Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 Mô tả phẫu diện

3 Mô tả phẫu diện

Tải bản đầy đủ - 0trang

ký hiệu cụ thể của mỗi nước, mỗi đơn vị hành chính hoặc một vùng xác định. Ví dụ: NB112

có nghĩa là Ninh Bình số 112.

- Ngày mơ tả

- Người mô tả

- Tên đất (đơn vị đất) tuỳ thuộc vào hệ thống phân loại đất của địa phương hoặc đơn vị

chú dẫn bản đồ nơi đào phẫu diện

- Địa điểm: Mơ tả vị trí phẫu diện khoảng cách (m, km) tới các mốc cố định dễ nhận

biết trên bản đồ và ngoài thực địa. Khoảng cách dọc các con đường lớn hoặc đường ngang có

liên hệ với điểm mốc (như cây số…km). Việc mô tả địa điểm nhằm để cho những người

khơng quen thuộc với vùng đó cũng có thể xác định gần đúng vị trí của phẫu diện.

Khi mơ tả địa điểm cần liên hệ tới đơn vị hành chính như nước, vùng, tỉnh, huyện

hoặc địa phương. Thơng tin này có thể trình bày bằng ký hiệu riêng hay như một bộ phận của

số phẫu diện.

- Độ cao: Độ cao so với mặt nước biển được xác định chính xác dựa vào bình độ trên

bản đồ địa hình chi tiết. Thông tin này không phải lúc nào cũng sẵn có, tốt nhất là xác định

bằng máy đo độ cao.

- Toạ độ: Vĩ độ và kinh độ của vị trí có thể xác định chính xác trực tiếp từ bản đồ địa

hình hoặc bằng máy định ví tồn cầu (GPS).

- Địa hình: Địa hình quan hệ với sự khác nhau về độ cao của mặt đất ở qui mô lớn và

được xác định như sau:

F: Bằng phẳng :

0,0-0,5%

R: Gồ ghề

: 10,0-15,0%

A: Khá bằng

:

0,5-2,0%

F: Đồi

: 15,0-30,0%

G: Lượn sóng nhẹ:

2,0-5,0%

S: Dốc phân cắt: 30% độ cao trung bình

U: Lượn sóng

:

5,0-10,0% M: Núi

: 30% độ cao lớn (>300m)

- Địa mạo: Địa mạo quan hệ với hình dạng của mặt đất trong vùng quan sát. Địa mạo

được mô tả theo thuật ngữ địa lý hình thái, được phân biệt thành hai mức. Mức độ cao tương

ứng với quan điểm của Soter (1990) sử dụng 7 dáng đất chủ yếu để chỉ cảnh quan địa lý

chung của vùng

MU: Núi UP: Vùng đất bằng cao

BT: Cao nguyên

VA: Thung lũng

HI : Đồi PL: Đồng bằng

BA: Bồn trũng

Các dạng địa mạo có thể được chia nhỏ hơn theo các yếu tố cấu tạo đất:

AP: Đồng bằng phù sa

PN: Bán bình nguyên

DT: Đồng bằng

CP: Đồng bằng ven biển PE: Đồng bằng trước núi TF: Bãi ngập triều

LP: Đầm hồ bằng trũng VO: Núi lửa

PY: Đáy hồ khô vùng hoang

GP: Đồng bằng băng giá DU: Cồn, đụn

mạc

- Độ dốc: Độ dốc được đo bằng dụng cụ đo độ dốc cầm tay thẳng theo hướng dốc,

hoặc tính tốn độ dốc trên cơ sở đường bình độ trên bản đồ địa hình. Độ dốc có thể được ghi

theo hai cách: hoặc ghi trị số đo thực tế đo được hoặc ghi theo phân cấp dưới đây, các cấp này

cần được thay đổi cụ thể hố cho phù hợp với địa hình của địa phương:

01: Rất bằng

:

0,0-0,2%

06:

Dốc vừa

:

5,0-10,0%

02: Bằng

:

0,2-0,5%

07:

Dốc cao

:

10,0-15,0%

03: Tương đối bằng :

0,5-1,0%

08:

Dốc đứng vừa :

15,0-30,0%

04: Dốc rất nhẹ

:

1,0-2,0%

09:

Dốc đứng

:

30,0-60,0%

05: Dốc nhẹ

:

2,0-5,0%

10:

Rất dốc

:

>60,0%

- Tiểu địa hình: Tiểu địa hình tuỳ thuộc vào sự khác biệt tự nhiên hoặc nhân tạo về độ

chênh cao trong phạm vi hẹp:

LE: Không phân biệt, lớp mặt gần như là HU: Gò, đống

bằng phẳng

GE: Khơng có gì đặc biệt

HL: Gò, đống thấp, độ chênh cao <20cm

GL: Ít khác biệt, đọ chênh cao trong vòng HM: Gò đống trung bình, độ chênh cao 2010m là < 20cm

40cm

GM: Khác biệt trung bình, độ chênh cao HH: Gò, đống cao, độ chênh cao > 40cm

7



trong vòng 10m: 20-40cm

GH: Khác biệt nhiều, độ chênh cao trong SS: Cát di động

vòng 10m là > 40cm

TM: Ổ mối hoặc ổ kiến

TS: Bậc thềm cao

AT: Dấu vết do động vật đi lại

KI: Gợn sóng nhẹ

AG: Hang hốc động vật

- Mẫu chất, đá mẹ:

Mẫu chất:

AU: Trầm tích do MA: Trầm tích biển LO: Đất lợt (hồng OR: Trầm tích hữu

gió

thổ)



AS: Cát bay

LA: Trầm tích hồ

UA: Tro núi lửa

CO: Lở tích

LI: Trầm tích ven FL: Trầm

tích PY: Đá vụn núi lửa WE: Mẫu chất đã

biển

sơng

phong hố

LG: Trầm

tích AL: Phù sa

GL: Trầm tích băng SA: Bùn

trong vụng

Đá mẹ:

AC: Mácma axit

AN: Andezit

DO: Đolerit

MA: Đá hoa

GR: Granit

DI: Điorit

SE: Trầm tích

CO: Cuội kết

GN: Gơnai

BA: Mácma bazơ LI: Đá vơi

SI:

Phấn sa

GG: Granit/gơnai

UB: siêu bazơ

SA: Đá cát

PY: Đá vụn núi lửa

QI: Quaczit

GA: Gabro

QS: Đá cat quắc zit

DM: Dolomit

SC: Đá phiến

BT: Bazan

SH: đá phiến

NK: không biết

- Đá lộ đầu: Đá gốc lộ ra có thể gây cản trở việc sử dụng cơ giới hố. đá lộ đầu được

mơ tả bằng tỷ lệ phần trăm có trên mặt đất cùng với các thơng tin có liên quan đến độ lớn,

khoảng cách hoặc độ cứng.

