Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ - 0trang

19

+Tiền lương tối thiểu: được hiểu là mức lương thấp nhất để từ đó xây

dựng các mức lương khác, tạo thành hệ thống tiền lương thống nhất chung cho

cả nước.

+Tiền lương kinh tế: Là một khái niệm của kinh tế học, các doanh nghiệp

muốn có dư cung ứng sức lao động như theo yêu cầu cần phải trả mức lương lao

động cao hơn so với tiền lương tối thiểu.

-Mặt khác, tiền lương là một bộ phận của sản phẩm sản xuất xã hội, biểu

hiện bằng tiền được trả cho người lao động dựa trên số lượng và chất lượng lao

động của họ để bù đắp lại những hao phí của họ và nó là một vấn đề thiết thực

đối với mỗi người cơng nhân. Khơng những thế tiền lương còn là yếu tố kích

thích sản xuất mạnh mẽ, nó kích thích người lao động ra sức sản xuất và làm

việc, nâng cao trình độ tay nghề, cải tiến kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất lao

động.

Như vậy, tiền lương là biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động sống cần

thiết mà doanh nghiệp phải trả cho người lao động theo thời gian, khối lượng

công việc mà người lao động đã cống hiến cho doanh nghiệp.

2.1.1.2. Các hình thức trả lương

Việc tính lương có thể thực hiện theo nhiều hình thức khác nhau, tùy theo

đặc điểm hoạt động kinh doanh, tính chất cơng việc và trình độ quản lý nên mỗi

doanh nghiệp phải lựa chọn hình thức trả lương người lao động sao cho hợp lý,

phù hợp.

Các doanh nghiệp thực hiện tuyển dụng lao động theo hợp đồng lao động.

Người lao động tuân thủ những cam kết đã ký trong hợp đồng lao động, doanh

nghiệp phải đảm bảo quyền lợi của người lao động. Theo quy định của Nghị

định số 03/2003/NĐ-CP ngày 15/01/2003 của Chính phủ quy định chi tiết hướng

dẫn thi hành tại điều 58 Bộ Luật lao động của Nhà nước, các doanh nghiệp có

thể áp dụng 2 hình thức trả lương sau:

-Hình thức tiền lương theo thời gian

-Hình thức tiền lương theo sản phẩm



20

a) Hình thức trả lương theo thời gian

Trả lương thời gian là hình thức trả lương cho người lao động căn cứ vào

thời gian làm việc thực tế, theo nghề và trình độ thành thạo nghề nghiệp, nghiệp

vụ kĩ thuật chuyên môn của người lao động.

Trong doanh nghiệp hình thức trả lương theo thời gian được áp dụng cho

nhân viên làm văn phòng như hành chính quản trị, tổ chức lao động, thống kê,

tài vụ - kế tốn. Tuỳ theo u cầu và trình độ quản lý thời gian lao động của

doanh nghiệp, tính trả lương thời gian có thể thực hiện theo 2 cách: lương thời

gian giản đơn và lương thời gian có thưởng.

*Lương thời gian giản đơn:

-Lương thời gian giản đơn: là tiền thưởng được tính theo thời gian làm việc và

lương giá thời gian. Lương thời gian giản đơn được chia thành:

+ Lương tháng: Là tiền lương trả cho người lao động theo thang bậc lương qui

định gồm tiền lương cấp bậc và các khoản phụ cấp (nếu có).

Lương = Mức lương tối

tháng



x Hệ số lương theo + Phụ cấp lương



thiểu chung



cấp bậc,chức vụ



( nếu có)



Lương tháng được áp dụng cho các nhân viên thuộc ngành hoạt động khơng có

tính chất sản xuất.

+ Lương ngày: được tính bằng cách lấy lương tháng chia cho số ngày làm việc

Lương tháng

theo chế độ.

Lương ngày =



Số ngày làm việc theo chế độ



Lương ngày làm căn cứ để tính BHXH phải trả cơng nhân viên, tính trả lương

cho cơng nhân viên trong những ngày hội họp, học tập, trả lương theo hợp đồng.

