Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG TRONG DOANH NGHIỆP

LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG TRONG DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ - 0trang

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP



KHOA: KẾ TỐN – KIỂM TỐN



Chiết khấu thanh toán: là khoản tiền người bán giảm trừ cho người mua do

người mua thanh toán tiền hàng trước thời hạn trong hợp đồng kinh tế.

Hàng bán bị trả lại: là giá trị của khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ

bị khách hàng trả lại và từ chới thanh toán.

Thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp: Là khoản thuế tính trên giá trị

tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông đến

tiêu dùng.

Thuế tiêu thụ đặc biệt: là khoản thuế đánh trên những hàng hóa dịch vụ đặc

biệt không được Nhà nước khuyến khích kinh doanh.

Thuế xuất khẩu: Là khoản thuế định trên các mặt hàng xuất khẩu nước ngoài

thuộc diện chịu thuế.

 Giá vốn hàng bán:



Giá vốn hàng bán là trị giá thực tế xuất kho của thành phẩm, hàng hoá được

xác định là đã tiêu thụ trong kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Giá vốn hàng bán bao gồm:

- Trị giá của sản phẩm, hàng hóa đã bán trong kỳ

- Số trích lập quỹ dự phòng giảm giá hàng tồn kho.

- Các khoản hao hụt, mất mát hàng tồn kho sau khi trừ đi phần bồi thường

do trách nhiệm cá nhân gây ra.

Nguyên tắc quan trọng nhất trong hạch toán giá vốn hàng bán là nguyên tắc

nhất quán. Để tính giá thực tế của thành phẩm, hàng hoá xuất kho doanh nghiệp có

nhiều phương pháp để lựa chọn. Mỗi phương pháp sẽ cho ra một kết quả khác nhau,

do đó ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.





Doanh thu thuần:

Doanh thu thuần là doanh thu thực tế về bán hàng của doanh nghiệp trong kỳ kế

toán , là cơ sở để các định kế toán bán hàng.

Doanh thu thuần là kết quả của doanh thu bán hàng sau khi đã trừ đi các khoản

giảm trừ doanh thu (chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại,

thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp.

1.1.2 Đặc điểm của nghiệp vụ bán hàng:

Việc tiêu thụ hàng hóa luôn là một vấn đề quan trọng trong bất kể nền kinh tế

nào, nó quyết định quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó liên quan

trực tiếp tới lợi ích của doanh nghiệp, bởi có thông qua tiêu thụ thì tính chất hữu ích

của hàng hóa mới được xã hội thừa nhận, mới có khả năng bù đắp những chi phí bỏ

ra và có lợi nhuận. Mặt khác, đẩy mạnh bán hàng cũng có nghĩa là làm tăng vòng

quay vốn lưu động, tiết kiệm vốn, sử dụng nguồn vốn hiệu quả, thực hiện tái sản



SV: PHẠM HỒNG NHUNG K3TK7



10



GVHD: PGS.TS. PHẠM THU THỦY



KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP



KHOA: KẾ TỐN – KIỂM TỐN



x́t mở rợng. Đây là tiền đề vật chất để tăng thu nhập cho doanh nghiệp, nâng cao

đời sống cho cán bộ công nhân viên.

Vì vậy, khi xem xét nghiệp vụ bán hàng cần lưu ý các đặc điểm sau:





Phạm vi hàng bán

Hàng hóa được coi là đã hoàn thành việc bán trong doanh nghiệp thương mại,

được ghi nhận doanh thu bán hàng phải đảm bảo các điều kiện nhất định. Theo quy



-



định hiện hành, được coi là hàng bán phải thỏa mãn các điều kiện sau:

Hàng hóa phải thông qua quá trình mua, bán và thanh toán theo một phương thức



-



thanh toán nhất định.

Hàng hóa phải được chuyển quyền sở hữu từ doanh nghiệp thương mại (bên bán)

sang bên mua và doanh nghiệp thương mại đã thu được tiền hay một loại hàng hóa



-



khác hoặc được người mua chấp nhận nợ.