Phân cấp theo tỷ lệ phần trăm bao phủ lớp đất mặt:

N: Khơng có

C: Trung bình: 5-15%

D: Dày đặc: > 80%

V: Rất ít: 0-2%

M: Nhiều: 15-40%

F: Ít: 2-5%

A: Rất nhiều: 40-80%

Phân cấp theo khoảng cách trung bình giữa các đá lộ đầu

1: > 50 m; 2: 20-50 m; 3: 5-20 m; 4: 2-5 m; 5: < 2 m

- Mảnh vụn thô: Sự xuất hiện những mảnh vụn thô trên lớp đất mặt ít hoặc nhiều cũng

được mơ tả bằng tỷ lệ % bao phủ lớp mặt và kích thước của mảnh vụn.

Phân cấp theo tỷ lệ: N: Khơng có; V: Rất ít: < 2%; F: Ít: 2-5%; C: Trung bình: 5-15%;

M: Nhiều: 15-40%; A: Rất nhiều: 40-80%; D: Dày đặc: > 80%.

Phân cấp theo kích thước: F: Sỏi sạn mịn: 0,2-0,6 cm; M: Sỏi sạn trung bình: 0,6-2

cm; C: Sỏi sạn thô: 2-6 cm; S: Đá mảnh: 6-20 cm; B: Đá cục: 20-60 cm; L: Đá cục to: 60200cm.

- Xói mòn: Có thể do tự nhiên hoặc con người. Có xói mòn do nước: N, xói mòn do

gió: W, và sự di chuyển mạnh từng khối (trượt đất và các hiện tượng tương tự): M.

Các kiểu xói mòn được phân loại như sau: WS: Xói mòn tồn lớp mặt; WR: Xói mòn

tia (khe nhỏ); WG: Xói mòn rãnh; WT: Xói mòn thành đường hầm; WA: Xói mòn do gió và

nước; AD: Bồi tụ do gió; AM: Xói mòn và bồi tụ do gió; AS: Cát di động.

Diện tích bị ảnh hưởng của xói mòn và lắng đọng được đánh giá theo phân cấp của

GLASOD (UNEP-ISRIC, 1990): 0: 0%; 1: < 5%; 2: 5-10%; 3: 10-25%; 4: 25-50%; 5: > 50%.

Mức độ xói mòn:

S: Nhẹ: Một số dấu hiệu phá huỷ tầng đất mặt. Các chức năng sinh học thuần tuý hầu như

còn ngun vẹn.

M: Trung bình: Dấu hiệu di chuyển tầng mặt rõ. Chức năng sinh học thuần tuý bị phá huỷ

một phần.

V: Nghiêm trọng: Tầng mặt bị di chuyển hoàn toàn và lộ ra tầng dưới. Chức năng sinh học

bị phá huỷ phần lớn.

8



E:



Cực kì nghiêm trọng: Di chuyển mạnh cả ở tầng sâu hơn (đất đai cằn cỗi). Chức năng

sinh học bị phá huỷ hoàn toàn

- Tiêu nước: Khả năng tiêu nước có thể mơ tả như sau:

E: Cực kỳ dễ tiêu: Nước thốt rất nhanh. Đất nói chung có thành phần cơ giới thơ hoặc lẫn

đá, đất tầng mỏng hoặc độ dốc lớn.

S: Đôi khi cực kỳ dễ tiêu: Nước thoát nhanh. Đất cát, nước dễ thấm.

W: Dễ tiêu: Nước thốt dễ dàng nhưng khơng nhanh. Đát vẫn duy trì độ ẩm tốt, nước khơng

cản trở sự sinh trưởng của rễ cây vào những thời kỳ cần thiết.

M: Dễ tiêu trung bình: Nước thốt chậm trong một số thời kỳ trong năm. Vùng rễ đất ẩm

ướt trong giai đoạn ngắn. Hầu hết đất có tầng khơng thấm nước, hoặc có thể thấm nước

nhưng có lượng mưa lớn.

I:

Đơi khi khó tiêu (tiêu khơng hồn tồn): Nước thốt chậm do đó lớp đất trên ẩm ướt

trong thời gian dài. Hầu hết đất có tầng khơng thấm nước. Mực nước ngầm nơng hoặc

do mưa rất thường xun.

P: Khó tiêu: Nước thốt rất chậm. Đất bị ẩm ướt trong thời gian đáng kể, có tầng khơng

thấm nước ở nơng vì vậy nước ngầm ở gần mặt đất hoặc có lượng mưa cao hầu hết các

ngày.

- Ngập lụt:

Ngập lụt hoặc tràn ngập tạm thời được mô tả về tần suất, thời gian và độ sâu:

Tần suất:

N: Không ngập; D: Hàng ngày; W: Hàng tuần; M: Hàng tháng; A: Hàng năm; B: Hai năm một

lần; F: Một lần trong 2-4 năm; T: Một lần trong 5-10 năm; R: Hiếm (ít nhất một lần trong 10

năm); NK: Không biết.

Thời gian:

1: Không đến một ngày; 2: Ngập 1-15 ngày; 3: Ngập 15-30 ngày; 4: Ngập 30-90 ngày; 5:

Ngập 90-180 ngày; 6: Ngập 180-360 ngày; 7: Ngập liên tục.

Độ sâu:

1: Rất nông: 0-25 cm; 2: Nông: 25-50 cm; 3: Sâu trung bình: 40-100 cm; 4: Sâu: 100-150 cm;

5: Rất sâu: > 150 cm.

- Nước ngầm: Được mô tả theo độ sâu

Nước ngầm:

N: Không quan sát; V: Rất nông: < 25 cm; S: Nông: 25-50 cm; M: Sâu trung bình: 50-100 cm;

D: Sâu: 100-150 cm; E: Rất sâu: > 150 cm.

- Sử dụng đất: mô tả sử dụng đất hiện tại:

S: Dân cư, công nghiệp

SR: Sử dụng cho nhà ở; SC: Sử dụng cho giải trí; SI: Sử dụng cho công nghiệp; SX:

Sử dụng cho khai thác; ST: Sử dụng cho giao thông.