+Lương giờ: Được tính bằng cách lấy lương ngày chia cho số giờ làm việc trong

Lương ngày

ngày theo chế độ:

Lương giờ =



Số giờ làm việc theo chế độ



Lương giờ để làm căn cứ tính phụ cấp thêm giờ



21

*Lương thời gian có thưởng: Lương thời gian có thưởng là hình thức tiền

lương thời gian giản đơn, kết hợp với chế độ tiền thưởng trong sản xuất.

b) Hình thức tiền lương theo sản phẩm

Theo hình thức này tiền lương trả cho người lao động được tính theo số

lượng, chất lượng của sản phẩm hồn thành hoặc khối lượng công việc đã làm

xong được nghiệm thu. Để tiến hành trả lương theo sản phẩm cần phải xây dựng

được định hướng lao động, đơn giá tiền lương hợp lý trả cho từng sản phẩm,

công việc được cơ quan có thẩm quyền phê chuẩn, kiểm tra nghiệm thu sản

phẩm chặt chẽ.

Tổng tiền lương

phải trả



=



Đơn giá tiền lương

( 1 sản phẩm)



x



Số lượng sản phẩm

hồn thành



*Hình thức trả lương theo sản phẩm:

-Trả lương theo sản phẩm trực tiếp: Là hình thức trả lương cho người lao động

được tính theo số lượng sản phẩm (không hạn chế số lượng sản phẩm hồn

thành). Đây là hình thức được các doanh nghiệp sử dụng phổ biến để tính lương

phải trả cơng nhân viên trực tiếp sản xuất hàng loạt sản phẩm.

Tiền lương được

lĩnh trong tháng



Số lượng(khối lượng) sản

= phẩm,cơng việc hồn thành



x



Đơn giá tiền lương



-Trả lương theo sản phẩm gián tiếp: Được áp dụng để trả lương cho các công

nhân làm việc phục vụ sản xuất ở các bộ phận (phân xưởng) sản xuất như: công

nhân vận chuyển nguyên vật liệu, thành phẩm, bảo dưỡng máy móc thiết bị.

Trong trường hợp này căn cứ vào kết quả sản xuất của lao động trực tiếp (cơng

nhân trực tiếp sản xuất) để tính lương cho công nhân phục vụ sản xuất.

Tiền lương được

lĩnh trong tháng



Tiền lương được lĩnh của các

bộ phận trực tiếp

=



x



Tỷ lệ lương

gián tiếp



Tỷ lệ lương gián tiếp do các đơn vị xác định vào căn cứ tính chất, đặc

điểm của lao động gián tiếp phục vụ sản xuất



22

-Trả lương theo sản phẩm có thưởng: Là kết hợp trả lương theo sản phẩm trực

tiếp hoặc gián tiếp và chế độ tiền thưởng trong sản xuất (thưởng tiết kiệm vật tư,

tăng năng suất lao động).

-Trả lương theo sản phẩm luỹ tuyến: Theo hình thức trả lương này lương trả cho

người lao động gồm tiền lương tính theo sản phẩm trực tiếp và tiền lương tính

theo tỷ lệ luỹ tuyến căn cứ vào mức độ vượt định mức của họ.

Tuy nhiên doanh nghiệp nên chú ý khi xây dựng tiền thưởng luỹ tiến cần

hạn chế hai trường hợp có thể xảy ra đó là:

+ Người lao động phải tăng cường độ lao động đưa đến việc không đảm bảo sức

khoẻ cho lao động lâu dài.

+ Tốc độ tăng tiền lương lớn hơn tốc độ tăng năng suất lao động.

-Tiền lương tính theo sản phẩm cuối cùng: Tiền lương phải trả cho người lao

động không phụ thuộc chi phí sản xuất mà nằm trong thu nhập còn lại sau khi

trừ đi các khoản chi phí hợp lý và các khoản phân phối theo lợi nhuận theo qui

định.

