Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Kết luận thực trạng sự sẵn sàng của ngành may mặc Việt Nam khi gia nhập TPP.

Kết luận thực trạng sự sẵn sàng của ngành may mặc Việt Nam khi gia nhập TPP.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Hình 2.1. Cán cân thương mại Việt Nam với các quốc gia thành viên TPP năm

2014



 Chất lượng hàng may mặc xuất khẩu được nâng cao

Điều này có được nhờ các công ty thường xuyên chú trọng nâng cao chất lượng sản

phẩm nhờ hiện đại hóa thiết bị may, đổi mới thiết bị hiện đại, nâng cấp hệ thống nhà

xưởng, hệ thống kho tàng và phát triển sản phẩm theo hướng chun mơn hóa đối với các

phân xưởng và đa dạng hóa sản phẩm đối với cơng ty để đáp ứng các hợp đồng lớn, hàng

hóa có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

Mặt khác công nhân đựoc nâng cao trình độ chun mơn nghiệp vụ kỹ thuật, tay nghề

cho cán bộ nhân viên nhằm ba mục tiêu: năng suất- chất lượng- hiệu quả luôn tạo điều

kiện về thời gian và kinh phí cử người đi học các khóa học về chính phủ, chun mơn

nghiệp vụ, tổ chức các lớp nâng cao tay nghề cho công nhân cơ khí điện, cơng nhân may,

các lớp ngoại ngữ cho cán bộ công nhân viên nghiệp vụ.



 Tổ chức các hoạt động giao dịch và thực hiện nghiêm chỉnh các hợp đồng với

khách hàng nước ngoài

Các doanh nghiệp Việt Nam đã rất cố gắng nâng cao năng lực trong việc đàm phán và

ký kết hợp đồng với các bạn hàng nước ngoài, tạo được cơ sở ban đầu tốt đẹp cho hoạt

động xuất khẩu, tiếp đó thực hiện nghiêm túc các điều khoản trong hợp đồng với khách

42



hàng. Chính vì vậy các doanh nghiệp tạo uy tín được với các nước, đơn hàng ngày càng

tăng. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã được nước ngồi tin tưởng và kí hợp đồng dài hạn

giá trị lớn.



 Quy mô và tốc độ tăng trưởng

Ngành may mặc Việt Nam có tốc độ tăng trưởng cao, số lượng các công ty liên tục

tăng qua các năm và quy mô của công ty ngành càng lớn cả về mọi nguồn lực. Giá trị

xuất khẩu 260 triệu USD/tháng và tăng ở các thị trường chính là Mỹ, EU, Nhật. Việt

Nam có mơi trường đầu tư ổn định, với tiềm năng tăng trưởng cao, nên có sức hấp dẫn

với nhà đầu tư và bạn hàng nước ngoài. Hơn nữa, Việt Nam cũng đang tham gia ngày

một sâu rộng vào quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Cùng với việc cải thiện

hình ảnh của Việt Nam, q trình này còn giúp gia tăng tiếp cận thị trường cho hàng hóa

của Việt Nam nói chung và hàng may mặc của Việt Nam nói riêng. Chính điều này mà

quy mô ngành may mặc ngày càng phát triển, các nhà máy gia công mọc lên càng nhiều

hay các doanh nghiệp may mặc nước ngoài cũng đầu tư vào Việt Nam ngày càng nhiều

với quy mơ rất lớn.



Hình 2.2. Giá trị và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu



2.3.2 Những vấn đề đặt ra cho ngành may mặc Việt Nam khi gia nhập TPP.



43



 Khó khăn trong việc giữ thị trường trong nước, ảnh hưởng tới các hoạt động

xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước.

Tham gia TPP sẽ gặp phải thách thức về cạnh tranh, từ đó, có thể gây ra một số hệ quả

về mặt xã hội. Tự do hóa thương mại quá đột ngột có thể dẫn tới phá sản và tình trạng

thất nghiệp ở các doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh yếu. Việc giảm thu ngân sách từ

giảm thuế nhập khẩu sau khi thực hiện TPP là hệ quả chắc chắn và trực tiếp. Hơn nữa,

giảm thuế quan có thể khiến luồng hàng nhập khẩu từ các nước TPP vào Việt Nam gia

tăng, với giá cả cạnh tranh hơn. Hệ quả tất yếu là thị phần hàng hóa liên quan tại Việt

Nam sẽ bị ảnh hưởng và cạnh tranh sẽ gay gắt hơn.