A: tRỒNG TRỌT

AA : Cây trồng hàng năm

AP : Cây trồng lâu năm

AA1: Canh tác du canh

AP1: Canh tác khơng có tưới

AA2: Canh tác đất bỏ hoang

AP2: Canh tác có tưới

AA3: Canh tác đất bỏ hố

AA4: Canh tác nhờ mưa

AT : Cây gỗ và cây bụi

AA5: Canh tác lúa nước

AT1: Canh tác cây gỗ không tưới

AA6: Canh tác được tưới

AT2: Canh tác cây gỗ có tưới

AT3: Canh tác cây bụi không tưới

AT4: Canh tác cây bụi có tưới

H: Chăn ni

HE : Đồng cỏ tự nhiên

HI :

Đồng cỏ thâm canh

HE1: Du cư

HI1:

Sản phẩm cho chăn nuôi

HE2: Bán du cư

HI2:

Chăn nuôi gia súc lấy sữa

HI3 : Chăn nuôi gia súc lấy thịt

9



F: Rừng

FN : Rừng tự nhiên và rừng cây gỗ

FN1: Khai thác có lựa chọn

FN2: Khai thác hết

M: Canh tác kết hợp

MF: Nông lâm kết hợp

MP: Trồng trọt chăn nuôi kết hợp

E: khai thác và thu lượm

EV: Khai thác thực vật tự nhiên

EK: Săn bắn và đánh bắt cá

P: Bảo tồn tự nhiên

PN : Bảo tồn tự nhiên và trò chơi

PN1: Dự trữ

PN2: Cơng viên

PN3: Quản lý tự nhiên

U: Không sử dụng và không quản lý



FP :



Rừng trồng



PD :

PD1:

PD2:



Điều khiển sự suy thối

Khơng có sự can thiệp (tác động)

Có sự can thiệp



Ngồi ra còn có các ký hiệu bổ sung thể hiện các kiểu sử dụng đất đặc biệt, ví dụ:

AA4: Canh tác nhờ mưa; AA4T: Canh tác nhờ mưa truyền thống; AA4I: Canh tác nhờ mưa

truyền thống có cải tiến; AA4M: Canh tác nhờ mưa truyền thống được cơ giới; AA4C: Canh

tác nhờ mưa sản xuất hàng hố; AA4U: Canh tác nhờ mưa khơng được định rõ.

Đối với đất canh tác cần nêu các cây trồng chủ yếu và những thông tin về quản lý đất,

sử dụng phân bón, thời gian bỏ hố, hệ thống ln canh và năng suất.

- Thực vật: Khơng có hệ thống thống nhất về mô tả thực vật tự nhiên hoặc bán tự

nhiên. Loại thực vật có thể được mơ tả theo hệ thống địa phương, vùng hoặc quốc tế.

Có thể mơ tả theo thuật ngữ chung như sau:

N: Khơng có thực vật

G: Đồng cỏ: Cỏ xen ít các loại cây họ hồ thảo, khơng có cây gỗ

FO: Đất có các loại cây họ hoà thảo, chủ yếu là cây họ hoà thảo

R: Rừng: Trồng cây dày đặc, cây lớn và cây bụi phân biệt rõ ràng (rừng nhiều tầng0

W: Rừng gỗ: Cây dày đặc, thường không xâm nhập được, dưới tán rừng có thể là khoảng

trống (rừng một tầng).

S: Cây bụi: Thảm cây bụi liên tục, dày đặc nhưng xâm nhập được.

SA: Đồng cỏ: Đồng cỏ có thảm cây gỗ và cây bụi xen kẽ khơng liên tục

Thực vật có thể được chia kỹ hơn theo độ cao của cây gỗ cây bụi và cỏ. Ví dụ đồng cỏ

dưới tán cây gỗ và cây bụi, hoặc đồng cỏ cây bụi thấp; đồng cỏ cao, trung bình, thấp; hoặc

theo mật độ của cây và độ che phủ mặt đất.

Có thể phân loại thực vật theo UNESCO (1973) như sau:

F:

Rừng dày đặc

W:

Rừng gỗ

D:

Cây bụi thấp lùn

FE: Rừng thường xanh

WE: Rừng gỗ thường xanh DE: Cây bụi thấp thường xanh

FS: Rừng bán rụng lá

WS: Rừng gỗ bán rụng lá

DS: Cây bụi thấp bán rụng lá

FD: Rừng rụng lá

WD: Rừng gỗ rụng lá

DD: Cây bụi thấp rụng lá

FX: Rừng vùng khô hạn

WX: Rừng gỗ vùng khô DX: Cây bụi thấp vùng khô hạn

hạn

DT: Tundra: Lãnh nguyên S:

Cây bụi

H:

Cây họ hoà thảo

SE: Cây bụi thường xanh HT: Đồng cỏ cao

SS: Cây bụi bán rụng lá

HM: Đồng cỏ trung bình

SD: Cây bụi rụng lá

HS: Đồng cỏ thấp

SX: Cây bụi vùng khơ hạn HF: Hồ thảo

Trong phần này có thể mơ tả thêm độ cao của cây, độ rộng của tán lá, độ che phủ. Cây

gỗ, cây bụi, cỏ và cây họ hoà thảo nếu biết rõ thì ghi cụ thể tên và ưu thế của chúng.



10



2.3.2 Mơ tả tầng đất

Hình thái của đất và các đặc tính khác được mơ tả theo các tầng. Mặt quan sát phải

phẳng, vì vậy trước khi mơ tả theo các tầng dùng mai hoặc xẻng vạt từ trên xuống, tránh áp

lưỡi mai (xẻng) miết đất làm mất trạng thái tự nhiên của đất.

* Các tầng đất

+ Ký hiệu: Ký hiệu được sử dụng để gọi tên các tầng bao gồm:

- Chữ cái viết hoa: H, O, A, E, B, C và R để chỉ các tầng và lớp chính của đất.

- Chữ cái viết thường được sử dụng là các hậu tố để định tính cho các tầng chính. Chữ

cái viết thường để ngay sau chữ cái viết hoa. Chữ cái viết thường cũng có thể được sử dụng

để chỉ hai đặc điểm xuất hiện đồng thời trong tầng đất. Ví dụ, b: tầng đất bị chơn vùi, c: Sự

tích luỹ ở dạng kết von, g: Đốm phản ánh sự biến đổi về oxi hoá khử, J: Đốm Jarosite, k: Tích

luỹ cacbonat, m: Sự gắn kết hoặc đơng cứng, n: Tích luỹ natri, o. Sự tích luỹ secquioxit, p. Sự

cày bừa hoặc xáo trộn…).

