Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN DỀ CƠ BẢN VỀ TPP ĐỐI VỚI NGÀNH MAY MẶC

CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN DỀ CƠ BẢN VỀ TPP ĐỐI VỚI NGÀNH MAY MẶC

Tải bản đầy đủ - 0trang

bảo rằng tất cả các Bên có thể tuân thủ cam kết trong Hiệp định và tận dụng được

những lợi ích.



 Nền tảng hội nhập khu vực :

TPP được định hình như một nền tảng cho hội nhập kinh tế khu vực và nhắm đến

cả những nền kinh tế khác trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.

Phạm vi áp dụng

 TPP bao gồm 30 chương về thương mại và các vấn đề liên quan đến thương mại, từ

thương mại hàng hóa đến hải quan và trợ giúp thương mại; biện pháp vệ sinh dịch

tễ; rào cản kỹ thuật đối với thương mại; biện pháp phòng vệ thương mại; đầu tư;

dịch vụ; thương mại điện tử; mua sắm công; sở hữu trí tuệ; lao động; mơi trường;

các chương “ngang” nhằm mục đích đảm bảo TPP tận dụng được các tiềm năng về

phát triển, năng lực cạnh tranh, và sự toàn diện; giải quyết tranh chấp, các điều

khoản ngoại lệ, và điều khoản thi hành.

 Ngoài cập nhật các phương pháp truyền thống đối với vấn đề của các hiệp định

thương mại tự do trước đây, TPP còn đưa vào các vấn đề thương mại mới và các vấn

đề xuyên suốt, bao gồm các vấn đề liên quan đến Internet và nền kinh tế kỹ thuật số,

sự tham gia của các doanh nghiệp nhà nước trong đầu tư và thương mại quốc tế ,

khả năng của các doanh nghiệp nhỏ để tận dụng lợi thế của các hiệp định thương

mại, và các chủ đề khác.

 TPP kết nối một nhóm gồm nhiều nước đa dạng về mặt địa lý, ngôn ngữ và lịch sử,

kích thước và mức độ phát triển. Tất cả các nước ký kết TPP nhận thấy rằng sự đa

dạng là một tài sản đặc thù, nhưng cũng đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ, xây dựng năng

lực cho các nước TPP kém phát triển hơn, và phát triển năng lực để thực hiện những

nghĩa vụ mới trong một số trường hợp trong thời gian chuyển tiếp đặc biệt và có cơ

chế cho phép một số Bên thêm thời gian.

1.2 Nội dung cam kết về dệt may nói chung và ngành may mặc nói riêng trong TPP.

TPP là hiệp định thương mại tự do đầu tiên Việt Nam tham gia có chương riêng về

dệt may. Ngồi việc áp dụng các quy định chung như các hàng hóa khác trong các

chương Thương mại Hàng hóa, Quy tắc Xuất Xứ, Phòng vệ Thương mại, Hợp tác Hải

quan, dệt may có những quy định riêng mang tính đặc thù.

10



Chương dệt may trong Hiệp định TPP bao gồm 3 nội dung chính:

 Mở cửa thị trường (lộ trình xóa bỏ thuế quan).

Các Bên trong TPP có các nghĩa vụ căn bản là xóa bỏ thuế hải quan đối với

hàng hóa đủ tiêu chuẩn từ khu vực TPP, và để quy định nguyên tắc xử lý đối với

những hàng hóa đến từ các Bên khác trong TPP tương đương với cách mà họ

quy định đối với cơng dân nước mình (“ngun tắc đối xử quốc gia”). Điều đó

có nghĩa là loại bỏ tất cả các sắc thuế đối với hàng hóa cơng nghiệp và gần như

tất cả các sản phẩm công nghiệp. Phần lớn việc loại bỏ thuế sẽ được diễn ra

ngay lập tức, mặc dù một số sắc thuế sẽ được loại bỏ theo khung thời gian thỏa

thuận. Tất cả các vấn đề liên quan đến mở cửa thị trường đặc biệt là lộ trình cắt

giảm thuế quan đều được các nước quy định và đưa ra các biểu cam kết thuế

quan một cách cụ thể rõ ràng ở trong “ Chương 2: Đối xử quốc gia và mở cửa

thị trường đối với hàng hóa ” và “ Phụ lục 2-D: Lộ trình cắt giảm thuế ” của

TPP



 Quy tắc xuất xứ.

