Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thực trạng về sức cạnh tranh ngành may mặc của Việt Nam

Thực trạng về sức cạnh tranh ngành may mặc của Việt Nam

Tải bản đầy đủ - 0trang

chất liệu, màu sắc… của thị trường xuất khẩu. Sản phẩm của ngành có nhiều đặc điểm

riêng biệt ( như yếu tố thời trang ) khiến thị hiếu khách hàng thay đổi nhanh phụ thuộc

vào mốt và thời vụ, công nghệ sản xuất thời trang lại thường khá đơn giản nên mẫu mốt

dễ bị bắt chước … Vì vậy dù cơng tác mẫu mốt đã có những bước phát triển đáng kể

nhưng chủ yếu ngành vẫn sử dụng mẫu mốt của ngành đặt hàng gia công. Cũng bởi lý do

này mà công tác sản xuất thường phụ thuộc vào khách hàng.

Bảng 2.6. Một số chủng loại hàng may xuất khẩu vào thị trường Mỹ năm 2015

TT

Tên hàng

TT

Tên hàng

1

Hàng may cho trẻ sơ sinh

12

Bộ quần áo

2

Quần nam nữ trẻ em

13

Áo jacket

3

Áo nịt nam nữ trẻ em

14

Váy ngắn, váy dài

4

Áo khoác nam nữ trẻ em

15

Đồ ngủ

5

Áo veston nam bé trai

16

Đồ lót

6

Áo veston nữ bé gái

17

Áo gối

7

Sơ mi nam nữ cho trẻ em

18

Chăn

8

Sơ mi nam nữ cho người lớn

19

Túi xách

9

Áo veston nam

20

Hàng may chất liệu len

10

Bộ quần áo

21

Hàng may lụa và sợi thực vật

11

Áo blu nam nữ cho người lớn

22

Hàng may bông và không bông

Nguồn: Tài liệu hội thảo “Để đạt được mục tiêu xuất khẩu hàng dệt may năm 2003 và

2005 với hiệu quả cao”

Nói tóm lại, xét về sản phẩm, tuy chất lượng và cơ cấu sản phẩm của ngành đa đạng

và phong phú hơn trước nhưng so với nhu cầu và thị hiếu của khách hàng thì còn nhiều

khoảng trống chưa đáp ứng, nhất là đối với thị trường các nước tư bản phát triển. Hàng

may xuất khẩu của ngành nói chung chưa có nhãn mác thương mại riêng, đây cũng là lý

do làm giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm may trên thị trường xuất khẩu.

 Về giá bán sản phẩm

Ngành may có đặc điểm là có hàm lượng lao động cao, yêu cầu công nghệ không

quá hiện đại và phụ thuộc nhiều vào kỹ năng của người lao động. Đặc điểm này làm cho

ngành được đánh giá là có tính phù hợp cao trong giai đoạn phát triển kinh tế Việt Nam

hiện nay. Việt Nam có nguồn lao động dồi dào, cần cù, sáng tạo và đặc biệt là giá lao

động thấp hơn các nước trong khu vực đã tạo nên lợi thế so sánh của sản phẩm may Việt

Nam. Số liệu của bảng dưới đây cho thấy, tiền công lao động trong ngành dệt may của

33



Việt Nam thấp hơn rất nhiều các nước khác trong đó có các nước trong khu vực như

Malaysia, Singapore, Thái Lan, Philipin, Indonesia

Bảng 2.7. Tiền công lao động trong ngành dệt may của một số nước

(Đơn vị tính: USD/giờ)

TT



Nước



Tiền cơng



TT



Nước



Tiền cơng



1



Nhật



16,31



9



Malaysia



0,95



2



Pháp



12,63



10



Thái Lan



0,87



3



Mỹ



10,33



11



Philippin



0,67



4



Anh



10,16



12



Ấn Độ



0,54



5



Đài Loan



5



13



Trung Quốc



0,34



6



Hàn Quốc



3,6



14



Indonesia



0,23



7



Hồng Kông



3,39



15



Việt Nam



0,18



8



Singapore



3,16

Nguồn: Tổng công ty dệt may Việt Nam



Tuy nhiên giá lao động rẻ chỉ là lợi thế nhất thời, không ổn định trong cạnh tranh.