- Chữ số Ả Rập dùng là hậu tố để chỉ sự phân nhỏ theo chiều thẳng đứng của tầng đất.

Các hậu tố là số luôn luôn đi sau các ký hiệu là chữ cái: Ví dụ Bt1 – Bt2 – Bt3 – Bt4 hoặc

AB1 – AB2…).

+ Các tầng chính (master horizons): Là các tầng và lớp chủ yếu trong phẫu diện đất.

Các tầng và lớp này được biểu thị bằng các chữ cái viết hoa H, O, A, E, B, C và R. Các tầng

chính biểu thị các lớp đất có sự thay đổi rõ rệt, hầu hết là các tầng phát sinh (trừ hai tầng C và

R, có thể gọi là lớp, khơng phải là tầng phát sinh vì khơng được hình thành do tác động của

các quá trình hình thành đất). Các tầng phát sinh khơng tương đương với các tầng chẩn đốn,

mặc dù chúng có thể là đồng nhất trong các phẫu diện đất. Tầng chẩn đoán được xác định một

cách định lượng theo các đặc điểm dùng trong phần phân loại đất. Các tầng đất chính bao

gồm:

- Tầng H: Là tầng hữu cơ đã hoặc đang được hình thành do sự tích luỹ các chất hữu cơ

trên bề mặt đất bị bão hoà nước trong một thời gian dài và chứa 18 % cacbon hữu cơ hoặc

hơn nếu phần khoáng của đất chứa hơn 60% sét, hoặc 12 % cacbon hữu cơ hoặc hơn nếu phần

khống của đất khơng chứa sét, hoặc có tỷ lệ cacbon hữu cơ trung gian nếu tỷ lệ sét trung

gian.

Các tầng H hình thành ở trên mặt của các đất ẩm ướt, hoặc là các lớp tích luỹ dày của

các đất hữu cơ, hoặc là các lớp mỏng than bùn trên các đất khống và cũng có thể bị chôn vùi

dưới lớp mặt.

- Tầng O: Là tầng hữu cơ đã hoặc đang được hình thành do sự tích luỹ chất hữu cơ

trên bề mặt đất khơng bị bão hoà nước trong một thời gian dài hơn một năm và chứa 20%

cacbon hữu cơ hoặc hơn.

Các tầng O là những tầng phát triển trên bề mặt của các đất khống, ví dụ như lớp

mùn thơ phủ trên các đất chua. Chất hữu cơ ở các tầng O nói chung ít bị phân huỷ và xuất

hiện dưới các điều kiện tiêu nước tự nhiên tốt. Nó khơng bao gồm các tầng được hình thành

do lớp rễ cây đang phân giải nằm dưới lớp mặt của đất khống, mà đó là đặc trưng của các

tầng A. Các tầng O có thể bị chôn vùi dưới lớp mặt.

- Tầng A: Là tầng đã hoặc đang được hình thành ở sát liền với lớp mặt tích luỹ chất

hữu cơ đã được mùn hoá liên kết chặt với phần khoáng của đất hoặc về mặt hình thái khơng

có các đặc tính của các tầng E và B.

Chất hữu cơ ở các tầng A ít hơn so với tầng H và tầng O, đã được phân giải sâu sắc và

phân bố giống như các hạt mịn trong đất hoặc tồn tại như lớp màng trên bề mặt các hạt

khoáng của đất. Các tầng A thường có màu đậm hơn các tầng nằm kề phía dưới. Nguyên liệu

hữu cơ bắt nguồn từ tàn dư thực vật và động vật và được đưa vào đất thông qua hoạt động

sinh học hơn là sự di chuyển. Ở vùng khí hậu nóng khơ nó tích luỹ ít hoặc hầu như khơng tích

luỹ, các tầng trên mặt có thể kém đậm màu hơn so với các tầng nằm liền kề phía dưới. Nếu

tầng trên mặt có sai khác về hình thái so với cái đã được thừa nhận và khơng có những đặc

điểm đặc trưng của các tầng E và B thì nó được gọi là tầng A trên cơ sở vị trí bề mặt của

chúng.

11



- Tầng E: Là tầng khống có chứa nhiều nhóm hạt cát và limon do sự mất đi của sét

silicat, sắt hoặc nhôm và các hợp chất của chúng.

Các tầng E thường là các tầng được hình thành tại chỗ (eluvial), nằm dưới một tầng H,

O hoặc A, chúng được phân biệt với các tầng này bởi hàm lượng chất hữu cơ thấp và màu

nhạt hơn. So với tầng B nằm dưới, tầng E thường được phân biệt bởi màu sắc, value (giá trị)

cao hơn hoặc chroma (sắc độ) nhạt hơn, hoặc bởi thành phần cơ giới thô hơn, hoặc bởi cả hai.

- Tầng B: Là tầng khoáng mà ở đây cấu trúc của đá đã bị phá huỷ hồn tồn hoặc còn

rất mờ nhạt. Tầng này được được đặc trưng bởi một hoặc nhiều hơn trong các đặc điểm sau:

(-) Sự tích tụ của sét silicat, sắt, nhôm hoặc chất hữu cơ ở trạng thái riêng rẽ hoặc liên

kết.

(-) Sự tích tụ secqui oxit liên quan với các nguyên liệu gốc.

(-) Sự biến đổi của nguyên liệu từ trạng thái ban đầu đến khi các sét silicat được hình

thành, các oxít được giải phóng hoặc cả hai, hoặc cấu trúc dạng hạt, tảng hoặc cấu trúc lăng

trụ được hình thành.

Các tầng B có thể rất khác nhau.. Nói chung cần chứng minh mối quan hệ giữa các

tầng nằm trên và tầng nằm dưới và đánh giá xem tầng B được hình thành như thế nào trước

khi nó có thể được nhận dạng. Do vậy, các tầng B nói chung cần được định tính bằng một hậu

tố có ý nghĩa đầy đủ trong mơ tả phẫu diện. Ví dụ tầng B có nhiều mùn được gọi là tầng Bh,

tầng b chứa nhiều sắt gọi là tầng Bs, …Cần nhấn mạnh rằng sự đặt tên tầng ở đây chỉ là sự mơ

tả định tính. Chúng không được xác định định lượng như yêu cầu cho mục đích chẩn đốn.

