Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tình hình xuất khẩu may mặc trong những năm gần đây của Việt Nam

Tình hình xuất khẩu may mặc trong những năm gần đây của Việt Nam

Tải bản đầy đủ - 0trang

khiêm tốn trong các sản phẩm xuất khẩu chủ lực vào thời điểm trước năm 1990 đã vươn

lên vị trí số 1 trong những năm 1996-1997 và ổn định ở vị trí thứ hai từ 1998 – 2015 đạt

mức tăng trưởng hàng năm 23,8%. Năm 2001 xuất khẩu hàng dệt may đạt 1,96 tỉ USD,

gấp 16 lần so với năm 1990 và năm 2015 đạt . Hiện tại, sản phẩm của ngành dệt may Việt

Nam đã có mặt trên 100 nước và vùng lãnh thổ tại hầu khắp các châu lục so với gần 30

nước ở thời điểm năm 1990.

Sản phẩm dệt may Việt Nam được xuất khẩu sang 2 khu vực chính: thị trường có

hạn ngạch do nước nhập khẩu ấn định số lượng từng loại sản phẩm như EU, Canada, Thổ

Nhĩ Kỳ và thị trường không hạn ngạch như Nhật Bản, châu Á, Châu Mỹ. EU là thị trường

xuất khẩu hàng dệt may theo hạn ngạch lớn nhất, chiếm 80% tổng kim ngạch xuất khẩu

có hạn ngạch của Việt Nam, có tốc độ tăng trưởng kim ngạch cao, bình quân 23%/ năm.

Nhật Bản là thị trường hàng may mặc lớn thứ ba và là thị trường nhập khẩu không hạn

ngạch lớn nhất thế giới. Năm 1994, 1995, Việt Nam có mặt trong số 10 nước dẫn đầu về

xuất khẩu hàng may vào Nhật Bản, đến năm 1996 vươn lên hàng thứ 8, năm 1997 vươn

lên hàng thứ 7 và từ dó đến nay giữ vị trí thứ 5. Mỹ được xem là một thị trường đầy tiềm

năng và triển vọng đối với hàng dệt may Việt Nam, đặc biệt là từ sau khi hiệp định

thương mại Việt Mỹ được ký kết, hiện tại Mỹ chỉ đứng ở vị trí thứ 7 trong số các thị

trường chính của Việt Nam, song trong tương lai, vị trí này sẽ được cải thiện và Việt Nam

cũng xác định Mỹ là thị truờng chiến lược trong những năm sắp tới.



22



Bảng 2.2. Thị trường và kim ngạch xuất nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam

năm 2015

(Đơn vị tính: 1000 USD)

Thị trường

TPP



2015

14,754,421



so 2014

(%)



Thị trường



10.06 EU



2015

3,325,039



so 2014

(%)