Về quy tắc xuất xứ sẽ được quy định rõ trong “ Phụ lục 3-D: Quy tắc xuất

xứ cụ thể mặt hàng ” và cụ thể hơn về dệt may nói riêng và ngành may mặc nói

chung thì sẽ được nói rõ ở “ Phụ lục 4-A: Quy tắc xuất xứ cụ thể của hàng dệt

may ” của Hiệp định xuyên Thái Bình Dương. Cụ thể là theo Phụ lục này, hàng

hóa có xuất xứ nếu được sản xuất tồn bộ tại lãnh thổ của một hoặc nhiều Bên

bởi một hoặc nhiều người sản xuất sử dụng nguyên phụ liệu không có xuất xứ,

và:

a) Mỗi ngun phụ liệu khơng có xuất xứ được sử dụng để sản xuất hàng hóa

phải đáp ứng quy tắc chuyển đổi mã số hàng hóa, quy trình sản xuất cụ thể,

hàm lượng giá trị khu vực, hoặc bất kỳ quy tắc nào khác được nêu trong Phụ

lục này; và

b) Hàng hóa đáp ứng tất cả các quy định khác của “Chương 4: Dệt may” hoặc

“Chương 3: Quy tắc xuất xứ và thủ tục chứng nhận xuất xứ”.

 Biện pháp tự vệ và hợp tác hải quan.

Theo các điều khoản của Điều này nếu, sau khi giảm trừ hoặc loại bỏ thuế

11



quan theo quy định tại Hiệp định này, một mặt hàng dệt may được hưởng ưu đãi

thuế quan theo quy định tại Hiệp định này được nhập khẩu vào lãnh thổ của

một Bên với số lượng gia tăng, và theo đó gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe

dọa thực tế cho ngành công nghiệp nội địa sản xuất ra các sản phẩm tương tự

hoặc các sản phẩm cạnh tranh trực tiếp, Bên nhập khẩu, xét thấy cần thiết nhằm

ngăn chặn hoặc phòng vệ những thiệt hại đó và để thuận lợi các điều chỉnh, áp

dụng hành động khẩn cấp phù hợp với khoản 6, bao gồm việc tăng thuế suất đối

với hàng hóa đó của một hoặc các Bên xuất khẩu tới mức không vượt quá mức

nào thấp hơn trong hai mức sau:

a) Thuế suất tối huệ quốc (MFN) áp dụng tại thời điểm hành động khẩn cấp

được thực hiện; và

b) Thuế suất MFN áp dụng vào ngày ngay sau ngày Hiệp định có hiệu lực cho

Bên đó.

Ngồi ra, Việt Nam có 2 thỏa thuận song phương với Hoa Kỳ và Mê-hi-cô về cơ chế

đăng ký doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu dệt may.

Dệt may là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất vào thị trường TPP, đạt 11,2 tỷ

USD năm 2014 (chiếm 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của ta sang các nước TPP), trong

đó xuất khẩu sang Hoa Kỳ đạt 9,8 tỷ USD. Đây là một trong những mặt hàng được kỳ

vọng sẽ hưởng lợi nhiều từ TPP vì ta có lợi thế cạnh tranh và thuế suất tối huệ quốc của

các nước thành viên TPP mà ta chưa ký FTA đang ở mức khá cao như Hoa Kỳ 17,5%,

Canada 17%, Mê-hi-cô 30% và Pê-ru 17%. Nhật Bản là thị trường xuất khẩu lớn thứ 3

hiện thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi 0% nhưng cũng được kỳ vọng có khả năng tăng

trưởng tốt khi hàng dệt may xuất khẩu được áp dụng linh hoạt về quy tắc xuất xứ và

được phép cộng gộp xuất xứ nguyên liệu trong các nước TPP.