Các tầng B có thể chỉ ra sự tích luỹ của cacbonat, thạch cao, hoặc các muối tan khác. Tuy

nhiên không dựa vào chúng để nhận biết tầng B.

- Tầng (lớp) C: Là tầng (hoặc lớp) khoáng chứa vật liệu khơng rắn chắc mà từ đó các

tầng đất bên trên được hình thành và khơng có các đặc tính chẩn đốn của các tầng đất chính

khác (A, E, B).

Theo truyền thống C thường được gọi là mẫu chất. Vật liệu này có thể bị biến đổi bởi

sự phong hố hố học dưới đất, thậm chí bị phong hố rất mãnh liệt. Sự tích tụ cacbonat,

thạch cao và nhiều muối tan khác có thể có ở tầng C nếu vật liệu khác ít bị tác động bởi các

quá trình góp phần vào sự hình thành các lớp xen giữa này. Khi tầng C bao gồm chủ yếu là

các đá trầm tích như đá phiến sét, sét vơi, đá bột hoặc đá cát thì chúng đủ chặt cho phép rễ cây

xun qua chút ít nhưng có thể dùng mai để đào.

- Tầng (lớp) R: Là lớp đá cứng liên tục. Đá của các lớp R đủ chặt để khi ẩm ướt không

thể đào sâu vào lớp đá bằng mai. Đá có thể có các vết nứt nhưng các vết nứt này quá ít và quá

nhỏ đối với sự phát triển của rễ cây. Những vật liệu có sỏi và cứng như đá chấp nhận sự phát

triển của rễ cây được coi là tầng C.

+ Các tầng chuyển tiếp: Là các tầng có các đặc tính của hai tầng chính hoà trộn với

nhau. Các tầng này được ký hiệu bởi hai chữ cái (ví dụ: AE, EB, BE, BC, CB, AB, BA, AC và

CA). Chữ cái đầu tiên biểu thị tầng chính mà tầng chuyển tiếp gần như giống).

* Ranh giới tầng: Ranh giới tầng được mô tả theo độ sâu, mức độ rõ ràng

(distinctness).

+ Độ sâu: Hầu hểt ranh giới đất thường là những vùng chuyển tiếp hơn là những

đường thẳng phân chia rõ nét. Độ sâu trung bình của gianh giới trên và dưới của mỗi tầng

(đơn vị cm) được đo từ bề mặt của đất xuống. Độ sâu bằng khơng được đặt chính ngay bề mặt

phẫu diện, ở chỗ tiếp giáp đất – khơng khí. Ghi chép chính xác khi ranh giới là đột ngột hay

rõ ràng. Số đo dao động gần 5 cm khi ranh giới là từ từ hoặc lan rộng.

Hầu hết các tầng không có độ sâu cố định. Sự đa dạng hoặc khơng đều của bề mặt

ranh giới được mô tả bằng các từ: bằng, lượn sóng, khơng đều và gẫy. Nếu cần thiết có thể

đưa thêm vào độ sâu trung bình chẳng hạn 28 (25-31) cm tới 45 (39-51) cm.

+ Sự rõ ràng:

Sự rõ ràng của ranh giới dựa vào độ dày tầng trong đó ranh giới tầng có thể được định

vị không bao gồm các tầng kề cạnh

A:

Đột ngột

0 – 2 cm

12



C:

Rõ ràng

2 – 5 cm

G:

Dần dần

5 – 15 cm

D:

Lan rộng

> 15 cm

* Màu sắc đất:

+ Màu hỗn hợp đất: Màu sắc của mỗi tầng được ghi lại trong điều kiện ẩm (nếu có thể

thì cả điều kiện khơ và ẩm) dùng các ký hiệu cho màu (Hue), giá trị (Value) và sắc độ

(Chroma) được cho trong thang màu đất Munsell (Munsel, 1975). Nếu khơng có màu hỗn hợp

đất bao trùm (chủ đạo), thì mơ tả tầng đất theo: đốm và 2 màu hoặc hơn được đưa ra. Ngoài

những ký hiệu về màu sắc, thì có thể đưa vào tên màu Munsell chuẩn.

Với các mô tả thông thường, nên xác định màu đất khơng có ánh sáng mặt trời trực

tiếp và bằng cách so sánh các mẫu đất với ô mầu của thang màu Munsell.

Nếu có thể, nên đo màu sắc đất dưới những điều kiện giống nhau. Đọc màu vào sáng

sớm và chiều tối thì khơng chính xác. Hơn nữa việc xác định màu sắc bởi các cá nhân khác

nhau kết quả có thể khơng giống nhau. Vì màu đất có ý nghĩa đối với các đặc tính đất khác

nhau, bao gồm: Hàm lượng chất hữu cơ, lớp phủ, trạng thái oxi hoá hoặc khử và để phân loại

đất, nên tổ chức kiểm tra chéo là cần thiết và trở thành thơng lệ (thói quen). Các màu trung

gian có thể ghi lại khi muốn phân biệt giữa hai tầng đất và với mục đích là để phân loại và

giải thích phẫu diện đất.

Các màu trung gian (quan trọng với tầng Chromic, Cambic B, Rhodic…) có thể dùng:

3.5 YR, 4YR, 6 YR, 6.5 YR, 8.5 YR và 9 YR. Nếu chẳng hạn 3.5 YR được ghi, thì nghĩa là

màu trung gian gần với 2.5 YR hơn với 5 YR, và tương tự. Nếu giá trị và sắc độ gần giới hạn

chẩn đốn, thì khơng nên dùng các số liệu để làm tròn số, mà nên ghi lại chính xác bằng cách

dùng cả giá trị trung gian hoặc bằng cách thêm dấu + hoặc một số giá trị và sắc độ chẩn đoán

quan trọng là:

Giá trị 4 và 5:

Các tầng Albic và các đặc tính Hydromorphic

Giá trị 3.5 và 5.5:

Các tầng Mollic và Umbric

Sắc độ 1 và 2:

Đặc tính Hydromorphic

Sắc độ 2:

Chernozem (đất đen)

Sắc độ 1.5:

Vertisol

Sắc độ 3.5:

Các tầng Mollic và Umbric

Sắc độ 4:

Chromic

+ Đốm vết: Vết đốm của hỗn hợp đất được mơ tả theo số lượng (abundance), kích

thước, độ tương phản, ranh giới và màu sắc. Thêm vào đó có thể ghi lại hình dạng, vị trí và

đặc tính bất kỳ khác. Màu gỉ sắt quanh rễ thường không được coi là đốm.