Ngày nay, khoa học công nghệ phát triển mạnh, các q trình sản xuất được tự động hóa

thì giá cơng nhân rẻ khơng còn là thế mạnh như trước. Mặt khác, phần lượng lượng

nguyên liệu và đôi khi cả phụ liệu đầu vào của các doanh nghiệp may là nhập khẩu theo

dạng tạm nhập tái xuất do khách hàng đặt gia cơng cung cấp. Cũng có nhiều khách hàng

mua vải và phụ liệu của các doanh nghiệp Việt Nam để đưa đến các doanh nghiệp may

gia công, nhưng giá cả của các nguyên vật liệu sản xuất trong nước thường đắt hơn giá

nhập khẩu, mẫu mã lại nghèo nàn, kém hấp dẫn, chất lượng các lô hàng thường không

đồng đều, thủ tục mua bán phức tạp, tiến độ giao hàng sai hợp đồng thường xun xảy

ra… Chính vì vậy các doanh nghiệp may thường nhập khẩu các nguyên liệu từ nước

ngòai, đẩy giá sản xuất và giá bán hàng may lên rất cao. Cho nên dù có lợi thế về giá

nhân cơng như đã nói trên nhưng mức giá của các doanh nghiệp may Việt Nam thường

cao hơn giá sản phẩm cùng loại của các nước ASEAN. Ví dụ mức giá của tổng công ty

Dệt may Việt Nam thường cao hơn giá bán của sản phẩm cùng loại của các nước ASEAN

từ 10-15%, cao hơn hàng Trung Quốc hơn 20%. Cũng do việc nhập khẩu đầu vào dẫn

34



đến quá trình sản xuất của các doanh nghiệp không ổn định, quá phụ thuộc vào nhà chung

cấp, việc thực hiện hợp đồng nhiều khi không theo tiến độ thời gian định trước, làm ảnh

huởng khơng tốt đến uy tín của doanh nghiệp đối với bạn hàng.

Ngoài ra, việc nhiều doanh nghiệp thiếu vốn kinh doanh phải vay vốn ngắn hạn để

đầu tư phát triển và trả lãi suất vay vốn cao cũng làm giảm khả năng cạnh tranh về giá

của sản phẩm may. Nói tóm lại, giá bán sản phẩm cũng chưa phải là lợi thế cạnh tranh

của hàng may Việt Nam.

 Hệ thống phân phối sản phẩm và các chính sách liên quan

“Poscelin, một công ty Hồng Kông thường mang đến những hợp đồng gia công 2-3

triệu áo jacket mỗi năm, nay gần như khơng còn làm ăn với ngành may Việt Nam nữa.

Một khách hàng lớn khác đến từ Israel, trước đây mỗi năm mua của Việt Nam đến 5 triệu

áo sơ mi để xuất khẩu đi hàng chục nước trên thế giới, nay cũng cắt giảm đến một nửa

đơn hàng ở Việt Nam để chuyển sang gia công ở Myanmar …”

Đây chỉ là một vài ví dụ mà hiệp hội dệt may Việt Nam đã đưa ra để cho thấy nhiều

khách hàng lớn của ngành may đang dần rời bỏ Việt Nam để tìm đến những nguồn cung

cấp mới ở Trung Quốc, Bắc Mỹ, Đông Âu, Bắc Phi … Theo một số chuyên gia nghiên

cứu ngành dệt may thì ngành may Việt Nam đang mất dần lợi thế cạnh tranh do nhiều

nguyên nhân trong đó có các nguyên nhân liên quan đến hệ thống phân phối và các chính

sách của nhà nước.

Hiện tại, hình thức phân phối sản phẩm của ngành may chủ yếu dựa trên phương

thức gia công xuất khẩu trong đó các doanh nghiệp Việt Nam hầu như khơng chịu rủi ro

về việc tiêu thụ hàng hóa. Vai trò của các doanh nghiệp may Việt Nam trong q trình sản

xuất và lưu thơng sản phẩm còn rất hạn chế nên tỷ lệ giá trị gia tăng được hưởng cũng rất

thấp. Kênh lưu thông hàng may mặc chưa hòan thiện, các doanh nghiệp thiếu thơng tin về

thị trường, tự mình phát triển thị trường tiêu thụ dẫn đến không hiệu quả và buộc phải

dựa vào khách hàng nước ngồi.