*Trả lương khốn khối lượng hoặc khốn cơng việc: là hình thức trả lương theo

sản phẩm áp dụng cho những cơng việc đơn giản, cơng việc có tính đột xuất

như: Khoán bốc vác, vận chuyển nguyên vật liệu, thành phẩm...

*Trả lương theo sản phẩm cụ thể: Theo hình thức này trước hết trả lương cho

chung một tập thể (tổ) sau đó cho từng người trong tập thể theo các phương

pháp sau:

-Phương pháp 1: Chia lương tập thể theo thời gian làm việc và cấp kỹ thuật.

Chia lương tập thể cho từng người, áp dụng trong trường hợp công nhân phù

hợp với cấp bậc công việc được giao.

-Phương pháp 2: Chia lương sản phẩm tập thể theo thời gian làm việc, cấp bậc

kỹ thuật kết hợp bình cơng chấm điểm. Theo phương pháp này lương tập thể

được chia thành hai phần:



23

+ Phần tiền lương phù hợp với cấp bậc được chia cho từng người theo hệ số

lương cấp bậc (hoặc mức lương cấp bậc) và thời gian làm việc thực tế của từng

người.

+ Phần tiền lương còn lại được chia theo kiểu bình cơng chấm điểm. Phương

pháp này áp dụng trong trường hợp cấp bậc công nhân không phù hợp với cấp

bậc cơng việc được giao và có sự chênh lệch về năng suất lao động giữa các

thành viên trong tập thể.

- Phương pháp 3: Chia lương tập thể theo bình công chấm điểm, áp dụng trong

trường hợp công nhân làm việc ổn định, kỹ thuật đơn giản, chênh lệch về năng

suất lao động giữa các thành viên trong tập thể chủ yếu do thái độ lao động và

sức khoẻ quyết định.

2.1.2. Quỹ lương: Nội dung và quy định hiện hành về các khoản trích theo

lương

2.1.2.1. Quỹ lương

Quỹ tiền lương của doanh nghiệp là toàn bộ tiền lương của doanh nghiệp

trả cho tất cả các loại lao động thuộc doanh nghiệp quản lý và sử dụng

Thành phần của quỹ tiền lương bao gồm các khoản chủ yếu sau:

-Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian thực tế làm việc (Tiền lương

theo thời gian, tiền lương khoán, tiền lương theo sản phẩm,...)

-Tiền lương trả cho người lao động sản xuất ra sản phẩm hỏng trong phạm vi,

chế độ quy định.

-Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngừng việc do nguyên

nhân khách quan, trong thời gian được điều động đi công tác làm nghĩa vụ theo

chế độ quy định, thời gian nghỉ phép hoặc đi học

-Các loại tiền thưởng trong sản xuất, các khoản phụ cấp thường xuyên:

phụ cấp khu vực, phục cấp trách nhiệm, phụ cấp học nghề, phụ cấp thâm niên...

Để phục vụ cho công tác hạch tốn tiền lương trong doanh nghiệp có thể

chia thành 2 loại: Tiền lương chính và tiền lương phụ.



24

Việc phân chia tiền lương thành tiền lương chính, lương phụ có ý nghĩa

quan trọng đối với cơng tác kế tốn và phân tích kinh tế. Tiền lương chính của

cơng nhân trực tiếp sản xuất gán liền với quá trinh sản xuất ra sản phẩm và được

hạch toản trực tiếp vào chi phí sản xuất. Tiền lương phụ của cơng nhân trực tiếp

sản xuất không gắn với từng loại sản phẩm nên được hạch tốn gián tiếp và chi

phí sản xuất.

2.1.2.2. Bảo hiểm xã hội (BHXH)

BHXH là là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của

người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn

lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở

đó đóng vào quỹ BHXH.

BHXH được trích lập bằng cách trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số quỹ

lương cơ bản và các khoản phụ cấp của người lao động phát sinh trong tháng,

hay đó chính là số tiền lương phải thanh tốn cho cán bộ cơng nhân viên trong

kỳ của doanh nghiệp. Hiện nay, theo chế độ hiện hành tỷ lệ trích nộp BHXH là

26% trên tổng số lương thực tế phải trả cho công nhân viên trong tháng, trong

đó 18% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của công ty, 8% trừ vào lương

trong tháng của người lao động.