- Số lượng: Số lượng của đốm được mô tả theo tỷ lệ phần trăm các đốm vết chiếm.

Các giới hạn tương ứng với các hạt.

N:

Khơng

0%

V:

Rất ít

0–2%

F:

Ít

2–5%

C:

Trung

5 – 15 %

bình

M:

Nhiều

15 – 40 %

A:

Rất nhiều > 40%

Khi lượng đốm khơng khác biệt với màu hỗn hợp bao trùm, thì các màu chính được xác định

như các màu hỗn hợp của đất.

- Kích thước: Dùng các hạng (loại) dưới đây để chỉ đường kính gần đúng của các đốm

riêng lẻ.

V:

Rất mịn

< 2 mm

F:

Mịn

2 – 6 mm

M:

Trung bình

6 – 20 mm

C:

Thơ

> 20 mm



13



- Sự tương phản: Sự tương phản về màu sắc giữa các đốm vết và hỗn hợp đất có thể

được mô tả như sau:

F Mờ nhạt: Các vết đốm rõ ràng thì mới được xem xét. Màu đất ở các đốm và hỗn hợp

tương đối gần nhau về màu , sắc độ và các giá trị.

D Khác biệt: Mặc dù khơng gây chú ý, nhưng có thể dễ dàng nhận thấy các vết đốm.

Màu , sắc độ hoặc giá trị của hỗn hợp dễ dàng phân biệt với các đốm vết. Chúng có thể khác

nhau tới 2.5 đơn vị màu hoặc vài đơn vị về sắc độ và giá trị.

P Nổi bật: có thể dễ dàng nhận thấy các đốm vết và đốm vết là một trong các đặc tính

nổi bật của tầng. Riêng màu, sắc độ và giá trị hoặc kết hợp của chúng cách nhau ít nhất vài

đơn vị.

- Ranh giới: Ranh giới giữa các đốm vết và đất (matrix) được mô tả như là bề dày của

vùng có sự chuyển tiếp màu mà nó khơng nằm ở đốm vết hoặc đất.

S:

Sắc nét

0 – 0,5 mm

C:

Rõ ràng

0,5 – 2 mm

D:

Khơng rõ

> 2 mm

- Màu sắc: Hồn tồn đầy đủ nếu ta mô tả màu của đốm vết theo các thuật ngữ chung,

tương ứng với thang màu đất Munsell. Nếu cần có thể dùng đến tồn bộ chú giải Munsell.

Các mã và tên màu sau đây được đưa ra (tương tự như màu của các hạt khoáng).

WH: Trắng

YE:

Vàng

RE: Đỏ

RY:

Vàng - đỏ nhạt

RS: Hơi đỏ (đỏ nhạt)

GE:

Xanh (lá cây)

YR: Đỏ + Vàng nhạt

GR:

Xám

BR: Nâu

GS:

Xám nhạt

BS: Nâu nhạt

BH:

Xanh (da trời)

RB: Nâu - đỏ nhạt

BB:

Đen – xanh nhạt

YB: Nâu – vàng nhạt

BL:

Đen

* Thành phần cơ giới đất

+ Phân loại cỡ hạt: Dưới đây có định nghĩa các loại cỡ hạt của đất mịn (dưới 2 mm)

tên các loại tương ứng gần nhất với những thuật ngữ chuẩn thông thường, kể cả hệ thống

USDA.

Sét:

< 0,002 mm

Limon mịn:

0,002 – 0,01 mm

Limon trung bình:

0,01 – 0,02 mm

Limmon thô:

0,02 – 0,05 mm

Cát rất mịn:

0,05 – 0,10 mm

Cát mịn:

0,10 – 0,25 mm

Cát trung bình:

0,25 – 0,50 mm

Cát thô:

0,5 – 1,0 mm

Cát rất thô:

1,0 – 2,0 mm

Phân loại thành phần cơ giới đất được ký hiệu như sau:

C:

Sét

Si:

Limon

SiC:

Sét pha limon

SiL: Thịt pha limon

SiCL: Thịt pha sét và limon

L:

Thịt

CL:

Thịt pha sét

SL:

Thịt pha cát

SC:

Sét pha cát

LS:

Cát pha thịt

SCL Thịt pha sét và cát

S:

Cát

* Đá mảnh: Các mẫu đá và khống có kích thước > 2 mm được mơ tả theo số lượng,

kích thước, dạng, tình trạng phong hố và bản chất của chúng

+ Số lượng (theo % thể tích): N: khơng có; V: Rất ít: 0-2 %; F: Ít: 2-5 %; C: Trung

bình: 5-15 %; M: Nhiều: 15-40%; A: Rất nhiều: 40-80 %; D: Chủ yếu là đá ảmh: > 80%.

+ Kích thước: F: Sỏi nhỏ: 0,2-0,6 cm; M: Sỏi vừa: 0,6-2 cm; C; Sỏi thô: 2-6 cm; S: đá

mảnh nhỏ: 6-20 cm; B: Đá mảnh trung bình: 20-60 cm; L: Đá mảnh lớn: > 60 cm.

14



+ Hình dạng: F; Phẳng; A: Có góc cạnh; S: Gần tròn; R: Tròn.

+ Tình trạng phong hóa:

F: Mới bị phong hố hoặc phong hố nhẹ: Có ít hoặc khơng có dấu hiệu phong hoá ở

các mẫu đá.

W: Phong hoá: Sự phong hoá một phần được chỉ ra bởi sự mất màu hoặc mất hình

dạng tinh thể ở phần ngồi mẫu đá trong khi ở giữa còn tương đối giữ nguyên và đá mất đi

chút ít độ bền ban đầu của chúng.

S: Bị phong hố mạnh: Trừ những khống vật bền còn hầu hết tất cả bị phong hoá, mất

màu mạnh và biến đổi khắp cả đá, chúng có xu hướng bị phân rã ngay cả dưới áp suất trung

bình.

+ Bản chất đá: được mô tả theo cùng thuật ngữ như mô tả dạng đá ở trên.