Hàng hóa bán ra phải thuộc diện kinh doanh của doanh nghiệp, do doanh nghiệp







mua vào hoặc gia cơng chế biến hay nhận vớn góp, nhận cấp phạt, tặng thưởng…

Các phương thức bán hàng trong doanh nghiệp thương mại



Bán buôn: Là phương thức bán mà kết thúc quá trình bán hàng, hàng hóa

vẫn còn trong lưu thông. Căn cứ vào địa điểm nhận và giao hàng, bán buôn được

chia thành các hình thức sau:



Bán buôn qua kho: Là bán buôn hàng hóa mà hàng bán được từ kho

-



-



bảo quản của doanh nghiệp. Có hai hình thức bán buôn qua kho:

Bán buôn qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp: Theo hình thức này bên mua

đề cử đại diện đến kho của doanh nghiệp thương mại đề nhận hàng. Doanh nghiệp

thương mại xuất kho hàng hóa, giao trực tiếp cho đại diện bên mua. Sau khi đại

diện bên mua nhận đủ hàng, đã thanh toán tiền hoặc chấp nhận nợ, hàng hóa được

xác định là tiêu thụ.

Bán bn qua kho theo hình thức chuyển hàng: Theo hình thức này, căn cứ vào hợp

đồng đã ký kết hoặc theo đơn đặt hàng, doanh nghiệp thương mại xuất kho hàng

hóa, bằng phương tiện vận tải của mình hoặc đi thuê ngoài, chuyển hàng giao cho

bên mua ở một điểm thỏa thuận. Hàng hóa chuyển bán vẫn thuộc quyền sở hữu của

doanh nghiệp thương mại. Hàng hóa này được xác định là tiêu thụ khi nhận được

tiền do bên mua thanh toán hoặc giấy báo của bên mua đã nhận được hàng và chấp



nhận thanh toán.



Bán buôn vận chuyển thẳng: Theo hình thức này, doanh nghiệp thương mại sau

khi mua hàng, nhận mua hàng, không đưa về nhập kho mà chuyển bán thẳng cho

-



bên mua. Phương thức này có thể thực hiện theo hai hình thức:

Bán hàng vận chuyển thẳng theo hình thức giao trực tiếp (còn gọi là hình thức giao

tay ba): Theo hình thức này doanh nghiệp thương mại sau khi mua hàng, nhận hàng



SV: PHẠM HỒNG NHUNG K3TK7



11



GVHD: PGS.TS. PHẠM THU THỦY



KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP



KHOA: KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN



mua và giao trực tiếp cho đại diện của bên mua tại kho người bán. Sau khi giao,

nhận, đại diện bên mua ký nhận đủ hàng, bên mua đã thanh toán tiền hàng hoặc

-



chấp nhận nợ, hàng hóa được xác nhận là tiêu thụ.

Bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức gửi hàng: Theo hình thức này. Doanh

nghiệp thương mại sau khi mua hàng, nhận hàng mua,bằng phương tiện vận tải của

mình hoặc thuê ngoài chuyển hàng đến giao cho bên mua ở một địa điểm đã thỏa

thuận. Hàng hóa chuyển bán trong trường hợp này vẫn thuộc quyền sở hữu của

doanh nghiệp thương mại. Khi nhận được tiền của bên mua thanh toán hoặc giấy

báo của bên mua đã nhận được hàng và chấp nhận thanh toán thì hàng hóa được xác

định là tiêu thụ.

Bán lẻ: Là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng hoặc các tổ

chức kinh tế hoặc các đơn vị kinh tế tập thể mua về để tiêu dùng nội bộ. Đặc điểm

của phương thức này là hàng hóa đã ra khỏi lĩnh vực lưu thông và đi vào lĩnh vực

tiêu dùng. Giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa được thực hiện. Bán lẻ thường bán

đơn chiếc hoặc với số lượng nhỏ phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng, giá bán

thường ổn định. Phương thức bán lẻ thường có ba hình thức sau:

- Hình thức bán hàng thu tiền tập trung:

Theo hình thức này việc thu tiền của người mua và giao hàng cho người mua

tách rời nhau. Mỗi quầy hàng có một nhân viên thu tiền làm nhiệm vụ thu tiền của

khách, viết hóa đơn hoặc tích kê cho khách để khách đến nhận hàng ở quầy hàng

do nhân viên bán hàng giao.

- Hình thức bán hàng thu tiền trực tiếp:

Theo hình thức này, nhân viên bán hàng trực tiếp thu tiền và giao hàng cho

khách. Hết ca, nhân viên bán hàng làm giấy nộp tiền và nộp lại tiền cho thủ quỹ.

Đồng thời, kiểm kê hàng hóa tồn tại quầy để xác định số lượng hàng đã bán ra trong

ca và lập báo cáo bán hàng.