Trong khi đó, trước khi quyết định đặt gia cơng hay mua hàng may ở một nước nào,

khách hàng thường cân nhắc các yếu tố như: Hệ thống chính trị ở nước bán hàng ổn định

và đảm bảo làm ăn lâu dài với mức rủi ro thấp; chi phí gia cơng và các chi phí khác; thời

gian sản xuất và giao hàng; các ưu đãi thương mại và thuế của nước nhập khẩu. Trong

35



các yếu tố đó, Việt Nam có ưu thế là có hệ thống chính trị ổn định, đảm bảo làm ăn lâu

dài, nhưng bên cạnh đó cũng có khá nhiều yếu tố khơng thuận lợi như mơi trường kinh

doanh chưa thực sự thông suốt, đổi mới chập chạp, thủ tục hàng chính rườm rà, phức tạp,

các chi phí ngoại trừ chi phí gia cơng như chi phí thông tin liên lạc, vận chuyển khá cao;

Việt Nam chưa được nhiều ưu đãi về thương mại và thuế của các thị trường nhập khẩu

chính, hàng may xuất khẩu sang các nước vẫn bị khống chế bằng hạn ngạch và bị đánh

thuế nhập khẩu cao. Do vậy nhiều khách hàng ở Nhật, EU và nhiều nước khác đang có xu

hướng chuyển đơn đặt hàng vào các nước Trung Quốc, Đông Âu … Để hưởng các ưu đãi

về thương mại, thuế quan và tận dụng các chi phí vận chuyện và liên lạc rẻ.

 Các đối thủ cạnh tranh trên thị trường

Có thể nói khi xâm nhập vào thị trường thị trường may thế giới đặc biệt là thị trường

may EU , Nhật bản , Mỹ bằng con đường xuất khẩu thì đối thủ cạnh tranh khổng lồ và

đáng gờm nhất đối với các doanh nghiệp may Việt Nam là Trung Quốc

Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới lại nằm trên con đường tơ lụa nên ngành

dệt may Trung Quốc phát triển hàng ngàn năm nay,vừa đảm bảo nhu cầu tiêu thụ trong

nước,vừa đảm bảo giao thương quốc tế.Trung Quốc giữ vị trí hàng đầu trong ngành dệt

may thế giới về sản lượng bông , vải bông và sản phẩm may mặc và đứng thứ 2 về sơ hoá

học . Công nghiệp dệt may Trung quốc luôn giữ vị trí tiên phong trong nền kinh tế quốc

dân,giá trị sản lượng của nganh dệt - may chiếm xấp xỉ 20% tổng giá trị sản lượng cơng

nghiệp tồn quốc và la ngành công nghiệp lớn nhất nước . Giá trị kim ngạch xuất khẩu

hàng dệt may Trung quốc chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tồng kim ngạch buôn bán

hàng dệt may tồn cầu,trung bình kim ngạch xt khẩu hàng may chiếm 20% kim ngạch

xuất khẩu tồn cầu ,trong đó các thị trường truyền thống của Trung Quốc la Hồng

Kông ,Nhật bản ,Mỹ,EU, Australia . Năm 2002,những thị trường này chiếm trên 80%

tổng giá trị xuất khẩu của Trung quốc . Sau khi ra nhập WTO, đến 2014 kim ngạch xuất

khẩu ngành may của Trung Quốc sẽ chiếm đến 47% thị trường may mặc của thế giới

Hiện nay ,nhiệm vụ chiến lược của Trung quốc là tăng cường khả năng cạnh tranh

thông qua việc cơ cấu lại ngành dệt may , điều chỉnh quy mơ sản xuất,hiện đại hố thiết

bị và nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm nhằm mục đích chuyển từ một quốc gia có

ngành cơng nghiệp dệt may lớn thành nước có ngành cơng nghiệp dệt may mạnh .Chiến

36



lược này được thực hiện dựa trên một số ưu thế của ngành dệt may Trung quốc như: đội

ngũ nhân viên giỏi ,giá hàng may thấp chỉ khoảng 80% giá hàng cùng loại của Việt

nam ,công tác maketing có hiệu quả,cơ cấu ngành dệt may đã phát triển ở mức nhất định

và đặc biệt là hệ thống chính sách hỗ trợ và khuyến khích của chính phủ Trung Quốc . Dự

báo trong những năm tới , Trung Quốc vẫn là nước dẫn đầu thế giới về xuất khẩu hàng

dệt may . Do vậy việc Trung Quốc ra nhập WTO đã đặt hàng may mặc của Việt Nam

trước những khó khăn hơn khi kinh doanh trên cùng một thị trường mục tiêu với các công

ty Trung Quốc

Bên cạnh Trung Quốc , Hàn Quốc , Thái Lan , Singapore đều là các nước xuất khẩu

hàng may với kim ngạch xuất khẩu cao hơn Việt Nam bởi họ tạo được nhiều lợi thế hơn

so với các sản phẩm của Việt Nam, có thể nói mức độ cạnh tranh trên thị trường may

trong khu vực Châu á là rất gay gắt.

2. Tình hình thực hiện phương thức gia cơng xuất khẩu của các doanh nghiệp

may Việt Nam.