-Quỹ BHXH được trích lập nhằm trợ cấp cơng nhân viên có tham gia

đóng góp quỹ trong trường hợp họ bị mất khả năng lao động, cụ thể:

+Trợ cấp công nhân viên ốm đau, thai sản.

+Trợ cấp công nhân viên khi bị tai nạn lao động hay bệnh nghề nghiệp.

+Trợ cấp công nhân viên khi về hưu, mất sức lao động.

+Chi công tác quản lý quỹ BHXH

Theo chế độ hiện hành, doanh nghiệp khơng nộp tồn bộ số trích BHXH

lên cơ quan quản lý quỹ bảo hiểm mà giữ lại 2% để chi trả kịp thời cho các

trường hợp người lao động đủ điều kiện hưởng.



25

Trong doanh nghiệp, hàng tháng sẽ trực tiếp chi trả BHXH cho cán bộ

công nhân viên bị ốm đau, thai sản,... trên cơ sở các chứng từ hợp lệ. Cuối

tháng, doanh nghiệp phải quyết toán với cơ quan quản lý quỹ BHXH.

2.1.2.3. Bảo hiểm y tế (BHYT)

BHYT là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức

khỏe khơng vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đổi

tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật BHYT

Quỹ này được hình thành bằng cách trích theo tỉ lệ quy định trên tổng số

tiền lương cơ bản và các khoản phụ cấp của người lao động thực tế phát sinh

trong tháng. Theo chế độ quy định, mức trích lập BHYT với tỷ lệ là 4,5% trên

tổng số tiền lương thực tế phải trả cho cán bộ công nhân viên trong tháng của

Công ty, trong đó 3% được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của Công ty và

trừ vào lương của người lao động 1,5%. Quỹ BHYT được trích lập để tài trợ cho

người lao động có tham gia đóng góp quỹ trong các hoạt động khám chữa bệnh.

Theo chế độ hiện hành, tồn bộ quỹ BHYT được nộp lên cơ quan chun

mơn chuyên trách để quản lý và trợ cấp cho người lao động thông qua mạng lưới

y tế. Cơ quan bảo hiểm sẽ thanh tốn về chi phí khám chữa bệnh theo tỷ lệ nhất

định mà nhà nước quy định cho những người đã tham gia đóng bảo hiểm.

2.1.2.4. Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN)

BHTN là khoản hỗ trợ tài chính tạm thời dành cho những người bị mất

việc làm mà đáp ứng đủ yêu cầu theo quy định. Đối tượng được nhận bảo hiểm

thất nghiệp là những người bị mất việc không do lỗi cá nhân của họ.

Đối tượng được nhận bảo hiểm thất nghiệp là những người bị mất việc

không do lỗi của cá nhân họ. Người lao động đang cố gắng tìm việc làm và sẵn

sàng nhận. Theo quy định của Điều 102 Luật BHXH thì mức đóng BHTN được

quy định như sau:

+ Người lao động đóng BHTN bằng 1% tiền lương, tiền công tháng.

+ Người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền cơng tháng



26

+ Nhà nước sẽ hỗ trợ từ ngân sách bằng 1% quỹ tiền lương, tiền cơng

tháng đóng BHTN của những người lao động tham gia BHTN (mỗi năm chuyển

một lần).

Vậy tỷ lệ trích lập BHTN của doanh nghiệp là 2%, trong đó người lao

động chịu 1% và doanh nghiệp chịu 1% tính vào chi phí.

Đối tượng nhận BHTN là cơng dân Việt Nam làm việc theo hợp đồng lao

động hoặc hợp đồng làm việc mà các hợp đồng này không xác định thời hạn

hoặc xác định thời hạn từ 12 tháng - 36 tháng với người sử dụng lao động có từ

10 lao động trở lên. Công việc mới và luôn ln nỗ lực nhằm chấm dứt tình

trạng thất nghiệp.