0.72



23



Mỹ

Nhật Bản



10,983,603



11.85 Anh



690,192



16.03



2,759,894



5.19 Đức



668,387



-12.56



Canada



532,137



8.04 TBan Nha



512,345



-26.65



Ơxtrâylia



139,906



5.78 Hà Lan



492,141



26.21



Mêhicơ



97,156



-8.84 Pháp



342,316



92.53



Chilê



94,070



-7.57 Italia



206,242



6.21



Malaysia



67,097



180,325



-8.32



Singapore



65,403



29.51 Đan Mạch



72,147



-19.54



NZealand



15,156



-12.36 Thụy Điển



63,686



-17.75



44,049



-15.32



19,284



12.65



8.82 Bỉ



Trung Quốc



653,750



40.22 Ba Lan



Hồng Kông



233,511



Đài Loan



247,717



15.18 Phần Lan



10,620



-31.95



Campuchia



203,588



41.2 C H Séc



10,999



-27.39



Inđônêxia



133,107



7,053



7.68



UAE



125,021



0.68 Slovakia



3,729



-19.19



Nga



83,462



-38.98 Hunggary



1,523



-77.9



Braxin



68,508



-1.55 Nam Phi



0



-100



Philipine



61,459



33.64 Myanma



12,332



-6.16



Thái Lan



54,825



29.56 Thụy Sỹ



10,258



-23.77



Thổ Nhĩ Kỳ



37,235



7,099



-30.16



Bănglađet



41,318



3,847



-39.88



Panama



27,680



31.2 Ukraina



4,700



-10.52



Ấn Độ



32,109



64.7 Bờ Biển Ngà



559



-96.87



Na Uy



20,959



-2.1 Hàn Quốc



2,162,561



3.36



29.8 áo



54.17 Hy Lạp



-44.21 Lào

47.94 Ai Cập



 EU – Thị trường chiến lược quan trọng hàng đầu

Từ trước tới nay, EU luôn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của thị truờng may Việt

Nam, chiếm hơn 40% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu. Dù cho thời gian gần đây, các

doanh nghiệp dệt may Việt Nam có bị cuốn vào “dòng thác” tìm đường xuất khẩu vào thị

trường Mỹ- một thị trường đầy tiềm năng và rất nhiều hứa hẹn thì EU cũng là thị trường

truyền thống và giữ vị trí chiến lược quan trọng hàng đầu.

24



Bảng 2.3. Nhập khẩu hàng may mặc của các nước EU 9 tháng 2015

9T/2015

Thị trường



Giá trị (USD)



Số lượng

(100kg)



9T/2015

Đơn giá Thị trường

(USD/Kg)



Eu28_Extr 68,592,087,058 33,787,242

aGermany 15,271,457,277 6,667,087

U.K.

11,714,193,139 7,276,273



20.30



France



Số lượng Đơn giá

(100kg) (USD/Kg)



3,174,390,521 1,858,642



17.08



22.91



Belgium

Denmark



2,081,872,213



857,487



24.28



16.10



Sweden



1,828,490,826



710,651



25.73



Poland

Austria



1,038,073,554

651,956,242



641,608

277,603



16.18

23.49



Ireland



480,342,925



264,402



18.17



406,507,473



238,751



17.03



71,361,288



60,139



11.87



8,253,786,354



3,343,546



24.69



7,963,421,487

Netherland 7,371,381,568

sItaly

6,589,448,841



3,838,666

3,860,415



20.75

19.09



2,612,944



25.22



Spain



Giá trị (USD)



Slovakia



392,451,804



249,729



15.72



Czech

Rep.

Bulgaria



Greece



278,926,342



308,415



9.04



Lithuania



61,294,300



29,483



20.79



Finland



273,137,354



118,238



23.10



53,811,884



59,256



9.08



Portugal



166,817,859



106,468



15.67



Luxembou

rg

Latvia



29,814,055



20,334



14.66



Romania



158,718,682



176,845



8.98



Hungary

Slovenia



73,132,505

74,348,213



62,533

48,914



11.70

15.20



Estonia

Malta



20,479,774

12,944,510



9,697

39,981



21.12

3.24



Cyprus



10,815,370



7,048



15.35



Croatia



88,710,699



42,087



21.08



EU- địa chỉ vàng cho hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam. Theo những đánh giá mới

đây của các tổ chức dệt may quốc tế, EU vẫn là khu vực đứng đầu thế giới về nhập khẩu

hàng may mặc, chiếm 49% tổng giá trị nhập khẩu hàng dệt may của toàn thế giới. Nhu

cầu nhập khẩu hàng năm của EU vào khoảng 110 tỷ USD hàng quần áo may sẵn và hàng

dệt các loại, đem đến cơ hội tuyệt vời cho các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam.

