

cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ, tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp,

thủy sản 54,26%, ngành công nghiệp và xây dựng 12,9%, các ngành dịch vụ 32,84%.

Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản phát triển khá toàn diện trên cơ sở phát huy

lợi thế diện tích đồi rừng; các chương trình trọng điểm trong nơng, lâm nghiệp,

thủy sản và việc áp dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất được thực hiện có

hiệu quả; quy mơ sản xuất hàng hóa tăng trưởng tích cực. Diện tích cây lương

thực được duy trì ổn định, năng suất lúa đạt trên 52 tạ/ha, sản lượng lương thực

đạt 37,4 nghìn tấn; bình quân lương thực đạt 434kg/người/năm, tăng 3,5% so

với năm 2010. Các sản phẩm có lợi thế như: Cây nguyên liệu, chè, bưởi diễn,

lúa nếp gà gáy, chăn ni trâu, bò được tập trung chỉ đạo, khuyến khích phát

triển. Từ đó đã hình thành một số tiểu vùng sản xuất chuyên canh gắn với chế

biến và thị trường: Vùng chè Ngọc Lập, Ngọc Đồng, Minh Hòa; sản xuất lúa

nếp gà gáy chất lượng cao ở Mỹ Lung; cây dược liệu quế ở Trung Sơn, Thượng

Long; cây bưởi diễn ở Thượng Long, Xuân Thủy, … Đến nay, tồn huyện có

trên 100 mơ hình kinh tế trang trại tổng hợp có giá trị thu nhập hằng năm trên

100 triệu đồng. Huyện hực hiện trồng mới hơn 3.000 ha, bảo vệ 11.200 ha rừng

tự nhiên và rừng phòng hộ gắn với bảo vệ mơi trường sinh thái, nâng tỷ lệ che phủ

rừng đạt 68,3%; phát triển vùng sản xuất hàng hóa về nguyên liệu gỗ gắn với chế

biến, sản lượng gỗ khai thác hằng năm đạt 99.000 m3 gỗ và 200.000 Ste củi, …

Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển đa dạng theo hướng gắn với

vùng nguyên liệu và lợi thế về cây lâm nghiệp; chế biến gỗ, cây chè và khai thác,



38

sản xuất vật liệu xây dựng gắn với việc xây dựng kết cấu hạ tầng. Tồn huyện có

779 doanh nghiệp và cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, tăng 11,2% so với năm

2010, trong đó một số cơ sở sản xuất gạch xây dựng có dây chuyền kỹ thuật cao;

bước đầu hình thành cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp xã Lương Sơn và thị

trấn Yên Lập; thành lập mới làng nghề sinh vật cảnh Trung Ngãi, thị trấn Yên

Lập, tạo tiền đề thu hút đầu tư, giải quyết việc làm tại chỗ, tăng thu nhập cho

nhân dân.

Xây dựng kết cấu hạ tầng chủ yếu được xác định là một trong ba khâu đột

phá của nhiệm kỳ, trong 5 năm qua, huyện đã huy động và sử dụng có hiệu quả

các nguồn vốn đầu tư tập trung xây dựng hệ thống giao thông, thuỷ lợi, trường

học, trạm y tế, điện, nhà văn hố khu dân cư theo chuẩn nơng thơn mới với tổng

vốn đầu tư phát triển đạt 2.866 tỷ đồng. Hệ thống giao thông của huyện được

nâng cấp, tỷ lệ cứng hoá đường tỉnh lộ và huyện lộ đạt 90,45%, đường trục xã

đạt 31,14%; với 313 cơng trình thủy lợi đã nâng diện tích tưới cho cây nơng,

lâm nghiệp của toàn huyện đạt 90%; trên 95% dân số được dùng điện lưới quốc

gia; tỷ lệ phòng học kiên cố đạt 88%; 223/223 khu dân cư có nhà văn hố,

trong đó 94 nhà đạt chuẩn nơng thơn mới, đạt 42,2%.

Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới được tập cấp ủy,

chính quyền từ huyện đến cơ sở trung lãnh đạo, chỉ đạo, nhận thức của cán bộ,

đảng viên và nhân dân được nâng lên, nhân dân tự nguyện hiến đất và tài sản

trên đất trị giá trên 6 tỷ đồng để xây dựng các cơng trình hạ tầng. Việc huy động

và lồng ghép có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư góp phần từng bước hồn thiện

hệ thống kết cấu hạ tầng các xã theo chuẩn nông thôn mới; đến nay, tồn huyện

đạt 148/301 tiêu chí, bình qn đạt 9,25 tiêu chí/xã; đến hết năm 2015 hai xã

Hưng Long và Đồng Thịnh cơ bản đạt chuẩn nông thôn mới.