Điển hình đó là hàng rào bảo hộ hàng sản xuất trong nước đã giảm đến mức tối đa

theo cam kết TPP. Tất cả các thuế được đánh vào các mặt hàng, cụ thể ở đây là các mặt

hàng của ngành may mặc sẽ được giảm xuống còn 0% đối với các quốc gia thành viên

của TPP. Vì vậy, các nhà sản xuất dệt may trong nước sẽ phải cạnh tranh khốc liệt khi các

sản phẩm từ nước ngoài ồ ạt tràn vào Việt Nam, nhất là các nước cạnh tranh lớn trong

khối TPP như là Mỹ, Nhật Bản

Các doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc trong nước, sẽ gặp phải nhiều khó khăn

hơn trong việc giữ và phát triển thị trường trong nước, các công ty từ Trung Quốc, Ấn

Độ… sẽ tấn công thị trường Việt Nam mạnh mẽ hơn, làm cho các nhà sản xuất trong

nước phải cố gắng sử dụng các nguồn lực, các biện pháp nhằm đối phó với các công ty

này, khi các doanh nghiệp tập trung hơn vào giữ thị trường trong nước sẽ làm giảm khả

năng của doanh nghiệp trong các hoạt động xuất khẩu.



 Giá trị gia tăng ngành thấp

Trong chuỗi giá trị toàn cầu hàng may mặc, khâu có lợi nhuận cao nhất là thiết kế

mẫu, cung cấp nguyên phụ liệu và thương mại. Tuy nhiên, ngành công nghiệp dệt may

Việt Nam hiện nay gần như chỉ tham gia vào khâu sản xuất sản phẩm cuối cùng, được

đánh giá là tạo ra giá trị gia tăng thấp nhất, với tỷ suất lợi nhuận chỉ chiếm khoảng 5%10%.

Mặc dù Việt Nam đang năm trong top 5 quốc gia xuất khẩu hàng dệt may, nhưng các

doanh nghiệp dệt may Việt Nam chủ yếu là các nhà thầu phụ cho các nhà thầu may trong

khu vực, hầu như khơng thực hiện q trình thiết kế và khơng có khả năng tự thiết kế và

44



xây dựng thương hiệu.

Đặc biệt hơn trong chuỗi giá trị thì Việt Nam chỉ tham gia vào khâu gia cơng sản xuất

dưới hai hình thức chính đó CMT (Cut Make Trim – gia cơng thuần túy) và FOB (Free on

Broad – mua nguyên liệu, bán thành phẩm) chiếm hơn 95% tồng giá trị kim ngạch xuất

khẩu, trong đó CMT chiếm 75.3% và FOB là 21.2%. Mà trong chuỗi giá trị của ngành

may mặc thì việc gia công đem lại lợi nhuận là thấp nhất và chỉ có khoảng 2%-3% giá trị

xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam là ODM (Original Design Manufacturing - chủ

động từ nguyên liệu, thiết kế, sản xuất thành phẩm). Nguyên nhân chủ yếu là do hạn chế

về trình độ nguồn nhân lực, thiếu thơng tin thị trường.

Hình 2.3. Chuỗi giá trị ngành may mặc



 Quy tắc xuất xứ cho ngành may mặc

Quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)

được hiểu là: các sản phẩm xuất khẩu từ một thành viên của TPP sang các thành viên

khác đều phải có xuất xứ "nội khối". Như vậy, những ngành nào, sản phẩm nào, sử dụng

các nguyên liệu của các nước thứ ba, ngoài thành viên TPP đều không được hưởng các

ưu đãi thuế suất 0%. Thực hiện quy tắc xuất xứ hàng hóa trong hiệp định thương mại tự

do khác, chúng ta chỉ phải đáp ứng quy tắc chuyển đổi mã số hàng hóa. Như vậy, theo

những đề xuất về xuất xứ hàng hóa trong TPP, thì chúng ta có thể hiểu là các sản phẩm

xuất khẩu từ một thành viên của TPP sang các thành viên TPP khác đều phải có xuất xứ

"nội khối TPP". Cụ thể với ngành may mặc của VN xuất khẩu vào các thành viên TPP

45



khác, phải có xuất xứ của VN hoặc có xuất xứ từ các thành viên khác TPP. Khi đó các sản

phẩm này mới được hưởng các ưu đãi mà các thành viên TPP dành cho nhau. Như vậy,

những ngành nào, sản phẩm nào, sử dụng các nguyên liệu của các nước thứ ba, ngoài

thành viên TPP đều khơng được hưởng các ưu đãi nói trên.