Cơ hội này càng trở nên hấp dẫn hơn khi EU đang có xu hướng chuyển nguồn nhập khẩu

sang các nước đang phát triển để tận dụng nguồn lao động giá rẻ của các nước này. Tỷ

trọng mậu dịch 43% trong nội bộ EU và 17% nhập từ các nước đang phát triển đang dần

được điều chỉnh theo hướng tăng tỷ lệ nhập khẩu từ châu Á- khu vực sản xuất hàng dệt

may lớn nhất, chiếm tỷ trọng 60% khối lượng hàng dệt may xuất khẩu của toàn thế giới.

Các nước thuộc EU là thị trường nhập khẩu hàng dệt may theo hạn ngạch lớn nhất của

Việt Nam với tốc độ tăng trưởng kim ngạch lên đến trên 23%/năm. Tuy nhiên nếu nhìn từ

phía EU thì Việt Nam chỉ là nhập khẩu lớn thứ 16 và chiếm 0,5% kim ngạch nhập khẩu

25



hàng dệt may của EU. Trong đó, Đức là nước nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất của Việt

Nam, chiếm 41% tổng giá trị xuất khẩu, tiếp theo là Pháp 14%, Hà Lan 12%, Italia 9% và

các nước khác chiếm 8%. Kim ngạch xuất khẩu EU bắt đầu tăng mạnh kể từ khi hiệp

định buôn bán hàng dệt may được ký tắt vào tháng 12/1992 và liên tục được điều chỉnh

bổ sung cho từng giai đoạn. Các sản phẩm xuất khẩu chủ lực chiếm tới 70% giá trị kim

ngạch là những hàng quen làm, dễ thu lợi nhuận như: Áo jacket (51,7%), áo sơ mi

(11% ), quần âu (5%), áo len và áo dài kim (3,9%). Các sản phẩm có yêu cầu phức tạp,

chất lượng cao thì Việt Nam vẫn ln chưa sản xuất được hoặc sản xuất với tỷ lệ rất nhỏ

 Thị trường Mỹ - cơ hội mới, thách thức lớn

Theo đánh giá của Bộ Thương Mại, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng

dệt may vào Mỹ đang đạt cao nhất trong 4 thị trường xuất khẩu chính của mặt hàng này

kể từ khi hiệp định thuơng mại Việt Mỹ có hiệu lực. Tính đến hết tháng 8/2002, trong

tổng kim ngạch xuất khẩu tồn ngành 1,56 tỷ USD thì kim ngạch xuất khẩu vào Mỹ đạt

420 triệu USD, vươn lên vị trí thứ 2 sau thị trường EU ( khoảng 450 triệu USD) và chiếm

tỷ lệ gần 30%. Có thể nói hiệp định thương mại Việt Mỹ được ký kết 14/7/2000 đã đánh

dấu một bước ngoặt có ý nghĩa vơ cùng quan trọng trong lịch sử quan hệ ngoại giao và

hợp tác thương mại giữa chính phủ 2 nước Việt Nam và Mỹ, mở ra một kỷ nguyên mới

đầy triển vọng, song cũng khơng ít thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam nói chung

và ngành dệt may nói riêng.

Hiệp định thương mại Việt Mỹ- cơ hội vàng cho các doanh nghiệp xuất khẩu dệt

may.“Chúng ta phải thừa nhận rằng, khơng có thị trường thì khơng có sản xuất. Chính vì

vậy, cần phải tạo ra thị trường mới, đột biến thì sản xuất mới có cơ hội để phát triển”- ơng

Nguyễn Văn Thông- Viện trưởng Viện kinh tế kỹ thuật dệt may Việt Nam khẳng định.

Việc mở rộng thị trường Mỹ, theo bà Đới thị Thu Thủy- phó tổng giám đốc tổng

cơng ty dệt may Việt Nam ( Vinatex) kiêm tổng giám đốc công ty may Chiến Thắng cho

biết “ Khi thị trường Mỹ mở ra, doanh nghiệp dệt may của Việt Nam có nhiều cơ hội và

điều kiện để mở rộng thị trường bởi Việt Nam được đánh giá là một đất nước có truyền

thống về may mặc, tay nghề của cơng nhân khá tốt và chi phí lao động cũng vừa phải.