Về thị trường Hoa Kỳ, 73,1% số dòng thuế sẽ được đưa về 0% ngay khi Hiệp định

có hiệu lực; 19,7% số dòng thuế sẽ được giảm thuế từ 35% đến 50% so với thuế MFN

tại thời điểm Hiệp định có hiệu lực và xóa bỏ hồn tồn vào năm thứ 11 và 13; 7,2% số

dòng thuế sẽ có thuế suất bằng 0% vào năm thứ 6. Nếu tính theo kim ngạch xuất khẩu

năm 2014, ngay khi hiệp định có hiệu lực, hàng dệt may xuất khẩu sang Hoa Kỳ có khả

năng tiết kiệm được 63,5% tiền thuế nhập khẩu, tương đương 1,1 tỷ USD nếu đáp ứng

12



được quy tắc xuất xứ của Hiệp định.

Về thị trường Canada, toàn bộ mặt hàng dệt may xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sẽ

được xóa bỏ thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực hoặc sau 3 năm. Trong đó 42,9% kim

ngạch xuất khẩu vào Canada có thuế 0% năm đầu tiên và 57,1% kim ngạch có thuế 0%

vào năm thứ 4.

Mê-hi-cơ và Pê-ru là 02 nước sản xuất và xuất khẩu dệt may lớn nên duy trì chính

sách bảo hộ cao đối với ngành công nghiệp này. Thuế nhập khẩu vào Mê-hi-cô và Pê-ru

chỉ được xóa bỏ hồn tồn vào năm thứ 16. Ngồi ra, Mê-hi- cơ áp dụng hạn chế định

lượng đối với một số mặt hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu được hưởng thuế 0% nhưng

sử dụng nguyên liệu thuộc danh mục nguồn cung thiếu hụt hoặc danh mục “cắt và may”

được nhập khẩu từ ngoài khu vực TPP.

Hàng hóa xuất khẩu muốn được hưởng thuế suất thuế ưu đãi theo TPP phải đáp ứng

quy tắc xuất xứ của Hiệp định này. Đối với dệt may, quy tắc xuất xứ chủ đạo là “từ sợi

trở đi” hay được gọi quy tắc “3 cơng đoạn”, nghĩa là tồn bộ q trình kéo sợi, dệt vải,

nhuộm, hồn tất và may quần áo phải được thực hiện trong nội khối TPP. Quy tắc này

khuyến khích phát triển ngành cơng nghiệp dệt may theo ngành dọc, đầu tư phát triển

ngành sợi, vải, tạo cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung

ứng trong nội khối TPP và khối cung ứng toàn cầu. Tuy nhiên, Hiệp định quy định một

số trường hợp có quy tắc xuất xứ linh hoạt hơn như:

-



3 nhóm hàng may mặc được áp dụng quy tắc xuất xứ 1 công đoạn, cắt và may,

gồm: vali, túi xách, áo ngực phụ nữ, quần áo trẻ em bé bằng sợi tổng hợp;



-



Danh mục nguồn cung thiếu hụt gồm 194 loại sợi, vải được phép sử dụng từ

ngoài khu vực TPP, trong đó 186 mặt hàng sẽ được áp dụng vĩnh viễn và 8 mặt

hàng chỉ được áp dụng cơ chế này trong 5 năm;



-



Cơ chế 1 đổi 1 áp dụng với quần nam nữ bằng vải bông xuất khẩu sang Hoa

Kỳ. Doanh nghiệp mua 1 đơn vị vải bơng thích hợp làm quần có xuất xứ từ Hoa

Kỳ sẽ được phép sử dụng 1 đơn vị vải bơng nhập khẩu từ ngồi khu vực TPP để

may quần xuất khẩu sang Hoa Kỳ và hưởng thuế 0%. Tỷ lệ quy đổi giữa vải

bông xuất xứ Hoa Kỳ và vải bơng được phép nhập khẩu ngồi khối TPP khác

nhau giữa quần nam và quần nữ.