Lĩnh vực văn hóa - xã hội đạt được kết quả toàn diện. Sự nghiệp giáo dục,

đào tạo tiếp tục phát triển; chất lượng giáo dục, đào tạo không ngừng nâng cao;

cơ sở vật chất được quan tâm đầu tư, tồn huyện có 32 trường học đạt chuẩn

quốc gia. Cơng tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ Nhân dân được quan tâm chỉ

đạo và đạt kết quả tích cực, mạng lưới y tế cơ sở được củng cố, bình quân có 6

bác sỹ/vạn dân, có 7/17 xã, thị trấn đạt chuẩn y tế giai đoạn 2011 - 2020; tỷ lệ



39

người dân tham gia các loại hình bảo hiểm y tế đạt 92%. Hệ thống các thiết chế

văn hóa ở cơ sở được đầu tư theo hướng xã hội hóa, góp phần tăng nhanh số

người được hưởng thụ văn hóa; 223/223 khu dân cư có nhà văn hóa, trong đó 94

nhà đạt chuẩn nơng thơn mới. Phong trào “Tồn dân đồn kết xây dựng đời sống

văn hóa” phát triển mạnh, mang lại hiệu quả thiết thực và ngày càng đi vào

chiều sâu; công tác bảo tồn và phát huy các giá trị lịch sử - văn hoá, lễ hội văn

hoá truyền thống các dân tộc được chú trọng.

Công tác đào tạo nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, thực hiện các chính sách

đối với người có cơng và an sinh xã hội đạt được nhiều kết quả; thực hiện có

hiệu quả đột phá về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, số lao động qua đào

tạo 4.220 người, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 25%, tạo việc làm mới cho

4.500 lao động, xuất khẩu lao động 668 người. Cơng tác giảm nghèo đạt kết quả

tích cực, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 44,8% xuống 16%. Thực hiện đầy đủ, kịp thời

chế độ chính sách đối với người có cơng và các chính sách an sinh xã hội; xố

1.132 nhà tạm cho hộ nghèo theo Quyết định 167/QĐ-TTg và 163 nhà ở cho

người có cơng, tổng kinh phí 30,02 tỷ đồng [1].

2.1.3. Tình hình phát triển giáo dục huyện n Lập

Năm học 2014 - 2015, tồn huyện có 59 cơ sở giáo dục, trong đó có 5 đơn

vị trực thuộc Sở GD&ĐT và 54 đơn vị trực thuộc Phòng GD&ĐT (trong đó 18

trường mầm non, 18 trường tiểu học, 17 trường THCS và 01 trường 2 cấp học là

TH&THCS Nga Hồng) với tổng số 727 nhóm (lớp học), 18.340 học sinh; tổng

số 1.739 cán bộ, giáo viên, nhân viên. Trong đó:

Giáo dục Mầm non: Tổng số 18 trường với 230 nhóm, lớp (trong đó nhóm

trẻ: 46, lớp mẫu giáo: 184); tổng số học sinh: 6.312 (trong đó nhóm trẻ: 1.182,

mẫu giáo: 5.130). Tỷ lệ huy động trẻ nhà trẻ: 27,4%, mẫu giáo: 96,6%, trẻ 5 tuổi

đến trường đạt 100%.

Giáo dục Tiểu học: Tổng số 18 trường với 335 lớp, số học sinh: 7.324. Huy

động trẻ 6 tuổi vào học lớp 1 đạt 100%; 18/18 trường tổ chức học 2 buổi/ngày,

số học sinh được học 2 buổi/ngày đạt 100%.

Giáo dục THCS: Tổng số 18 trường (trong đó có 01 trường Tiểu học và

THCS) với 162 lớp, số học sinh: 4.704. Học sinh hồn thành chương trình tiểu

học vào học lớp 6 đạt 99,1%.



40

Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Huyện ủy, HĐND,

UBND huyện, sự chỉ đạo của Sở GD&ĐT, sự phối hợp giúp đỡ và tạo điều kiện

của các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội và sự nỗ lực cố gắng của

các nhà trường, sự nghiệp giáo dục đào tạo của huyện Yên Lập tiếp tục ổn định

và phát triển: Kế hoạch trường, lớp, học sinh đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch giao;

số lớp, số học sinh tăng so với năm học trước; tuyển sinh học sinh đầu cấp tiểu

học và THCS đạt tỷ lệ cao. Chất lượng giáo dục học sinh được nâng lên, tỷ lệ trẻ

suy dinh dưỡng giảm, hạnh kiểm tốt và học lực giỏi THCS được nâng lên so với

năm học trước; hằng năm có từ 18 đến 21% học sinh tốt nghiệp THPT trúng

tuyển vào các trường cao đẳng, đại học. Duy trì và củng cố kết quả phổ cập giáo

dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập

giáo dục THCS. Công tác xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục được

quan tâm cả về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức lối sống và chuyên môn