Hơn nữa, trong những năm đầu hiệp định thương mại Việt Mỹ có hiệu lực, hàng dệt may

vào Mỹ được hưởng quy chế quan hệ thương mại bình thường và chưa có quota”.

26



Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, nhất là sau sự kiện 11/9, thì đây được coi là cơ hội

vàng cho ngành dệt may Việt Nam. Theo đánh giá của hiệp hội dệt may và da giày Mỹ

(AAFA), các doanh nghiệp Mỹ không muốn ký kết hợp đồng làm ăn với những quốc gia

không ổn định về chính trị. Trong khi đó, Việt Nam ln được cộng đồng quốc tế đánh

giá là một thị trường tiềm năng, có nền chính trị ổn định và có mức đầu tư liên tục tăng

trưởng. Một ví dụ cụ thể là trường hợp của cơng ty ERATEX có cơ sở sản xuất tại

Indonesia, do bất ổn về chính trị, sau khi tìm hiểu và nghiên cứu, mới đây ERATEX đã

ký biên bản hợp tác sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may với một đối tác của Việt Nam là

công ty may Chiến Thắng, đồng thời phía ERATEX cũng quyết định chuyển một số máy

móc, thiết bị chuyên dùng sẵn có từ cơ sở sản xuất ở Indonesia sang xí nghiệp may Thái

Nguyên ( thuộc công ty may Chiến Thắng), mở đầu quan hệ hợp tác kinh doanh lâu dài

với một đối tác Việt Nam.

Ngồi những thuận lợi cơ bản nói trên, chúng ta khơng thể khơng nói đến sự hỗ trợ

đắc lực và hiệu quả của hơn 1 triệu người Việt Nam đang định cư tại Mỹ. Họ sẽ là nhân

tố quan trọng, đóng vai trò cầu nối để đưa hàng Việt nam vào thị trường này. Điển hình

như trường hợp của Việt kiều Nguyễn Cảnh Kỳ, người đã ký hợp đồng thuê thương hiệu

sản phẩm AQ Silk của Việt nam để kinh doanh mặt hàng lụa tơ tằm trên địa phận bang

Michigan trong thời gian 10 năm với giá trị hợp đồng lên tới hàng triệu USD/năm.



Bảng 2.4. Nhập khẩu hàng dệt may của Hoa Kỳ từ Việt Nam năm 2015

Số lượng (100kg)



Trị giá (USD)



May



Đơn giá (USD/kg)



T12/15



2015



So 2014

(%)



T12/15



2015



So 2014

(%)



T12/15



2015



So 2014

(%)



766,751,654



10,563,846,41



13.97



237,281,68



3,135,555,004



13.98



3.23



3.37



0.00



27



2



2



Dệt



50,862,654



726,132,022



5.75



94,057,302



1,233,080,816



0.09



0.54



0.59



5.65



Tổn

g



817,614,308



11,289,978,434



13.41



331,338,984



4,368,635,820



9.68



2.47



2.58



3.40



Cơ hội bước đầu đã được chuyển thành những kết quả cụ thể trên thực tế. Nếu năm

2001, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Mỹ chỉ đạt 47,5 triệu USD thì

chỉ tính đến hết tháng 8/2002, con số này đã lên đến 420 triệu USD, tăng gấp 9 lần, đứng

thứ hai sau thị trường truyền thống EU. Với đà tăng trưởng này, ngành dệt may Việt Nam

có cơ sở để đưa ra con số dự báo về tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may vào thị

trường Hoa Kỳ đạt mức từ 500-600 triệu USD, vượt 300% so với kế hoạch dự kiến ban

đầu.