13



Hiệp định TPP cho phép nước nhập khẩu áp dụng biện pháp tự vệ, tăng thuế ưu đãi

trở lại mức thuế MFN nếu lượng nhập khẩu từ các nước TPP có khả năng gây ra hoặc

gây ra thiệt hại nghiêm trọng đến ngành sản xuất trong nước. Khi áp dụng biện pháp tự

vệ, nước nhập khẩu phải có giải pháp đền bù thiệt hại về kinh tế mà nước xuất khẩu phải

gánh chịu do không được hưởng thuế ưu đãi như trong Hiệp định.

Các nước TPP thống nhất hợp tác chặt chẽ trong lĩnh vực hải quan, chống gian lận

xuất xứ để hưởng lợi bất hợp pháp thuế ưu đãi TPP. Cũng với mục tiêu này, doanh

nghiệp sản xuất, xuất khẩu dệt may sang Hoa Kỳ và Mê-hi-cô sẽ đăng ký các thông tin

cơ bản về doanh nghiệp, mặt hàng sản xuất, xuất khẩu để chia sẻ thông tin với các cơ

quan chức năng Hoa Kỳ và Mê-hi-cô phục vụ công tác đánh giá rủi ro trong lĩnh vực hải

quan, phòng chống gian lận thương mại.

1.3 Một số kinh nghiệm phát triển ngành may mặc trên thế giới và bài học cho Việt

Nam.

 Bài học từ Hàn Quốc

Có thể nói, Hàn Quốc đã chọn một con đường khác biệt để gia nhập thị trường quốc

tế. Bên cạnh những yếu tố khách quan thuận lợi thời đó như nguồn viện trợ dồi dào của

Mỹ, sự non yếu của các nước láng giềng..., không thể phủ nhận vai trò của những yếu tố

nội tại trong việc nâng cấp vị thế của Hàn Quốc trong chuỗi giá trị tồn cầu ngành may

mặc, như:

Chính sách ưu tiên phát triển ngành may mặc của Chính phủ:

Sau khi chiến tranh Triều Tiên chấm dứt, Chính phủ Hàn Quốc đã chú trọng mở rộng

ngành may mặc, từ các các sản phẩm thượng nguồn như sản xuất sợi tổng hợp và sợi tự

nhiên, đến các khâu trung nguồn như dệt vải, cắt, nhuộm và cả phần hạ nguồn như như

may mặc. Các công ty ngành dệt liên kết với nhau trong Hội Liên hiệp Sợi và Dệt, phối

hợp chặt chẽ ở cả thị trường trong và ngoài nước. Nhà nước để các doanh nghiệp tự do

hoạt động trên thị trường, chỉ trợ giúp bằng cách bảo đảm nguồn cung cấp nguyên vật

liệu, trợ giúp hoạt động xuất khẩu như đưa ra hệ thống hạn ngạch để quản lý xuất khẩu

hàng may mặc của Hàn Quốc, khuyến khích các cơng ty nội địa bố trí hoạt động trên hầu

hết các khâu, từ thượng nguồn đến hạ nguồn.

Chú trọng đến chất lượng và mẫu mã sản phẩm:

14



Xuất thân là một nước nông nghiệp nghèo với nguồn tài nguyên hạn chế, cho đến

những năm 70 của thế kỷ XX, hàng hóa của Hàn Quốc vẫn chưa có uy tín cả ở trong và

ngồi nước. Nhưng khi xây dựng ngành may mặc, cả Chính phủ và các doanh nghiệp đều

rất chú trọng nâng cao chất lượng sản phẩm. Ngày nay, không chỉ các khâu thượng nguồn

như xe sợi, dệt vải được chú trọng, mà cả ngành tạo mẫu và phân phối ở Hàn Quốc cũng

rất phát triển. Hàng may mặc Hàn Quốc được đánh giá cao không chỉ vì ngun liệu có

chất lượng tốt, mà còn ở mẫu mã sản phẩm, đi kèm là hệ thống phân phối chuyên nghiệp

và hiệu quả. Ngành dệt may Hàn Quốc đã chiếm vị trí độc tơn trên thị trường nội địa.