nghiệp vụ; tỷ lệ giáo viên dạy giỏi tăng cao, năm học 2014 - 2015 đã có 178

giáo viên được cơng nhận giáo viên dạy giỏi cấp huyện; công tác bồi dưỡng

thường xuyên được triển khai thực hiện đúng kế hoạch và đạt hiệu quả, tỷ lệ

giáo viên hồn thành chương trình bồi dưỡng thường xun cới kết quả được

đánh giá xếp loại giỏi và khá đạt tỷ lệ cao. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học

của các nhà trường được quan tâm đầu tư, tỷ lệ phòng học kiên cố của huyện đạt

88%. Công tác xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia được thực hiện tốt, đến

hết năm học 2014 - 2015, tồn huyện có 31/54 trường thuộc cấp học mầm non,

tiểu học, THCS đạt chuẩn quốc gia đạt tỷ lệ 57,4%. 17/17 xã, thị trấn có Trung

tâm học tập cộng đồng, hoạt động của các Trung tâm học tập cộng đồng đã góp

phần nâng cao dân trí, tun truyền phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng

và Nhà nước đễn với nhân dân, phổ biến kiến thức khoa học công nghệ cho nhân

dân ứng dụng vào thực tiễn lao động sản xuất và đời sống, góp phần nâng cao

đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.

Bên cạnh những kết quả đạt được, sự nghiệp giáo dục và đào tạo huyện n

Lập cũng còn gặp khơng ít khó khăn: Năm đầu tiên thực hiện đổi mới căn bản,

toàn diện GD&ĐT, nhiều nội dung phải triển khai, thực hiện mới mẻ, do vậy có

dấu hiệu lúng túng trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện. Năng lực, kinh nghiệm



41

của một số CBQL và trình độ, năng lực chun mơn, nghiệp vụ của một số giáo

viên còn hạn chế, ảnh hưởng đến kết quả triển khai, thực hiện đổi mới giáo dục;

một bộ phận giáo viên chưa thực sự tận tụy, tâm huyết với nghề, chưa yên tâm

công tác, nhất là ở các trường vùng sâu, vùng xa.

Chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ mầm non còn hạn chế, tỷ lệ trẻ suy dinh

dưỡng còn cao hơn mặt bằng chung của tỉnh; chất lượng giáo dục học sinh giỏi

thể hiện qua các cuộc thi học sinh giỏi cấp huyện còn thấp, chưa có tính bền

vững; kết quả thi học sinh giỏi lớp 9 các mơn văn hóa cấp tỉnh giảm so với năm

học trước.

Cơ sở vật chất mặc dù đã được quan tâm đầu tư, song vẫn còn thiếu (giáo

dục mầm non còn phòng học tạm, phòng học nhờ), nhiều trường còn thiếu

phòng chức năng, phòng học bộ mơn, nhà điều hành. Kinh phí sửa chữa, chống

xuống cấp hằng năm của các nhà trường chưa đáp ứng được nhu cầu.

Tỷ lệ học sinh THCS và THPT bỏ học tuy đã giảm, song vẫn còn xảy ra ở

nhiều nơi. Nguyên nhân chủ yếu do dân cư ở phân tán, giao thông đi lại khó

khăn, nhiều thơn, bản xa trường học, nhà ở bán trú chưa đáp ứng được nhu cầu

của học sinh; đời sống của một bộ phận nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, nhận

thức về trách nhiệm và lợi ích đối với giáo dục của nhiều phụ huynh còn hạn chế.

Cơng tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội hiệu quả chưa cao,

sự phối hợp của các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương với các nhà trường

chưa thường xuyên; vai trò của Hội đồng giáo dục của một số xã, thị trấn chưa

rõ nét, chưa phát huy được hiệu quả. Công tác quản lý của một số nhà trường

chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục.

2.2. Thực trạng giáo dục THCS huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ

2.2.1. Quy mô trường, lớp và học sinh THCS

Tồn huyện n Lập có 18 trường THCS (trong đó có 01 trường Tiểu học

và THCS), bảo đảm mỗi xã, thị trấn có ít nhất 1 trường THCS cơng lập (riêng thị

trấn n Lập có diện tích rộng và dân số đơng nên có 2 trường THCS là THCS

Thị trấn 1 và THCS Thị trấn 2). Số trường THCS đạt chuẩn quốc gia có 8 trường

đạt tỷ lệ 44,4%; tính đến hết năm học 2014 - 2015, cấp THCS có 171 phòng học,

trong đó phòng học kiên cố 170 đạt tỷ lệ 99,4%, còn 01 phòng học cấp 4.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phát triển đội ngũ CBQL trường THCS phải lấy đích để hướng tới là Chuẩn của đội ngũ CBQL trường THCS, trong đó lấy căn cứ làm cơ sở là các quy định trong Luật Giáo dục, Điều lệ trường THCS và chuẩn Hiệu trưởng trường THCS, trường THPT và trường phổ thông

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×