Cơ hội là thế nhưng thách thức khơng phải là ít, nhất là sức ép của tiến trình hội

nhập kinh tế tồn cầu. Theo như ông Thông cho biết, tháng 8/2003, các nước EU sẽ đồng

loạt áp dụng quy định về nhãn mác sinh thái đối với hàng dệt may nhập khẩu; sang năm

2004 thị trường EU sẽ bãi bỏ hạn ngạch cho các nước thành viên WTO; năm 2006 xóa bỏ

hàng rào thuế quan nhập khẩu khu vực thị trường ASEAN. Ngoài ra, có thể trong thời

gian tới, chính phủ Mỹ sẽ ấn định hạn ngạch đối với hàng dệt may của Việt Nam.

Tại cuộc hội thảo được tổ chức tại Hà Nội ngày 19-20/8/2002 do hiệp hội dệt may

và da giày Mỹ phối hợp với hiệp hội dệt may Việt Nam và viện quản trị kinh doanh

trường ĐH Kinh tế quốc dân tổ chức, ông Lê Quốc Ân, chủ tịch VITAS cho biết “ Sau

một thời gian thực hiện xuất khẩu hàng dệt may vào Mỹ, có rất nhiều vấn đề cần phải rút

ra. Các doanh nghiệp cần xuất khẩu trực tiếp cho các cơng ty có “đẳng cấp” của Mỹ.

Hiện nay, các doanh nghiệp trong nước chưa làm được điều này mà phải xuất qua các

công ty trung gian của Hồng Kông, Đài Loan và Hàn Quốc… Việc xuất khẩu hàng dệt

may Việt Nam vào Mỹ phải qua một nước thứ 3 gây ra nhiều bất lợi đối với Việt Nam,

bởi các doanh nghiệp sẽ phải mất thêm tiền cước phí vận chuyển, tiền chênh lệch giá”.

Đến nay, xuất khẩu FOB sang thị trường Mỹ nói riêng và các thị trường khác nói chung

28



mới chỉ đạt được mức hết sức khiêm tốn, khoảng 25-30% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng

dệt may của Việt Nam. Hạn chế là rõ ràng song nhiều khi cũng là vì “lực bất tòng tâm”.

3.



Các phương thức xuất khẩu của ngành may mặc Việt Nam

1.



Gia công xuất khẩu (CMT)



Xuất khẩu bằng phương thức gia công quốc tế là quan hệ kinh tế giữa 2 chủ thể kinh

tế ở 2 quốc gia khác nhau. Nội dung mối quan hệ này được tóm tắt trong bảng dưới đây.

Nếu xem xét trên khía cạnh quyền sở hữu nguyên liệu trong quá trình sản xuất sản phẩm

thì phương thức này có thể được thực hiện theo hình thức nhận ngun phụ liệu và giao

thành phẩm, nhưng cũng có thể được thực hiện theo hình thức mua nguyên phụ liệu và

bán thành phẩm. Trong phương thức sản xuất và phân phối này, các đối tác tham gia có

thể là hai bên hoặc nhiều bên.

Phương thức gia cơng xuất khẩu đã có từ lâu đời, được hình thành dựa trên cơ sở

khai thác lợi thế của các bên tham gia. Trong lịch sử phát triển công việc, phương thức

này đã từng được phát triển mạnh ở Hàn Quốc, Malaysia, Đài Loan, Singapore … Trong

thời kỳ đầu cơng nghiệp hóa, phương thức này đã được các quốc gia và khu vực này coi

là điều kiện sống còn cho sự phát triển của một số ngành công nghiệp. Ngày nay, phương

thức gia công xuất khẩu lại được dịch chuyển qua các nước nghèo hơn nhưng có nguồn

nhân lực dồi dào và rẻ như Việt Nam, Bangladet, Nepan …

Bảng 2.5. Các chủ thể tham gia q trình gia cơng xuất khẩu

-



Chủ thể nước ngồi

Đặt u cầu về loại mặt hàng, sản

lượng, yêu cầu chất lượng, chi phí



Chủ thể trong nước

-



móc thiết bị và lực lượng lao động)



gia công, thời gian giao hàng và

-



các điều kiện khác.