Đối với Việt Nam nói chung và ngành may mặc nói riêng thì mục tiêu lớn nhất khi

tham gia TPP là tăng cường lợi thế xuất khẩu sang các nước TPP, thông qua việc các

nước này miễn hoặc giảm thuế cho hàng hóa Việt Nam. Tuy nhiên, điều này chỉ đạt được

nếu hàng hóa của Việt Nam đáp ứng đầy đủ các yêu cầu rất cao và phức tạp về quy tắc

xuất xứ, bắt buộc phải có nguyên liệu hoặc giá trị chủ yếu từ các nước thành viên. Trong

khi đó, việc sản xuất hàng hóa xuất khẩu của VN lại phụ thuộc vào nguyên liệu nhập

khẩu từ các nước ngoài TPP như Trung Quốc, Hàn Quốc và một số nước ASEAN. Đặc

biệt là vải nguyên liệu chính của ngành may mặc, nguyên liệu này lại được nhập khẩu từ

rất nhiều các nước ngoài TPP đặc biệt là Trung Quốc với lượng nhập khẩu lên tới hơn 4

tỷ USD trong 10 tháng đầu năm 2015 và tăng 11.7% so với 10 tháng đầu năm 2014.

Với năng lực tự sản xuất và cung ứng ngun phụ liệu còn hạn chế, thì những yêu

cầu về quy tắc xuất xứ hàng hóa lại đang đặt ra các thách thức và mối lo ngại cho các

doanh nghiệp VN. Có thể nói, quy tắc xuất xứ này của TPP vừa là một thách thức, cũng

vừa là một cơ hội đối với các ngành sản xuất hàng xuất khẩu của VN. Nếu vượt qua được

thách thức, khai thác được cơ hội, VN sẽ sớm vượt qua được thực trạng là một nước gia

công đơn giản, chủ yếu là sử dụng lao động giá rẻ.

Bảng 2.9. Thị trường nhập khẩu vải của Việt Nam 10 tháng đầu 2015

Thị trường



T10/2015



Trung Quốc



474,920,544



3.3



4,297,375,927



11.7



Hàn Quốc



151,739,184



-10.3



1,514,552,000



1.1



Đài Loan



140,490,307



3.4



1,303,933,867



12



Nhật Bản



50,888,514



-4.8



461,950,713



2.5



Hồng Kông



20,597,599



-28.3



214,215,137



0.7



Thái Lan



21,519,630



-6.8



174,543,272



0.7



Indonesia



5,863,083



8.3



59,031,501



3.4



So T10/2014



10T/2015



So 10T/2014



46



Italia



2,961,292



-16.8



52,382,478



5.9



Ấn Độ



7,308,072



14.3



50,036,089



8.1



Malaixia



3,759,260



-36.8



41,522,554



-21.2



Pakixtan



4,621,541



90



36,637,599



41.4



Thổ Nhĩ Kỳ



5,040,092



50.9



33,167,630



27.6



Đức



2,955,232



-15.7



32,057,613



-14.3



Hoa Kỳ



2,823,246



46.8



26,197,992



11.9



Pháp



400,799



-14



6,559,499



8.8



Anh



466,497



-40.3



6,293,668



-22.7



Singapore



292,153



9



2,291,858



2.9



Bỉ



241,124



0.4



1,903,895



-3.9



Philippine



24,947



-79.2



940,974



-26



Thụy Sỹ



96,498



-54.5



707,498



-42.8



CHƯƠNG 3 : DỰ BÁO TÁC ĐỘNG VÀ GIẢI PHÁP TẬN DỤNG CƠ HỘI, VƯỢT

QUA THÁCH THỨC CỦA NGÀNH MAY MẶC VIỆT NAM KHI GIA NHẬP TPP

3.1. Dự báo tác động của TPP tới ngành may mặc Việt Nam.

Ngành Dệt may Việt Nam năm 2015 được kỳ vọng sẽ hưởng lợi lớn từ sự hồi phục

của kinh tế thế giới và việc ký kết hiệp định TPP.

Năm 2015, các tổ chức quốc tế như WB, IMF đều dự báo nền kinh tế thế giới có thể

tăng trưởng 3.6% so với 2.6% năm 2014. Đặc biệt, dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế ở

quốc gia phát triển như Mỹ, Nhật Bản, EU, Hàn Quốc, các thị trường chiếm hơn 70% giá

trị xuất khẩu hàng may mặc Việt Nam, đang có sự cải thiện khá tích cực, hứa hẹn gia tăng

nhu cầu đối với hàng may mặc của Việt Nam.