- Hình thức bán hàng tự phục vụ:

Theo hình thức này, khách hàng tự chọn lấy hàng hóa, sau đó mang đến bộ

phận thu tiền để thanh toán tiền hàng. Hình thức này khá phổ biến ở các siêu thị.

Phương thức bán hàng đại lý

Theo hình thức này, doanh nghiệp thương mại giao hàng cho cơ sở nhận bán

đại lý, ký gửi để các cơ sở này trực tiếp bán hàng. Bên đại lý sẽ trực tiếp bán hàng

và thanh toán tiền cho doanh nghiệp thương mại và được hưởng hoa hồng đại lý

bán. Số hàng gửi đại lý vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp thương mại. Số

hàng được xác định là tiêu thụ khi doanh nghiệp nhận được tiền do bên đại lý thanh

toán hoặc chấp nhận thanh toán.

Phương thức bán hàng trả góp, trả chậm



SV: PHẠM HỒNG NHUNG K3TK7



12



GVHD: PGS.TS. PHẠM THU THỦY



KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP



KHOA: KẾ TỐN – KIỂM TỐN



Là phương thức mà doanh nghiệp thương mại dành cho người mua ưu đãi

được trả tiền hàng trong kỳ. Doanh nghiệp thương mại được hưởng thêm khoản

chênh lệch giữa giá bán trả góp và giá bán thông thường theo phương thức trả tiền

ngay gọi là lãi trả góp. Khi doanh nghiệp thương mại giao hàng cho người mua,

hàng hóa được xác định là tiêu thụ.



Phương thức thanh tốn:

Phương thức thanh tốn trực tiếp: Là phương thức thanh toán mà quyền sở

hữu về tiền tệ sẽ được chuyển từ người mua sang người bán ngay sau khi quyền sở

hữu hàng hóa bị chuyển giao. Thanh toán trực tiếp có thể bằng tiền mặt, ngân phiếu,

séc hoặc có thể hàng hóa (nếu bán theo phương thức đổi hàng). Ở hình thức này sự

vận động của hàng hóa gắn với sự vận động của tiền tệ.

Phương thức thanh toán chậm trả: Là phương thức thanh toán mà quyền

sở hữu về tiền tệ sẽ được chuyển giao sau một khoảng thời gian so với thời điểm

chuyển quyền sở hữu về hàng hóa, do đó hình thành khoản công nợ phải thu của

khách hàng. Ở hình thức này sự vận động của hàng hóa và tiền tệ có khoảng cách về

khơng gian và thời gian.



Giá cả hàng hóa

- Giá bán hàng hóa của doanh nghiệp thương mại là giá thỏa thuận giữa người

mua và người bán được ghi trên hóa đơn hoặc hợp đồng. Tuy nhiên, nguyên tắc xác

định giá bán là phải đảm bảo cho doanh nghiệp có được khoản lợi nhuận định mức.

Trên nguyên tắc đó, giá bán hàng hóa được xác định như sau:

Giá bán hàng hóa = Giá gốc + Thặng số thương mại

Thặng số thương mại dùng để bù đắp chi phí và hình thành lợi nhuận, nó

được tính theo tỉ lệ % trên giá thực tế của hàng hóa tiêu thụ.

Như vậy: Giá bán hàng hóa = Giá gốc (1 + %TSTM)

Hiện nay, nhà nước chỉ quy định giá ở một số mặt hàng thiết yếu, quan trọng

còn các hàng hóa khác giá cả được xác định theo quy luật cung cầu trên thị trường.

Vì vậy, mỗi doanh nghiệp cần phải tự xác định cho mình mức giá phù hợp dựa vào

nhu cầu thị trường, chu kỳ sống của sản phẩm, uy tín và nhãn mác sản phẩm đó trên

thị trường...để có thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp khác.

1.1.3 Yêu cầu quản lý, nhiệm vụ kế toán bán hàng





Yêu cầu quản lý

Trong quá trình bán hàng, tài sản của doanh nghiệp chuyển từ hình thái hàng hóa

sang hình thái tiền tệ. Do đó, để quản lý nghiệp vụ bán hàng, các doanh nghiệp

thương mại cần phải quản lý cả hai mặt tiền và hàng, cụ thể quản lý nghiệp vụ bán

hàng cần phải đảm bảo các chỉ tiêu sau:



SV: PHẠM HỒNG NHUNG K3TK7



13



GVHD: PGS.TS. PHẠM THU THỦY



KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

-



KHOA: KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN



Quản lý về doanh thu bán hàng hóa, đây là cơ sở quan trọng để xác định nghĩa vụ

của doanh nghiệp đối với nhà nước, đồng thời là cơ sở để xác định chính xác kết

quả kinh doanh của doanh nghiệp thương mại. Trong nền kinh tế thị trường, quản lý

doanh thu bao gồm:

+ Quản lý doanh thu thực tế: Doanh thu thực tế là doanh thu được tính theo giá

bán ghi trên hóa đơn hoặc trên hợp đồng bán hàng

+ Quản lý các khoản giảm trừ doanh thu: là các khoản phát sinh trong quá trình

bán hàng, theo quy định cuối kỳ được trừ khỏi doanh thu thực tế. Các khoản giảm

trừ khỏi doanh thu bao gồm:

*Khoản giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hóa kém

phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu.

*Khoản giá trị hàng bán bị trả lại: Là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là

tiêu thụ nhưng đã bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán

*Chiết khấu thương mại: Là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho

khách hàng mua hàng với khối lượng lớn.

+ Doanh thu thuần là doanh thu thực tế về bán hàng của doanh nghiệp trong kỳ



-



kế toán , là cơ sở để các định kế toán bán hàng.

Quản lý tình hình thu hồi tiền, tình hình công nợ và thanh toán công nợ phải thu ở

người mua. Kế toán phải theo dõi chặt chẽ thời hạn thanh toán tiền hàng để kịp thời



-



thu hồi tiền ngay khi đến hạn để tránh bị chiếm dụng vốn kinh doanh.

Phải quản lý giá vốn của hàng hóa đã tiêu thụ, đây cũng là cơ sở để xác định kết quả

bán hàng.







Nhiệm vụ của kế toán bán hàng:

Như đã khẳng định, bán hàng có ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp. Kế

toán trong doanh nghiệp với tư cách là một công cụ quản lý kinh tế, thu nhận xử lý

và cung cấp toàn bộ thông tin về tài sản và sự vận động của tài sản đó trong doanh

nghiệp nhằm kiểm tra, giám sát toàn bộ hoạt động kinh tế, tài chính của doanh

nghiệp, có vai trò quan trọng trong việc phục vụ quản lý bán hàng và xác định kết

quả bán hàng của doanh nghiệp đó. Chính vì vậy, nhiệm vụ đặt ra đối với kế toán

bán hàng là phải:



-



Phản ánh và ghi chép đầy đủ, kịp th ời, chính xác tình hình hi ện có và s ự bi ến đợng

của từng loại hàng hóa theo chỉ tiêu sớ lượng, ch ất l ượng, chủng lo ại và giá tr ị.

- Ghi chép, phản ánh kịp thời, đầy đủ và chính xác tình hình bán hàng của doanh

nghiệp trong kỳ. Ngoài kế toán tổng hợp trên các tài khoản kế toán, kế toán bán

hàng cần phải theo dõi, ghi chép, tính toán chính xác doanh thu bán hàng, các khoản

giảm trừ doanh thu, thuế GTGT đầu ra của từng nhóm mặt hàng, theo dõi từng đơn

vị trực thuộc.

SV: PHẠM HỒNG NHUNG K3TK7



14



GVHD: PGS.TS. PHẠM THU THỦY



KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP



KHOA: KẾ TỐN – KIỂM TỐN



- Tính toán đúng đắn trị giá vớn của hàng bán nhằm xác định chính xác kết quả

bán hàng.

- Phản ánh và giám sát tình hình thu hồi tiền, tình hình công nợ và thanh toán

công nợ phải thu ở người mua. Đối với hàng hóa bán chịu, cần phải mở sổ ghi chép

theo từng khách hàng, lô hàng, số tiền khách nợ, thời hạn và tình hình trả nợ…

- Cung cấp đầy đủ kịp thời, chính xác các thông tin cần thiết về tình hình bán

hàng, phục vụ cho việc lập BCTC và định kỳ phân tích hoạt động kinh tế liên quan

đến quá trình bán hàng, giúp nhà quản lý chỉ đạo, điều hành hoạt động kinh doanh

của doanh nghiệp tốt hơn.

Như vậy, kế toán bán hàng là công tác quan trọng của doanh nghiệp nhằm xác

định số lượng và giá trị của hàng hóa bán ra cũng như doanh thu và kết quả kinh

doanh của doanh nghiệp. Song để phát huy được vai trò thực hiện tốt các nhiệm vụ đã

nêu trên đòi hỏi phải tổ chức công tác kế toán thật khoa học, hợp lý, đồng thời cán bộ

kế toán phải nắm vững nội dung của công tác kế toán bán hàng trong doanh nghiệp.