Q trình thực hiện gia cơng xuất khẩu trong ngành may Việt Nam được chia làm ba

giai đoan như sau:

-



Giai đoạn 1978-1989: Việc gia công xuất khẩu cùng được tiến hành ở cả hai



ngành dệt và may. Ở ngành dệt, các nhà máy dệt ở Việt Nam được cung cấp sợi nhập

khẩu để dệt thành vải, trao trả các nước bạn, còn ở ngành may, các doanh nghiệp may ở

Việt Nam đã nhận vải từ các doanh nghiệp dệt trong nước ( được dệt từ sợi nhập khẩu) và

may thành sản phẩm để xuất khẩu cho nước bạn. Hình thức gia cơng xuất khẩu tiếp tục

được phát triển và đạt đỉnh cao khi Việt Nam ký hiệp định thương mại năm 1987 với các

nước XHCN. Khi đó, các mặt hàng may phổ biến là quần áo bảo hộ lao động, vỏ chăn, ga

trải giường… được xuất khẩu với khối lượng khá lớn sang các nước này.

-



Giai đoạn 1990-1995: Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam bắt đầu tìm cách xác



lập quan hệ với các đối tác thuộc khu vực II ( thị trường các nước TBCN, theo cách gọi

lúc bấy giờ). Lúc này đi tiên phong không phải là các doanh nghiệp dệt mà là các doanh

nghiệp may. Các khách hàng Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản đã bắt đầu tìm đến các

doanh nghiệp may của Việt Nam với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận cao. Một điểm cần lưu

ý trong giai đoạn này là cho đến trước năm 1993, do lệnh cấm vận thương mại của chính

37



phủ Mỹ nên Việt Nam hồn tồn khơng có hạn ngạch xuất khẩu sang các nước. Chỉ sau

khi hiệp định thương mại giữa Việt Nam và EU được ký kết vào tháng 10 năm 1993, thị

trường xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam được chính thức xác lập và Việt Nam đã

được cấp hạn ngạch xuất khẩu mặc dù còn hạn chế vào thị trường các nước EU. Năm

1993, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may đạt 335 triệu USD, năm 1994: 554 triệu USD

và năm 1995:850 triệu USD. Việc tổ chức sản xuất cũng có những thay đổi quan trọng,

chuyển tiền hình thức tổ chức ngang sang hình thức tổ chức dọc, tức là mỗi phân xưởng

được tổ chức thành các giây chuyền khép kín có đầy đủ các khâu cắt, may và hòan thiện

để có thể sản xuất một loại sản phẩm hòan chỉnh. Hình thức tổ chức này đã làm tăng

thêm tính chun mơn hóa, nhờ vậy làm tăng năng suất lao động.

-



Giai đoạn 1995- 2015: Sau khi chính phủ Mỹ xóa bỏ lệnh cấm vận thương mại với



Việt Nam, hoạt động gia công xuất khẩu hàng may mặc ở Việt Nam chuyển sang phát

triển cả về chiều rộng và chiều sâu. Về chiều rộng, các doanh nghiệp tham gia gia công

xuất khẩu hàng may mặc bao gồm cả các doanh nghiệp nhà nước trung ương, doanh

nghiệp nhà nước do địa phương quản lý và các doanh nghiệp ngòai quốc doanh, bao gồm

các cơng ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn. Sản lượng gia công tăng mạnh,

chủng loại mặt hàng được mở rộng. Đơn giá gia công từ vài đô la đến vài chục đô la một

sản phẩm.

Do sự tăng về loại hình các doanh nghiệp thực hiện gia cơng tăng, số lượng gia công

và chủng loại mặt hàng nên kim ngạch xuất khẩu tăng lên nhanh chóng nhờ đó đầu tư vào

lĩnh vực may mặc cũng tăng mạnh. Có thể coi đây là giai đoạn hoàn thiện cả về tổ chức

sản xuất và năng lực sản xuất, bao gồm cả việc nâng cao năng lực thiết bị, công nghệ và

chất lượng sản phẩm.

 Tình hình thực hiện phương thức gia cơng xuất khẩu trong ngành may Việt

Nam

Quá trình thực hiện gia công xuất khẩu được thực hiện qua nhiều giai đoạn khác

nhau. Q trình thực hiện gia cơng xuất khẩu của các doanh nghiệp may Việt Nam bắt

đầu từ tìm kiếm khách hàng và kết thúc bằng việc thanh lý hợp đồng gia cơng. Trong các

cơng việc của q trình này có mấy điểm đáng chú ý sau:



38



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thực trạng về sức cạnh tranh ngành may mặc của Việt Nam

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×