Trên thị trường nước ngoài, hàng dệt may xuất khẩu của Hàn Quốc cũng có uy tín cao,

nhất là tại các nước châu Á.

Tinh thần lao động cần cù của người dân và vai trò nổi bật của các Chaebol:

Người Hàn Quốc nổi tiếng về tinh thần lao động cần cù và tính kỷ luật cao. Cho đến

nay, số giờ lao động của người Hàn vẫn thuộc loại cao nhất trên thế giới. Sau chiến tranh,

Chính phủ đã kêu gọi người dân thắt lưng buộc bụng, làm việc chăm chỉ với mức lương

khiêm tốn. Nhờ vậy, Hàn Quốc đã nhanh chóng tích lũy được một số vốn để xây dựng cơ

sở hạ tầng và nâng cấp trang thiết bị cho các ngành cơng nghiệp, trong đó có ngành may

mặc.

Bên cạnh đó, một mơ hình tổ chức kinh doanh đặc thù của Hàn Quốc là các Chaebol

cũng đóng góp vai trò quan trọng vào sự thành công của kinh tế Hàn Quốc nói chung,

ngành may mặc nói riêng. Dù còn nhiều tranh cãi về cách thức hoạt động, nhưng không

thể phủ nhận sự năng động, tinh thần vươn lên của các Chaebol đã đóng vai trò quyết

định trong thành cơng của nền kinh tế Hàn Quốc. Được sự ủng hộ của Chính phủ, quy mơ

và vị thế độc quyền của các Chaebol đã giúp ngành công nghiệp may mặc của Hàn Quốc

dễ dàng mở rộng quy mô sản xuất, hạ giá thành sản phẩm các nguyên liệu cho ngành may

mặc. Một số lượng lớn nguyên liệu cho ngành may xuất khẩu Việt Nam được nhập từ

Hàn Quốc. Các công ty Hàn Quốc cũng tham gia tích cực trong chuỗi giá trị toàn cầu ở

nước ngoài với việc đầu tư vào khâu phân phối tại các nước nhập khẩu.

Phát huy vai trò của văn hóa trong marketing xuất khẩu hàng may mặc:

Thời gian gần đây, việc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu may mặc của Hàn Quốc được

tạo thuận lợi nhờ Hallyu (Korean wave – làn sóng Hàn Quốc), do phim ảnh, âm nhạc

15



đem lại, dẫn đến trào lưu ưa chuộng sản phẩm thời trang Hàn Quốc ở hầu hết các nước

châu Á. Yếu tố văn hóa quan trọng này đã góp phần thúc đẩy việc xuất khẩu sản phẩm

may mặc của Hàn Quốc sang các quốc gia châu Á láng giềng như: Trung Quốc, Việt

Nam, Nhật Bản.... Nhờ vậy, khi kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc sang các thị trường

Mỹ, Tiểu vương quốc A-rập thống nhất... có xu hướng giảm sút thì xuất khẩu sang Trung

Quốc và Việt Nam lại tăng lên (13% và 35,8% năm 2003)(4). Những năm gần đây, không

chỉ kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc sang Trung Quốc và Việt Nam đều tăng, mà cả

sang các quốc gia châu Á khác như In-đô-nê-xi-a và A-rập Xê-út cũng tăng lên (7,6% và

16% năm 2005)(5).

 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam :

Việt Nam cần chuyển từ cạnh tranh đơn thuần dựa trên lợi thế về giá nhân công thấp

sang cạnh tranh bằng giá trị gia tăng và đổi mới tăng chất lượng dịch vụ. Việt Nam vẫn

có thể phát triển được bằng cách cung cấp sản phẩm cho các thị trường nhỏ hơn, thị

trường dành cho sản phẩm đắt tiền, tinh xảo, đòi hỏi kỹ thuật và tay nghề cao và phẩm

chất tốt. Có thể nói rằng chính những sản phẩm loại này là những hàng có nhu cầu cao tại

các nước phát triển và có khả năng mang lại nhiều lợi nhuận. Do đặc điểm sản phẩm may

mặc có vòng đời ngắn, mang tính thời trang và chịu chi phối bởi các yếu tố văn hố,