1.2 Kế toán bán hàng theo quy định hiện hành

1.2.1 Các quy định của chuẩn mực kế toán ảnh hưởng đến kế toán bán hàng:

1.2.1.1. Kế toán nghiệp vụ bán hàng theo chuẩn mực số 01

VAS 01 được ban hành và công bố theo quyết định 165/2002/QĐ – BTC ngày

31/12/2002 của Bộ trưởng Bộ tài chính trình bày 7 nguyên tắc kế toán cơ bản, trong

đó có một số nguyên tắc kế toán cơ bản chi phối tới kế toán bán hàng như:

 Nguyên tắc “Cơ sở dồn tích”: mọi nghiệp vụ bán hàng của doanh nghiệp phải được

ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực thu hoặc

thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền. Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích

phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai.

 Nguyên tắc phù hợp: việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau.

Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng

có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó. Chi phí tương ứng với doanh thu gồm chi

phí của kỳ tạo ra doanh thu và chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng

liên quan đến doanh thu của kỳ đó.

 Nguyên tắc nhất quán: các chính sách và phương pháp kế toán doanh nghiệp đã chọn

phải được áp dụng thống nhất ít nhất trong một kỳ kế toán năm. Trường hợp có thay

đổi chính sách và phương pháp kế toán đã chọn thì phải giải trình lý do và ảnh hưởng

của sự thay đổi đó trong phần thuyết minh báo cáo tài chính.

 Nguyên tắc thận trọng: kế toán bán hàng cần phải được xác định nhanh chóng, kịp



thời nhưng vẫn đảm bảo chính xác các số liệu. Do đó, cần phải xem xét, cân nhắc,



SV: PHẠM HỒNG NHUNG K3TK7



15



GVHD: PGS.TS. PHẠM THU THỦY



KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP



KHOA: KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN



phán đoán cần thiết để lập các ước tính kế toán trong các điều kiện không chắc

chắn. Nguyên tắc thận trọng áp dụng trong kế toán bán hàng đòi hỏi:

 Phải lập các khoản dự phòng (dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng







phải thu khó đòi) nhưng không lập quá lớn;

Không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập;

Không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí;

 Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả năng

thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng về khả

năng phát sinh chi phí.



1.2.1.2.Kế toán nghiệp vụ bán hàng theo chuẩn mực số 02.

Chuẩn mực kế tốn sớ 02 “Hàng tồn kho” có quy định về nguyên tắc xác định giá

vốn hàng bán và các phương pháp tính giá hàng x́t kho. Giá v ớn hàng bán là m ột

bộ phận không thể thiếu trong kế tốn bán hàng bởi khi phát sinh m ợt kho ản doanh

thu thì kế tốn đồng thời cũng phải ghi nhận giá vốn của hàng bán t ạo ra doanh thu

đó (nguyên tắc phù hợp). Do đó, chuẩn mực kế tốn sớ 02 có ảnh h ưởng tực ti ếp

đến kế tốn bán hàng. Theo chuẩn mực này thì:

* Trị giá hàng bán được tính theo giá gớc theo ngun tắc giá phí. Trường h ợp

giá trị th̀n có thể thực hiện được thấp hơn giá gớc thì phải tính theo giá trị thu ần

có thể thực hiện được. Trong đó, giá gớc hàng bán bao gồm: Chi phí mua, chi phí

chế biến, và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng hóa ở địa

điểm và trạng thái sẵn sàng sử dụng để bán.

* Để tính giá vốn hàng xuất kho, kế tốn có thể chọn một trong các phương

pháp sau:

- Phương pháp tính theo giá đích danh : Phương pháp tính theo giá đích danh

được áp dụng đới với doanh nghiệp có ít loại mặt hàng hoặc m ặt hàng ổn định và

nhận diện được, có đơn giá cao. Khi thực hiện doanh nghiệp phải biết được các đơn

vị hàng hóa bán ra thuộc những lần mua nào và dùng đơn giá của lần mua đó để xác

định giá trị hàng đã xuất trong kỳ.

Ưu điểm: Thuận lợi cho kế toán trong việc tính giá hàng và cho kết quả tính

tốn chính xác nhất trong các phương pháp.