* Cấu trúc đất: Thường chỉ mô tả cấu trúc đất khi đất khơ hoặc ẩm ít. Trong điều kiện

ẩm hoặc ướt cần tiến hành mô tả cấu trúc vào thời điểm khác khi đất đã khô. Để mô tả cấu

trúc nên lấy tảng đất từ phẫu diện, từ các phần khác nhau của tầng nếu cần hơn là quan sát cấu

trúc chỉ trên bề mặt phẫu diện. Cấu trúc được mô tả theo mức độ và kiểu đồn lạp.

Trước khi mơ tả mức độ cấu trúc cần phải phân loại đất có cấu trúc hay khơng có cấu

trúc. Đất khơng có cấu trúc khơng có sự sắp xếp rõ ràng của bề mặt tự nhiên không bền. Đất

khơng có cấu trúc được chia nhỏ thành loại hạt đơn và khối. Nếu cấu trúc là hạt đơn thì khơng

chặt, xốp, rất dễ vụn và hơn 50 % các hạt khoáng mất liên kết. Nếu là cấu trúc khối thì thường

có độ chặt lớn hơn.

+ Các mức độ cấu trúc của đất được định nghĩa như sau:

- Yếu: Khó tìm thấy mẩu đất tại chỗ quan sát và chỉ có sự sắp xếp (rời rạc) của các bề

mặt tự nhiên không bền. Khi xáo trộn nhẹ, đất vỡ thành hỗn hợp, chỉ có vài mẩu nguyên vẹn,

nhiều mẩu đã bị vỡ và phần lớn khơng còn có hình dạng của mẩu đất nữa.

- Trung bình: Dễ nhận thấy các mẩu đất tại chỗ và có sự sắp xếp rõ ràng của các bề

mặt tự nhiên không bền. Khi xáo trộn, vật liệu đất vỡ thành nhiều mẩu nguyên vẹn, vài mẩu bị

vỡ và một ít khơng còn là mẩu đất nữa. Bề mặt mẩu đất thường khác biệt rõ ràng với bên

trong mẩu đất.

- Mạnh: Lượng các mẩu đất đáng kể (rất dễ thấy) và có sự sắp xếp nổi bật của các bề

mặt tự nhiên không bền. Khi xáo trộn, đất tách chủ yếu thành các mẩu. Bề mặt mẩu đất nhìn

chung khác hẳn với bên trong. Các mức độ có thể dùng để mơ tả cấu trúc: VW: Rất yếu, WE:

Yếu, MO: Trung bình, ST: Chắc, VS: Rất chắc, YM: Yếu đến trung bình, MS: Trung bình đến

chắc.

+ Loại cấu trúc: Các dạng cấu trúc chính được định nghĩa như sau:

- Hạt: khối đa diện hoặc khối cầu, có bề mặt cong hoặc khơng đều mà bề mặt này

không giống những mặt bao quanh mẩu đất.

- Khối: Khối hoặc khối đa diện, gần đều, có bề mặt phẳng hoặc khá tròn, có thể chia

nhỏ thành dạng góc nhọn và dạng góc tù.

- Lăng trụ: Các chiều giới hạn theo mặt ngang và kéo dài dọc theo mặt thẳng đứng;

các mặt thẳng đứng dễ xác định, có bề mặt phẳng hoặc hơi tròn. Cấu trúc lăng trụ có các đầu

tròn được coi là dạng cột.

- Phẳng: Phẳng với chiều thẳng đứng bị giới hạn; thường định hướng trên mặt ngang

và thường là gối lên nhau.

+ Kích thước (mm):

Hạt kết phẳng Hạt kết lăng trụ

Hạt kết khối

Hạt kết dạng hạt

VF: Rất mịn

<1

< 10

<5

<1

FI:

Mịn

1-2

10-20

5-10

1-2

ME: Trung bình

2-5

20-50

10-20

2-5

CO: Thơ

5-10

50-100

20-50

5-10

VC: Rất thơ

> 10

> 100

> 50

> 10



15



+ Độ bền: Mô tả độ bền ở các trạng thái khơ, ẩm, ướt (độ dính và dẻo). Với các bản tả

thơng thường, có thể mơ tả độ bền đất ở điều kiện tự nhiên của phẫu diện. Độ bền khi ướt

luôn được mô tả và nếu cần điều kiện ẩm mà đất lại khơ thì làm ướt đất.

- Độ bền khi khô: Được xác định bằng cách phá vỡ một cục đất khơ khơng khí bằng

ngón tay cái và ngón trỏ hoặc nắm lại: LO: Lỏng: khơng dính; SO: Xốp: Đất rất kém dính và

giòn, vỡ thành bột hoặc các hạt riêng lẻ dưới áp lực rất nhẹ; SHA: Hơi rắn: Yếu chịu nén, dễ

dàng bị vỡi khi bóp bằng ngón tay cái và ngón trỏ; HA Rắn: Chịu nén trung bình, có thể vỡ

bằng tay, khơng phá vỡ được bằng ngón cái và ngón trỏ; VHA Rất rắn: Chịu lực nén cao, rất

khó vỡ khi bóp bằng tay.

- Độ bền khi ẩm: Xác định bằng cách thử vò một cục đất ẩm hoặc hơi ẩm: LO: Lỏng:

Khơng dính; VFR: Rất bở: Đất nát dưới lực rất nhẹ, nhưng dính khi ép lại; FR: Bở: Đất nát dễ

dàng dưới lực nhẹ tới trung bình bằng cách dùng ngón tay cái và ngón trỏ và dính khi ép lại;

FI Chắc: Đất nát dưới lực trung bình giữa ngón cái và ngón trỏ, nhưng độ bền là đáng kể; VFI

Rất chắc: Đất nát dưới lực mạnh, khó mà có thể nát được nếu chỉ dùng ngón tay cái và ngón

trỏ.

- Độ bền khi ướt: Độ dính cực đại và độ dẻo cực đại:

Độ dính là chất lượng dính của đất vào các vật thể khác, nó được xác định bằng cách

ghi lại sự dính bám của đất khi nó bị ép giữa ngón tay cái và ngón trỏ: NST: Khơng dính: khi

thơi ép, thực tế khơng có đất dính vào ngón tay; SST: Dính ít: Sau khi ép, đất dính cả hai ngón

tay, nhưng rơi sạch khỏi ngón nào đó. Nó khơng dãn đáng kể khi các ngón tách ra; ST Dính:

Sau khi ép, đất dính cả hai ngón và có xu hướng càng dãn một phần và xe ra (đứt) hơn là tuột

khỏi một trong hai ngón tay; VST: Rất dính: Sau khi ép, đất dính chặt vào cả hai ngón và căng

dần rõ rệt khi tách ra.