Cung cấp nguyên phụ liệu chủ yếu

Hướng dẫn kỹ thuật sản xuất

Kiểm định chất lượng và nhận



-



hàng

Trả tiền gia công



Cân đối khả năng sản xuất (máy

theo yêu cầu đặt hàng của đối tác



-



nước ngoài.

Tự bảo đảm một số loại phụ liệu

Tổ chức q trình sản xuất

Giao hàng

Nhận tiền gia cơng



Việt Nam đang trong q trình thực hiện nhiệm vụ cơng nghiệp hóa hiện đại hóa đất

nước. Trong chiến lược cơng nghiệp hóa hiện đại hóa hiện nay, cơng nghiệp dệt may

29



được coi là ngành mũi nhọn. Định hướng phát triển công nghiệp dệt may được phát hiện

trên cơ sở đánh giá lợi thế của Việt Nam và vị trí của ngành trong việc giải quyết các vấn

đề kinh tế xã hội của đất nước. Việt Nam có những lợi thế rất cơ bản để phát triển công

nghiệp dệt may thành một ngành mũi nhọn trong cơ cấu kinh tế. Đó là nguồn nhân lực

dồi dào, giá nhân công rẻ; bản chất của công nghệ may không phức tạp và không đòi hỏi

lượng vốn đầu tư lớn; xu hướng dịch chuyển các ngành cơng nghiệp hao phí nhiều lao

động, trong đó có cơng nghiệp dệt may, từ các nước cơng nghiệp phát triển sang các nước

đang phát triển; truyền thống của ngành tại Việt Nam, vị trí địa lý kinh tế và sự ổn định

về chính trị xã hội …

Bên cạnh những thuận lợi hết sức cơ bản đó, trong việc phát triển cơng nghiệp dệt

may, Việt Nam cũng có những yếu thế, khó khăn nhất định. Trong đó chủ yếu là:

-



Khả năng thiết kế thời trang còn hạn chế. Về cơ bản đến nay, thương hiệu hàng dệt

may Việt Nam chưa tạo lập được chỗ đứng vững trên thị trường quốc tế.



-



Kinh nghiệm Marketting quốc tế chưa tích lũy được nhiều, khả năng cạnh tranh trên

thị trường thế giới còn thấp.



-



Trình độ trang bị kỹ thuật còn thấp kém so với một số nước trong khu vực.



-



Phần lớn trong doanh nghiệp đang gặp khó khăn về vốn kinh doanh …

Sơ đồ 2.1. Sơ đồ sản xuất và phân phối hàng may mặc

Thiết kế sản phẩm

Lựa chọn nhà cung Mua

cấp nguyên phụ liệu Cắt may hoàn thiện



Xuất khẩu



Hiện tại, trong quá trình thực hiện phương thức gia cơng xuất khẩu, khách hàng

nước ngồi khơng chỉ cung cấp cho các doanh nghiệp may những thứ cần thiết trực tiếp

cho sản xuất như nguyên vật liệu bao gồm nguyên liệu, phụ liệu, bản thiết kế, mẫu thiết

kế, thuyết minh sản phẩm … mà còn thực hiện chuyển giao cả kỹ thuật sản xuất và quản

lý cho bên Việt Nam. Khách hàng hướng dẫn từ công đoạn lắp ráp dây chuyền sản xuất,

các kỹ thuật may, hòan thiện và kiểm tra sản phẩm, bên Việt Nam chỉ thực hiện công

đoạn thứ tự trong quá trình sản xuất ra sản phẩm may mặc. Nhờ việc hướng dẫn kỹ thuật

này mà trình độ sản xuất của các doanh nghiệp may Việt Nam được nâng cao rõ rệt.

30



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tình hình xuất khẩu may mặc trong những năm gần đây của Việt Nam

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×