Nhược điểm:Chỉ phù hợp với các doanh nghiệp có ít mặt hàng, ít chủng loại

hàng hóa, có thể phân biệt, chia tách thành nhiều th ứ riêng r ẽ và giá tr ị hàng xu ất

bán không sát với giá thị trường.



SV: PHẠM HỒNG NHUNG K3TK7



16



GVHD: PGS.TS. PHẠM THU THỦY



KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP

-



KHOA: KẾ TỐN – KIỂM TỐN



Phương pháp tính bình qn gia quyền:.Theo phương pháp này, giá vớn của từng

loại hàng bán đượ c tính theo giá trị trung bình c ủa t ừng lo ại hàng t ồn kho t ương t ự

đầu k ỳ và giá tr ị t ừng lo ại hàng đó được mua trong k ỳ. Giá tr ị trung bình có th ể

được tính theo th ời k ỳ ho ặc vào m ỗi l ần nh ập m ột lô hàng v ề ho ặc giá trung bình k ỳ

trước.

Giá bán thực tế hàng =

xuất bán

Giá đơn vị bình

=

qn cả kì dự trữ



Sớ lượng hàng

x

Đơn giá bình qn

x́t bán

hàng x́t bán

Giá g ớc hàng hóa t ồn đầ u k ỳ và nh ập trong k ỳ

S ố l ượng hàng hóa t ồn đầ u k ỳ và nh ập trong k ỳ



Ưu điểm: Phương pháp này đơn giản, dễ th ực hiện.

Nhược đi ểm: Đợ chính xác không cao do những biến động của giá c ả hàng hóa trên

thị trường, đồng thời việc tính giá đơn vị của hàng xuất bán c ũng nh ư giá tr ị hàng

bán đượ c tính vào cu ới k ỳ nên không c ập nh ật tr ị giá v ớn hàng bán ra, có th ể gây

-



ảnh hưởng đến tớc đợ cơng tác qút tốn trong doanh nghiệp.

Phương pháp nhập trước xuất trước(FIFO): Phương pháp này được áp dụng

dựa trên giả định là hàng tồn kho được mua trước hoặc được sản xuất trước, và hàng

tồn cuối kỳ là hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất gần tới thời điểm ći kỳ. Theo

phương pháp này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá trị của lô hàng nhập kho

ở thời điểm đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ, giá trị hàng tồn kho được tính theo giá của hàng

nhập kho ở gần thời điểm cuối kỳ hoặc gần ći kỳ hàng còn tồn kho.



-



Ưu điểm:Hàng tồn kho phản ánh trên b ảng cân đối k ế toán được đánh giá sát v ới



-



giá thực tế tại thời điểm lập báo cáo.

Nhược đi ểm: Doanh thu hiện tại khơng phù hợp với chi phí hiện tại.



-



Phương pháp nhập sau xuất trước(LIFO): Phương pháp này dựa trên giả định là

hàng tồn kho được mua sau hoặc sản x́t sau thì được x́t trước, hàng tồn kho còn

lại cuối kỳ là hàng tồn kho được mua hoặc sản xu ất trước đó. Theo ph ương pháp

này thì giá trị hàng tồn kho được tính theo giá c ủa lô hàng nhập l ần sau ho ặc g ần

sau cùng, giá trị của hàng tồn kho được tính theo giá c ủa hàng nh ập kho đầu k ỳ

hoặc gần đầu kỳ còn tồn kho.



-



Ưu điểm: Thực hiện phương pháp này đảm bảo nguyên t ắc phù h ợp trong k ế tốn

và khi giá cả có xu hướng t ăng lên thì doanh nghi ệp có th ể t ạm hỗn trách nhi ệm

nợp th́ thu nhập doanh nghiệp do chi phí lúc đó là cao nhất.



SV: PHẠM HỒNG NHUNG K3TK7



17



GVHD: PGS.TS. PHẠM THU THỦY



KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

-



KHOA: KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN



Nhược đi ểm: Khi giá cả hàng hóa có xu hướng tăng lên, nếu doanh nghi ệp ch ạy

theo việc mua hàng hóa nhập kho để tăng giá vớn hàng bán nh ằm hỗn trách nhi ệm

nợp th́ thu nhập doanh nghiệp có thể doanh nghiệp ph ải ch ịu chi phí b ảo qu ản,

lưu kho hàng hóa và giá trị hàng tồn kho được phản ánh thấp h ơn giá tr ị c ủa nó cho

nên tài sản bị đánh giá thấp hơn giá trị thực tế.