2.1.2.5. Kinh phí cơng đồn (KPCĐ)

KPCĐ hình thành do việc trích lập theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền

lương thực tế phải trả cho người lao động thực tế phát sinh trong tháng, tính vào

chi phí sản xuất kinh doanh.

Theo chế độ hiện hành hàng tháng doanh nghiệp trích 2% kinh phí cơng

đồn trên tổng số tiền lương thực tế phải trả cơng nhân viên trong tháng và tính

hết vào chi phí sản xuất kinh doanh của các đối tượng sử dụng lao động. Theo

quy định hiện hành, số kinh phí cơng đồn trích được thì 1% nộp lên cơ quan

cơng đồn cấp trên, 1% để lại doanh nghiệp để chi tiêu cho hoạt động của tổ

chức cơng đồn nhằm chăm lo, bảo vệ quyền lợi cho người lao động.

Tiền lương phải trả cho người lao động, cùng các khoản trích bảo hiểm xã

hội, bảo hiểm y tế, kinh phí cơng đồn, bảo hiểm thất nghiệp hợp thành chi phí

nhân cơng trong tổng chi phí sản xuất kinh doanh.

Ngồi chế độ tiền lương và các khoản trích theo lương. Doanh nghiệp còn

xây dựng chế độ tiền thưởng tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong hoạt

động sản xuất kinh doanh. Tiền thưởng nhằm kích thích người lao động trong

hoạt động sản xuất kinh doanh gồm có: thưởng thi đua, thưởng nâng cao năng

xuất, chất lượng sản phẩm, tiết kiệm vật tư, phát minh sáng kiến cải tiến kĩ

thuật...



27

2.1.3. Nhiệm vụ kế tốn tiền lương và các khoản trích theo lương theo chế

độ kế toán doanh nghiệp hiện hành

Nhằm mục đích phục vụ yêu cầu quản lý chặt chẽ, có hiệu quả, kế tốn

tiền lương và các khoản trích theo lương của doanh nghiệp cần thực hiện các

nhiệm vụ sau:

-Tổ chức ghi chép kiểm tra, phản ánh kịp thời, đầy đủ tình hình hiện có và

biến động về số lượng và chất lượng lao động, tình hình sử dụng thời gian lao

động và kết quả lao động.

-Tính tốn chính xác, kịp thời, đúng chính sách chế độ về các khoản tiền

lương, tiền thưởng, các khoản trợ cấp phải trả cho người lao động.

-Thực hiện việc kiểm tra tình hình chấp hành các chính sách, chế độ về

lao động tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và

kinh phí cơng đồn. Kiểm tra tình hình sử dụng quỹ tiền lương, quỹ BHXH,

BHYT,BHTN, KPCĐ.

-Tính tốn và phân bổ chính xác đối tượng đóng các khoản tiền lương,

khoản trích theo lương: BHXH, BHYT, BHTN và KPCĐ vào chi phí sản xuất

kinh doanh.

-Lập báo cáo về lao động, tiền lương, BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ

thuộc phạm vi trách nhiệm của kế tốn. Tổ chức phân tích tình hình sử dụng lao

động, quỹ tiền lương, quỹ BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ.

2.2. KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG THEO CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN DOANH

NGHIỆP HIỆN HÀNH

2.2.1. Chứng từ sử dụng

Mẫu số 01a- LĐTL - Bảng chấm công: Bảng này do các tổ sản xuất hoặc

các phòng ban lập ra nhằm cung cấp chi tiết số ngày công cho từng người lao

động theo tháng hoặc theo tuần.

Mẫu số 02 - LĐTL - Bảng thanh toán tiền lương: Được lập cho từng bộ

phận làm căn cứ thanh toán tền lương, phụ cấp cho người lao động làm việc

trong các đơn vị sản xuất - kinh doanh.