Độ dẻo là khả năng của đất thay đổi hình dạng liên tục dưới ảnh hưởng của một ứng

suất và khả năng duy trì hình dạng bị tác động đó khi lấy ứng suất đi. Được xác định bằng

cách vê đất bằng hai tay tới khi thành dây có đường kính khoảng 3 mm: NPL: Khơng dẻo:

Khơng thể tạo thành đây được; SPL: Dẻo ít: Dây có thể tạo thành nhưng ngay lập tức bị phá

vỡ nếu uốn cong thành vòng, đất bị biến dạng bởi lực rất nhẹ; PL: Dẻo: Tạo được dây nhưng

bị phá đi nếu uốn thành vòng, để làm biến dạng khối đất cần lực nhẹ đến rất trung bình; VPL:

Rất dẻo: Có thể tạo dây và có thể uốn nó thành vòng, để làm biến dạng khối đất cần lực khá

mạnh tới rất mạnh.

* Độ xốp: Bao gồm các khoảng trống trong đất. Độ xốp được mơ tả theo loại, kích

thước và số lượng.

+ Loại : Có nhiều loại:

- Kẽ (khe) hở: được quyết định bởi cấu trúc của đất hoặc sự sắp xếp của các hạt đất, có

thể gọi là lỗ hổng cơ giới. Các kẽ hở không đều, nối liền nhau, không thể xác định số lượng ở

ngoài đồng.

- Lỗ hổng: Là các lỗ rộng dạng hình cầu khơng liên tục hoặc hình elíp nguồn gốc trầm

tích hoặc được tạo bởi khơng khí bị nén, ví dụ các bọt khí trong các lớp đất ngấm nước sau

trận mưa to. .

- Hốc: Các lỗ hổng lớn không đồng đều do kết quả cầy bừa, hoặc xáo trộn làm cho

chúng khơng liên tục. Có thể định lượng trong các trường hợp nhất định.

- Rãnh: Các lỗ rộng, thon, dài có nguồn gốc do động vật hoặc thực vật. Phần lớn có

dạng ống, liên tục nhưng có đường kính khác nhau.

- Mặt phẳng: Là những lỗ rỗng ở các đất có cấu trúc có liên quan tới các bề mặt đồng

đều hoặc các kiểu nứt gãy. Chúng thường khơng bền và khác nhau về kích thước, hình dạng

và số lượng phụ thuộc vào điều kiện ẩm của đất.

Trong hầu hết các trường hợp thường chỉ mô tả kích thước, số lượng của các rãnh - lỗ

rỗng dài liên tục.

+ Kích thước:

Đường kính của các lỗ rỗng thon, dài hay hình trụ được mơ tả như sau: V: Rất nhỏ: <

0,5 mm; F: Nhỏ: 0,5-2 mm; M: Trung bình: 2-5 mm; C: To: 5-20 mm; Rất to: 20-50 mm.

16



+ Số lượng (số lượng lỗ rỗng/dm2):

Rất nhỏ - nhỏ

Trung bình - to

N Khơng có

0

0

V Rất ít

1-20

1-2

F Ít

20-50

2-5

C Bình thường

50-200

5-20

M Nhiều trên

200

>20

+ Độ xốp: Bằng tổng lượng của tất cả các lỗ rỗng, tính theo phần trăm diện tích bề mặt

mà các lỗ rỗng chiếm:

1:

Rất thấp:

< 2%

2:

Thấp:

2-5%

3:

Trung bình:

5-15%

4:

Cao:

15-40%

5:

Rất cao:

> 40%

* Sự tích tụ: Mục này mơ tả những tích tụ chủ yếu sự tích tụ thứ sinh, sự đơng kết.

+ Màng: Sự tích tụ sét hay sét hỗn hợp và các định hướng liên quan tới bề mặt như là

các mặt phẳng trượt và các mặt nén, mô tả chúng theo số lượng, sự tương phản, bản chất và vị

trí.

- Số lượng:

N:

Khơng:

0%

V:

Rất ít:

0-2%

F:

Ít:

2-5%

C:

Trung bình:

5-15%

M:

Nhiều:

15-40%

A:

Giàu:

40-80%

D:

Hồn tồn sét

> 80%

- Sự tương phản:

F: Nhạt (không rõ): Bề mặt tương phản màu sắc rất ít, độ nhẵn phẳng hoặc các đặc

tính khác với bề mặt kế cận. Có nhiều các hạt cát mịn trên mặt. Các phiến mỏng không dày

quá 2 mm.

D: Khác biệt: Bề mặt nhẵn (bóng) hơn hoặc màu sắc khác biệt so với lớp kế cận. Các

hạt cát mịn nằm trong lớp ngồi nhưng vẫn có thể nhìn thấy được. Phiến mỏng dày 2-5 mm.

P: Nổi bật: Bề mặt tương phản mạnh về độ nhãn hay là màu sắc với bề mặt kế cận,

không thể thấy các hạt cát mịn bên ngoài phiến mỏng dày hơn 5 mm.

- Bản chất: Bản chất của lớp vỏ có thể mơ tả như sau: C: Sét; CS: Sét và secquioxit;

CH: Sét và chất hữu cơ; PF: Mặt ép; S: Mặt trượt, không giao nhau: SP Mặt trượt, phần nào

giao nhau; S: Mặt trượt, hầu hết giao nhau; SF: Mặt sáng bóng (như trong các đặc tính nitic)

- Vị trí: chỉ mơ tả đối với các màng hay tích tụ sét. Với các mặt nén và mặt trượt thì

khơng đưa ra vị trí vì nó đã xác định vị trí trên bề mặt: P: Bề mặt hạt kết; PV: Bề mặt hạt kết

theo chiều thẳng đứng; PH: Bề mặt hạt kết theo chiều ngang; CF: Hạt thô; LA: Phiến mỏng;

VO: Lỗ trống; NS: Không có vị trí riêng đặc biệt.

+ Sự kết gắn (xi măng) và sự nén chặt: Sự xuất hiện kết gắn hay nén chặt được mơ tả

theo tính liên tục, cấu trúc, bản chất của tác nhân và mức độ. Các vật liệu bị kết chặt thì bền

chắc hơn khi ẩm và các hạt bị nén chặt lại. Vật liệu bị kết gắn thì khơng ngấm nước sau một

giờ ngâm trong nước.

- Tính liên tục:

17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Mô tả phẫu diện

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×