Như vậy, mỗi phương pháp xác định giá v ớn hàng bán đều có nh ững ưu đi ểm và

hạn chế riêng, kế toán cần cân nhắc đặc đi ểm c ủa hàng t ồn kho và ho ạt đợng s ản

x́t kinh doanh của DN mình để chọn lựa mợt phương pháp tính giá cho phù hợp.

1.2.1.3.Kế toán nghiệp vụ bán hàng theo chu ẩn mực kế toán s ố 14 “ Doanh thu và

thu nhập khác”.

Mục đích của chuẩn m ực này là quy định và h ướng d ẫn các nguyên t ắc và

phương pháp kế toán doanh thu và thu nh ập khác, g ồm: các lo ại doanh thu, th ời

điểm ghi nhận doanh thu, phương pháp k ế toán doanh thu và thu nh ập khác làm c ơ

sở ghi sổ kế tốn và lập báo cáo tài chính. Chuẩn mực này quy định:

*Thời điểm ghi nhận doanh thu: Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi

đồng thời thỏa mãn tất cả năm điều kiện sau:

- DN đã chuyển giao phần lớn rủi ro và l ợi ích g ắn li ền v ới quy ền s ở h ữu s ản

phẩm hoặc hàng hóa cho người mua.

Những rủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp ph ải như: hàng hóa b ị h ư h ỏng, kém

phẩm chất, lạc hậu về mẫu mã và thị hiếu...

Trường hợp DN v ẫn còn ch ịu ph ần l ớn r ủi ro g ắn li ền v ới quy ền s ở h ữu hàng

hóa dưới nhiều hình thức khác nhau như:

+ Doanh nghiệp vẫn còn ph ải ch ịu trách nhi ệm để đảm b ảo cho tài s ản được ho ạt

đợng bình thường mà khơng nằm trong các điều khoản bảo hành thơng thường.

+ Việc thanh tốn tiền hàng còn chưa chắc ch ắn vì còn phụ thu ợc vào khách hàng.

+ Hàng hóa được giao còn chờ lắp đặt và việc l ắp đặt đã được th ỏa thu ận rõ trong

hợp đồng mà DN chưa hoàn thành.

+ Khi người mua có qùn hủy bỏ việc mua hàng vì m ợt lý do nào đó được nêu

trong hợp đồng mua bán và DN chưa chắc ch ắn v ề kh ả n ăng hàng bán có b ị tr ả l ại

hay khơng.

Những lợi ích gắn liền với qùn sở hữu hàng hóa là kho ản ti ền thu được t ừ vi ệc

bán hàng hóa hoặc lợi ích, thu nhập ước tính từ việc sử dụng hàng hóa.

Khi DN đã chuyển giao phần lớn nh ững rủi ro và l ợi ích k ể trên thì m ới được ghi

nhận doanh thu bán hàng

- DN khơng còn nắm giữ quy ền qu ản lý hàng hóa nh ư ng ười s ở h ữu hàng hóa

SV: PHẠM HỒNG NHUNG K3TK7



18



GVHD: PGS.TS. PHẠM THU THỦY



KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP



KHOA: KẾ TỐN – KIỂM TỐN



hoặc qùn kiểm sốt hàng hóa.

Trong hầu hết các trường hợp thì thời điểm chuyển giao quyền sở hữu trùng với

thời điểm chuyển quyền kiểm soát hàng hóa cho người mua. Tuy nhiên, trong mợt

sớ trường hợp lại có sự tách rời hai quyền này như: Khi bán hàng tr ả góp, quy ền

quản lý và quyền kiểm soát đã được chuyển giao nhưng quyền sở hữu ch ưa được

chuyển giao, điều này có nghĩa là phần lớn r ủi ro và l ợi ích c ủa vi ệc s ở h ữu hàng

hóa gắn liền với quyền kiểm soát được chuyển giao cho người mua mặc dù quyền

sở hữu hợp pháp vẫn thuộc về người bán. Người mua chỉ thực sự trở thành chủ sở

hữu khi đã hồn thành xong nghĩa vụ thanh tốn.

- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.

Doanh thu được ghi nhận khi doanh nghiệp xác định được giá trị tương đương của

khoản đã thu hoặc sẽ thu được trong tương lai từ việc bán hàng hóa.

- DN đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng.

Doanh thu chỉ được ghi nhận khi đã tương đới chắc chắn rằng DN nhận được lợi ích

từ các giao dịch. Điều này cũng phù hợp với “ nguyên tắc thận trọng” của chuẩn

mực 01: “Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc ch ắn v ề

khả năng thu được lợi ích kinh tế”.

- Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.

Theo “nguyên tắc phù hợp” của chuẩn mực 01: “Việc ghi nhận doanh thu và chi

phí phải phù hợp với nhau. Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một

khoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó. Chi phí tương

ứng với doanh thu gồm chi phí của kỳ tạo ra doanh thu và chi phí của các kỳ trước

hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu của kỳ đó”.

Thời điểm ghi nhận doanh thu bán hàng cụ thể như sau:

- Với phương thức bán buôn qua kho, bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức

giao hàng trực tiếp: Thời điểm ghi nhận Doanh thu là thời điểm đại diện bên mua ký

nhận đủ hàng, thanh toán tiền hàng hoặc chấp nhận nợ.

- Với phương thức bán buôn qua kho, bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức

gửi hàng: Thời điểm ghi nhận doanh thu là thời điểm thu được tiền của bên mua

hoặc bên mua xác nhận đã nhận được hàng và chấp nhận thanh toán.

- Với phương thức bán lẻ hàng hóa: Thời điểm ghi nhận Doanh thu là thời điểm

nhận được báo cáo bán hàng của nhân viên bán hàng.

- Với phương thức bán hàng đại lý: Thời điểm ghi nhận doanh thu là thời điểm bên

nhận đại lý thanh toán tiền hàng, chấp nhận thanh toán hoặc thông báo hàng đã bán

được.

* Xác định doanh thu:

Doanh thu được xác định như sau:



SV: PHẠM HỒNG NHUNG K3TK7



19



GVHD: PGS.TS. PHẠM THU THỦY



KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP



KHOA: KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN



- Doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu được.

-Doanh thu phát sinh từ giao dịch được xác định bởi thỏa thuận giữa DN với

bên mua hoặc bên sử dụng tài sản. Nó được xác định bằng giá trị hợp lý c ủa các

khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ các khoản chiết khấu thương mại,

chiết khấu thanh toán, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại.

- Đối với các khoản tiền hoặc tương đương tiền khơng được nhận ngay thì

doanh thu được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các khoản sẽ thu

được trong tương lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu theo t ỷ l ệ lãi

suất hiện hành. Giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu có thể nhỏ h ơn giá

trị danh nghĩa sẽ thu được trong tương lai.

- Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đởi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ tương

tự về bản chất và giá trị thì việc trao đởi đó khơng được coi là một giao d ịch t ạo ra

doanh thu.

- Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đởi để lấy hàng hóa hoặc d ịch v ụ khác

khơng tương tự thì việc trao đởi đó được coi là mợt giao dịch t ạo ra doanh thu.

Trường hợp này, doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa ho ặc

dịch vụ nhận về, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền tr ả thêm

hoặc thu thêm. Khi không xác định được giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ

nhận về thì doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa ho ặc d ịch v ụ

đem trao đổi, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm

hoặc thu thêm.

Doanh thu được ghi nhận theo giá bán hàng hóa. Giá bán hàng hóa c ủa doanh

nghiệp được xác định trên nguyên tắc phải đảm bảo bù đắp được giá vớn, chi phí bỏ

đã bỏ ra đồng thời đảm bảo cho doanh nghiệp có được khoản lợi nhuận định mức.

Trên nguyên tắc đó, giá bán được xác định như sau.

Giá bán hàng hóa = Giá mua thực tế + Thặng số thương mại.

Hoặc: Giá bán hàng hóa = Giá mua thực tế * ( 1 + % Thặng sớ thương mại)

1.2.2 Kế tốn bán hàng trong DNTM theo hệ thống kế tốn hiện hành (theo

thơng tư 200/2014/QĐ-BTC ban hành ngày 22/12/2014 thay thế cho QĐ15/2006/

QĐ- BTC)

Hiện nay BTC đã ra thông tư 200/2014/ QĐ- BTC ngày 22/12/214 thay thế

cho chế độ kế toán cũ theo QĐ 15. Chế độ kế toán mới sẽ có hiệu lực thi hành từ

ngày 01/01/2015. Vì vậy, các hóa đơn, chứng từ, sổ sách được nghiên cứu trong

luận văn này đều được doanh nghiệp áp dụng theo thông tư 200/2014 QĐ/BTC.

SV: PHẠM HỒNG NHUNG K3TK7



20



GVHD: PGS.TS. PHẠM THU THỦY



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG TRONG DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x