28

Mẫu số 03 - LĐTL - Bảng thanh toán tiền thưởng: Khi tính tiền thưởng

thường xuyên cho người lao động, kế toán lập bảng này dựa trên các chứng từ

ban đầu như “Bảng chấm công”, “Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc cơng việc hồn

thành”... và phương án tính thưởng do người có thẩm quyền phê duyệt.

2.2.2. Tài khoản sử dụng

Để phục vụ cho cơng tác hạch tốn tiền lương, kế toán sử dụng các TK:

*TK 334 - Phải trả người lao động: TK này dùng để phản ánh tình hình

thanh tốn với người lao động của cơng ty về tiền lương, tiền công, phụ cấp,

BHXH, tiền thưởng và các khoản khác thuộc về thu nhập của họ.

TK này có 2 TK cấp 2:

-TK 3341 - Phải trả công nhân viên: TK này phản ánh các khoản phải trả

và thanh toán các khoản phải trả cho công nhân viên về tiền lương, tiền thưởng

có tính chất lương, BHXH và các khoản phải trả khác thuộc về thu nhập của

công nhân viên.

-TK3348 - Phải trả người lao động khác: TK này phản ánh các khoản phải

trả và tình hình thanh tốn các khoản phải trả cho người lao động khác ngồi

cơng nhân viên của doanh nghiệp về tiền lương tiền công, tiền thưởng có tính

chất tiền cơng và các khoản khác thuộc về thu nhập của người lao động.

Kết cấu của TK 334:

NỢ



TK334







SDĐK: Phản ánh số tiển đã trả lớn hơn SDĐK: Các khoản tiẻn lương, tièn

số phải trả về tiền lương, tiền cơng, cơng, tiền thưởng có tính chất lương và

tiền thưởng và các khoản khác cho các khoản khác còn phải trả cho người

người lao động tồn đầu kỳ.



lao dộng tồn đầu kỳ.



-Các khoản tiền lương, tiền công, tiền -Các khoản tiền lương, tiền cơng, tiền

thường có tính chất lương, BHXH và thưởng có tính chất lương, BHXH và

các khoản khác đã trả, đã chi, đã ứng các khoản phải trả, phải chi cho người

trước cho người lao động.



lao động.



29

-Các khoản khấu trừ vào tiền lương,

tiền công của người lao động.



SDCK: Phản ánh số tiền đã trả lớn hơn SDCK: Các khoản tiền lương, tiền

số phải trả về tiền lương, tiền cơng, cơng, tiền thưởng có tính chất lương và

tiền thưởng và các khoản khác cho các khoản khác còn phải trả cho người

người lao động.



lao động.



Ngồi ra, kế tốn còn sử dụng một số TK khác như:

+TK 622: Chi phí nhân cơng trực tiếp

+TK 627: Chi phí sản xuất chung

+TK 641: Chi phí bán hàng

+TK 642: Chi phí quản lý doanh nghiệp

+ ...

2.2.3. Phương pháp kế toán tiền lương

Căn cứ vào bảng thanh toán lương, bảng thanh toán tiền thưởng (có tính

chất lượng) kế tốn phân loại tiền lương và lập chứng từ phân bổ tiền lương, tiền

thưởng vào chi phí sản xuất - kinh doanh.

Tiền lương và các khoản phải trả cho người lao động trong kỳ nào được

tính vào chi phí của kỳ đó.

Đối với các doanh nghiệp sản xuất mang tính thời vụ, khơng có điều kiện

bố trí lao động nghỉ phép đều đặn giữa các kỳ hạch tốn, để tránh sự biến động

về chi phí kinh doanh về mặt giá thành sản phẩm, hàng tháng trên cơ sở tiền

lương thực tế, tiền lương chính phải trả cho cơng nhân viên trực tiếp, kế tốn

phải dự toán tiền lương nghỉ phép của lao động trực tiếp, tiến hành trích trước

tính vào chi phí của từng kỳ hạch tốn theo số dự tốn. Cách trích trước tiền

lương nghỉ phép năm của cơng nhân sản xuất, trích trước vào chi phí sản xuất

như sau:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x