47



Bên cạnh đó, dù hiệp định TPP vẫn còn trong giai đoạn bước đầu thực hiện nhưng đã

thúc đẩy các nước thành viên TPP chuyển dần các đơn hàng sang Việt Nam nhằm đón

đầu việc cắt giảm thuế quan.

Mặt khác, hiệp định TPP cũng có những quy định khắt khe hơn về nguồn gốc xuất xứ,

công nghệ và lao động có khả năng làm tăng chi phí doanh nghiệp. Tuy nhiên, điều đó có

thể được bù đắp bởi sự gia tăng sản lượng xuất khẩu.

Thực tế cho thấy, sau khi gia nhập WTO và ký kết các FTA, cùng với các ngành kinh

tế khác đã mở ra cơ hội rất lớn cho may mặc Việt Nam. Đồng thời, may mặc Việt Nam

cũng có điều kiện hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, đẩy mạnh xuất khẩu do các rào

cản thương mại như hạn ngạch dệt may vào Mỹ và các nước đã được dỡ bỏ, bình đẳng về

thuế quan giữa các nước thành viên, cơ hội tiếp cận công nghệ, thông tin, các dịch vụ,

cũng như kinh nghiệm quản lí được tốt hơn.

Khối các nước TPP là thị trường quan trọng nhất của ngành dệt may Việt Nam, chiếm

khoảng 60% tổng KNXK. Trong đó, Hoa Kỳ- nước thành viên của TTP được đánh giá là

thị trường tiêu thụ hàng may mặc lớn nhất thế giới với khoảng 100 tỷ USD/năm, chiếm

1/5 tổng lượng tiêu thụ toàn cầu, đồng thời cũng là thị trượng xuất khẩu lớn nhất của Việt

Nam với KNXK hàng năm chiếm gần 50% tổng KNXK toàn ngành.



Bảng 3.1. Dự báo KNXK của Việt Nam đến năm 2025

Đơn vị: Tỷ USD

Mặt hàng



Chưa tính tác Mức Đã tính tác Tỷ lệ tăng

động TPP



tăng



động TTP



(%)



Hàng dệt



26.0



12.9



38.9



49.6



Hàng may, da giày



113.0



51.9



164.9



45.9



Máy móc



14.4



2.0



16.4



13.9



Tổng KNXK



239.0



67.9



306.9



28.4

48



Nguồn: Giáo sư Peter Petri – Đại học Brandeis, 3/2013

Hiệp định TTP đã được ký kết vào đầu năm 2015 đầy là cơ hội rất lớn cho ngành dệt

may khi Việt Nam là một trong 12 nước thành viên. Theo đó sẽ có hơn 90% mặt hàng dệt

may xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ được điều chỉnh thuế suất về mức 0% so với mức

trung bình là 17% hiện tại.

Điểm đáng lưu ý là Trung Quốc – nước đang chiếm thị phần xuất khẩu lớn nhất vào

Hoa Kỳ hiện tại vẫn chưa tham gia đàm phán TTP (và nhiều khả năng sẽ không tham gia

hiệp định này). Đây sẽ là lợi thế cạnh tranh rất đáng kể dành cho các doanh nghiệp may

mặc Việt Nam. Theo đó, VITAS cho rằng ngành dệt may sẽ có thể cán đích 25 tỷ đến 27

tỷ USD xuất khẩu vào năm 2015 và nâng tỷ lệ nội địa hóa lên mức 7075% vào năm 2020

thay vì hơn 48% như hiện nay, trong đó ngành may mặc đóng góp tới 70% toàn ngành dệt

may.

Cũng theo dự báo khác từ trường Đại học Brandeis – Hoa Kỳ vào tháng 3/2013, Hiệp

định TPP sẽ giúp KNXK hàng dệt may của Việt Nam tăng 28.4% so với mức chưa tính

tác động TTP, từ 239 tỷ USD lên 307 tỷ USD vào năm 2025.

Bên cạnh đó, Chính phủ Việt Nam đã sớm đặt mục tiêu cho ngành dệt may từ năm

2017-2020, dệt may Việt Nam sẽ phấn đấu đứng thứ hai, hoặc thứ ba trong top các nước

xuất khẩu may mặc lớn nhất trên toàn thế giới. Đồng thời, mục tiêu đến năm 2020 dệt

may Việt Nam sẽ có từ 57% các thương hiệu lớn hội nhập với thị trường thế giới.