phong tục tập qn, tơn giáo, khí hậu, giới tính, tuổi tác nên với đặc điểm là nước có nền

văn hoá đa dạng và phong phú nên trong thời gian tới các sản phẩm may mặc Việt Nam

cần chuyển từ sản phẩm đòi hỏi hàm lượng trí tuệ thấp, khơng mang tính thời trang và

văn hố sang sản phẩm có hàm lượng trí tuệ và chứa đựng yếu tố văn hoá, khai thác bản

sắc văn hoá dân tộc để tạo nên phong cách riêng, nhãn hiệu riêng góp phần nâng cao sức

cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Tạo lập tên tuổi và khẳng định uy tín trên thị trường quốc tế cũng như chú trọng xây

dựng và phát triển thương hiệu cho sản phẩm cuả. Để thực hiện được việc này, các doanh

nghiệp dệt may Việt Nam cần phải đề ra những chiến lược dài hạn dựa trên sự kết hợp hài

hòa các giải pháp về nâng cao chất lượng, cơng tác marketing, khơng ngừng nâng cao

năng lực của mình trong khâu thiết kế, đảm bảo thời gian giao hàng. Đặc biệt, trong giai

đoạn dệt may Việt Nam chưa có tên tuổi trên thị trường thì cách tốt nhất là thâm nhập thị

trường bằng cách mua bằng sáng chế, bản quyền nhãn hiệu của các cơng ty nước ngòai

16



và liên kết sản xuất với 2-4 thương hiệu nước ngoài để sản xuất ra những sản phẩm của

họ với giá rẻ hơn, qua đó thâm nhập vào thị trường thế giới bằng sản phẩm “made in

VietNam” đồng thời học tập kinh nghiệm, tiếp thu công nghệ để tiến tới tự thiết kế mẫu

mã, sản xuất ra

Với thực tế các doanh nghiệp dệt may Việt Nam đang thiếu nhân lực trong cạnh tranh

quốc tế nên Việt Nam cần sớm có chính sách hỗ trợ, khuyến khích, thu hút và đào tạo cán

bộ quản lý, kinh doanh, thiết kế; công nhân kỹ thuật cho ngành. Việt nam cần phải tăng

cường hợp tác với các cơng ty nước ngồi để học hỏi các kinh nghiệm quản lý, chuyển

giao các công nghệ hiện đại…Vẫn duy trì một mức độ nhất định xuất khẩu bằng hình

thức gia công để giải quyết việc làm; từng bước khắc phục điều kiện sản xuất lạc hậu;

học hỏi kinh nghiệm marketing quốc tế, tổ chức quản lý sản xuất; tiếp thu và từng bước

đổi mới cơng nghệ, tích luỹ nguồn lực tài chính, chuẩn bị những điều kiện cần thiết để

thực hiện xuất khẩu trực tiếp một cách có hiệu quả. Như vậy, về lâu dài, xuất khẩu trực

tiếp phải trở thành phương thức xuất khẩu chủ yếu của các doanh nghiệp may mặc Việt

Nam.

Cần phải tích cực tham gia các hoạt động quảng cáo, thu thập thông tin về phong tục,

tập quán, thói quen tiêu dùng, tập quán thương mại, thủ tục hải quan, thủ tục xuất nhập

khẩu, hệ thống phân phối của các nước, tính chất nhu cầu về hàng dệt may, đối thủ cạnh

tranh, phương thức cạnh tranh… để giúp doanh nghiệp xác định được chiến lược sản xuất

mặt hàng gì, số lượng sản xuất, khả năng xuất khẩu, năng động trong việc đổi mới mẫu

mã, đáp ứng nhu cầu phong phú của thị trường. Chẳng hạn, kinh nghiệm của Trung Quốc

trong giải pháp về thị trường là cử nhân viên tiếp thị mang sản phẩm đi chào hàng trực

tiếp với các công ty nhập khẩu hàng dệt may.



17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN DỀ CƠ BẢN VỀ TPP ĐỐI VỚI NGÀNH MAY MẶC

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×