Mới đây nhất, theo Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp Dệt may Việt Nam đến

năm 2020, tầm nhìn 2030 được Bộ Cơng Thương phê duyệt vào tháng 4/2014, ngành

may mặc đặt mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu và tăng trưởng thị trường nội địa đạt từ

10%-12%/năm. Trong tương quan chung của các ngành kinh tế, dệt may nói chung và

may mặc của Việt Nam vẫn luôn là lĩnh vực mũi nhọn. Với tốc độ tăng trưởng nhanh và

ổn định như hiện nay, ngành dệt may khơng chỉ đóng vai trò quan trọng đối với mục tiêu

phục hồi đà tăng trưởng kinh tế, mà còn đảm bảo cân bằng cán cân thương mại của Việt

Nam.

Hình 3.1. Dự báo KNXK hàng may mặc Việt Nam sang Hoa Kỳ đến năm 2025



49



3.2.



Giải pháp tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức của ngành may mặc Việt



Nam khi gia nhập TPP.

Bên cạnh những thuận lợi vốn có, trong điều kiện phát triển mới, ngành may Việt

Nam có thêm những cơ hội phát triển mạnh mẽ hơn. Đó là việc chính phủ Việt Nam đã

phê duyệt chiến lược phát triển hàng dệt may Việt Nam đến năm 2010 khẳng định vị trí

trọng yếu của ngành dệt may Việt Nam trong quá trình CNH-HĐH đất nước và xác định

rõ phương hướng phát triển và chú trọng đầu tư cho ngành bằng các nguồn lực; hiệp định

thương mại Việt Mỹ có hiệu lực; thị trường mở rộng với nhiều điều kiện thuận lợi hơn

trước … tuy nhiên ngành may Việt Nam vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức mới.

Sức cạnh tranh của hàng dệt may chưa cao cả về chất lượng và giá cả, trong khi đó

loại hàng hố này lại càng có sự thay đổi về mẫu mã. Nguồn lực nội bộ của doanh nghiệp

Việt Nam còn hạn chế.

Nguyên phụ liệu của ngành dệt may hiện đang ở tình trạng phụ thuộc vào nước ngồi:

Mỗi năm phải nhập 130.000 tấn bông và 100% tơ sợi tổng hợp.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới đang suy giảm, từ đó nhu cầu nhập khẩu hàng hố

trong đó có hàng dệt may của các nước cơng nghiệp phát triển giảm.

Trung Quốc chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới. Đây là “

người khổng lồ” trong lĩnh vực dệt may và đã có mặt trên khắp các thị trường lớn.

Đặt trong điều kiện những cơ hội và thách thức trên, có thể khẳng định rằng trong

những năm trước mắt, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam chưa thể từ bỏ xuất khẩu hàng

may mặc bằng phương thức gia công để chuyển sang phương thức mua nguyên vật liệu

xuất khẩu sản phẩm. Gia công xuất khẩu vẫn chiếm vị trí trọng yếu trong cơ cấu xuất

50



khẩu hàng dệt may Việt Nam. Vì vậy, để đảm bảo tính chủ động và tính hiệu quả của xuất

khẩu bằng phương thức gia công, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần thiết phải có

những đổi mới trong tổ chức quản lý.

Cụ thể, các doanh nghiệp này cần chú trọng đến các vấn đề sau:

 Nâng cao chất lượng sản phẩm:

Các thị trường chính của Việt Nam đều là những thị trường đòi hỏi khắt khe về chất

lượng, bởi vậy việc quan tâm bảo đảm chất lượng phải được đặt lên hàng đầu với các

doanh nghiệp dệt may xuất khẩu. Để đảm bảo chất lượng theo đúng yếu cầu khách hàng,

cần chú ý tới những vấn đề chủ yếu sau:

-



Kiểm tra chặt chẽ chất lượng và bảo quản nguyên phụ liệu



-



Tuân thủ nghiêm ngặt yêu cầu của đối tác nước ngồi, đặt gia cơng về chủng

loại và chất lượng ngun phụ liệu, quy trình cơng nghệ sản xuất, quy cách kỹ

thuật, nhãn mác, bao bì đóng gói.



-



Thực hiện tốt công tác kiểm tra chất lượng từng công đoạn trong quá trình sản

xuất đến khâu thành phẩm cuối cùng.



-



Nâng cao trình độ chun mơn và ý thức trách nhiệm của người lao động trong

quá trình sản xuất sản phẩm.



-



Xây dựng và áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến (ISO 9000, ISO

14000 và SA 8000) ở các doanh nghiệp dệt may xuất khấu.



 Xác định hợp lý mức độ đa dạng hố đối tác gia cơng trên thị trường

Trong quan hệ giữa các đối tác gia công, cả hai bên đặt hàng gia công và bên nhận

gia cơng đều có mối quan hệ tương tác phụ thuộc lẫn nhau, nhưng trong đó bên nhận gia

cơng thường phụ thuộc nhiều hơn. Sự phụ thuộc thể hiện ở chỗ bên nước ngoài quy định

toàn bộ nhiệm vụ sản xuất của doanh nghiệp Việt Nam từ chủng loại, sản lượng, chất

lượng, thời gian giao hàng đến hệ thống định mức kinh tế- kỹ thuật sản phẩm. Việc làm,

thu nhập và đời sống của người lao động cũng phụ thuộc vào nhiệm vụ sản xuất kinh

doanh của doanh nghiệp. Đó là một thực tế mà các doanh nghiệp Việt Nam phải chấp

nhận khi trình độ sản xuất và quản lý còn thấp kém.

Trong điều kiện đó, việc đa dạng hố đối tác gia công và thị trường gia công mang lại

những lợi ích nhất định cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam như: tăng tính chủ động

51



cho doanh nghiệp may mặc Việt Nam, giảm thiểu rủi ro khi đối tác nước ngoài cắt giảm

hợp đồng, trong nhiều trường hợp, các doanh nghiệp không sử dụng hết công suất, việc

đa dạng hóa các đối tượng gia cơng nước ngồi cho phép cơng ty sử dụng đầy đủ hơn

thiết bị máy móc hiện có và tăng thêm việc làm cho người lao động.

Tuy nhiên, việc mở rộng các đối tác gia công cũng gây nên những bất lợi cho doanh

nghiệp. Đó là sự phức tạp trong quản lý, tổ chức sản xuất để đồng thời thực hiện tốt nhiều

đơn hàng, sự phân tán manh mún của các đơn hàng làm giảm hiệu quả của sản xuất. Bởi

vậy, vấn đề là giải quyết mối quan hệ giữa đa dạng hoá và tập trung hóa đối tác nước

ngồi đặt gia cơng cho cơng việc. Nói chung, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam nên

hướng tới ổn định hóa đối tác nước ngồi đặt gia công. Sự ổn định này tạo nên những

thuận lợi trong đàm phán và thực hiện hợp đồng gia công, đồng thời giúp các doanh

nghiệp Việt Nam tranh thủ sự trợ giúp về kỹ thuật và tài chính của đối tác nước ngồi để

đầu tư đổi mới cơng nghệ, nâng cao trình độ kỹ thuật sản xuất và huấn luyện lao động.

 Đầu tư đổi mới công nghệ

Bên cạnh sự phát triển theo chiều rộng ( xây dựng các doanh nghiệp mới thuộc các

thành phần kinh tế hoặc các trung tâm công nghiệp dệt may). Việc phát triển theo chiều

sâu phải được coi là hướng chủ đạo trong dệt may Việt Nam trong tương lai. Bởi lẽ, khi

ưu thế về giá nhân cơng rẻ đang mất dần thì trình độ cơng nghệ cao là yếu tố cơ bản tạo

nên sức hút với đối tác nước ngồi đặt gia cơng và tăng khả năng cạnh tranh trên thị

trường.

Định hướng chung cho đổi mới công nghệ của ngành may là: Trong khâu chuẩn bị

sản xuất: Thiết kế trên máy vi tính, trang bị máy chải vải tự động và máy cắt theo chu

trình, cắt bằng tia laser; trong khâu may ráp sản phẩm; trong khâu hoàn thiện sản phẩm;

đầu tư các máy thùa khuyết, đính cúc tự động …

Để thực hiện có hiệu quả việc đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ trong ngành may, cần

giải quyết các vấn đề trọng yếu như nâng cao chất lượng, lập và khẳng định dự án đầu tư,

đa dạng hoá các nguồn vốn, nâng cao chất lượng công tác đào tạo lao động, đổi mới tổ

chức quản lý sản xuất. Trong đổi mới tổ chức sản xuất, đặc biệt quan tâm đến công tác

quản lý lao động. Các doanh nghiệp cần chú trọng đến đời sống của người lao động, tạo

sự gắn bó của người lao động với doanh nghiệp, hạn chế tình trạng ln chuyển lao động.

52



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Kết luận thực trạng sự sẵn sàng của ngành may mặc Việt Nam khi gia nhập TPP.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×