Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Kết cấu báo cáo.

Kết cấu báo cáo.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Đại học KT&QTKD Thái Ngun



Khóa luận tốt nghiệp



Ngồi phần mở đầu, kết luận, danh mục các bảng biểu và mục lục, báo cáo

gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở khoa học về vốn và hiệu quả sử dụng vốn.

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và giới thiệu chung về Công ty cổ phần

thương mại Thái Hưng.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu về vấn đề hiệu quả sử dụng vốn tại công ty

cổ phần thương mại Thái Hưng.



3



Đại học KT&QTKD Thái Nguyên



Khóa luận tốt nghiệp



CHƯƠNG 1

CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN

1.1Cơ sở lý luận về vốn và hiệu quả sử dụng vốn.

1.1.1 Vốn và vai trò của vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp.

1.1.1.1



Khái niệm về vốn.



Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, bất kỳ một doanh nghiệp nào

muốn tồn tại và phát triển được đều cần phải có nguồn tài chính đủ mạnh, đây là

một trong ba yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp có thể duy trì hoạt động của

mình. Chủ thể kinh doanh khơng chỉ có vốn mà còn phải biết vận động khơng

ngừng phát triển đồng vốn đó.

Vốn là một khối lượng tiền tệ nào đó được đưa vào lưu thơng nhằm mục đích

kiếm lời. Nhưng suy cho cùng là để mua sắm tư liệu sản xuất và trả cơng cho

người lao động, nhằm hồn thành cơng việc sản xuất kinh doanh hay dịch vụ nào

đó với mục đích là thu về số tiền lớn hơn ban đầu. Do đó vốn mang lại giá trị thặng

dư cho doanh nghiệp.

Nếu gạt bỏ nguồn gốc bóc lột của tư bản chủ nghĩa trong công thức T- HSX- H’-T’ của CMac thì có thể xem đây là một cơng thức kinh doanh, chủ thể kinh

doanh dùng vốn của mình dưới hình thức tiền tệ mua những tư liệu sản xuất để tiến

hành quá trình sản xuất ra sản phẩm, hàng hóa theo nhu cầu của thị trường rồi đem

những thành phẩm hàng hóa này bán cho khách hàng trên thị trường để thu được

một lượng tiền tệ lớn hơn số ban đầu bỏ ra.

Theo quan điểm của Mark, vốn là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là một đầu

vào của quá trình sản xuất. Định nghĩa này mang một tầm khái quát lớn, nhưng do

bị hạn chế bởi điều kiện khách quan lúc bấy giờ nên Mark đã quan niệm chỉ có khu

vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế. Cùng với sự phát

triển của nền kinh tế, các nhà khoa học đại diện cho các trường phái khác nhau đã

có bổ sung thêm các yếu tố mới cũng được coi là vốn.



4



Đại học KT&QTKD Thái Nguyên



Khóa luận tốt nghiệp



Theo Paul A. Samuelson nhà kinh tế học của trường phái “tân cổ điển” đã

thừa kế các quan điểm của trường phái cổ điển, về yếu tố sản xuất để phân chia các

yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất thành ba bộ phận là: đất đai- lao động- vốn.

Theo ông vốn là các hàng hóa được sản xuất ra để phục vụ cho quá trình sản xuất

mới.

Sau này David Beeg có bổ sung thêm về định nghĩa của vốn, theo ơng vốn

bao gồm có vốn hiện vật ( tiền, các giấy tờ có giá trị của doanh nghiệp). Nhìn

chung cả Samuelson và Beeg đều có chung một thống nhất cơ bản về vốn là các

yếu tố đầu vào phục vụ cho q trình sản xuất kinh doanh.

Ngồi ra một số nhà kinh tế khác đã đưa ra khái niệm về vốn hiện vật và vốn

tài chính của doanh nghiệp. Theo khái niệm này vốn tài chính là tiền và các giấy tờ

có giá của doanh nghiệp, vốn hiện vật là dự trữ các loại hàng hóa đã sản xuất các

hàng hóa khác. Theo như lý luận này ta thấy các nhà kinh tế đã tiến dần đi đến gần

bản chất của vốn. Vốn tài chính với bản chất của nó chính là một phần của tài sản

lưu động, còn vốn hiện vật chính là dự trữ của nguyên vật liệu.

Các lý luận về vốn đã cho thấy một phần nào bản chất của vốn tuy nhiên do

hạn chế về các điều kiện lịch sử vậy có sự đồng nhất vốn với tài sản của doanh

nghiệp. Thực chất vốn là biểu hiện bằng tiền là giá trị của tài sản mà doanh nghiệp

nắm giữ. Vốn và tài sản là hai mặt giá trị và hiện vật của nguồn lực sản xuất mà

doanh nghiệp đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh. Vốn là toàn bộ giá trị ứng ra

ban đầu và trong các quá trình tiếp theo của doanh nghiệp. Vì thế, vốn khơng chỉ là

yếu tố đầu vào mà còn tham gia trong suốt q trình sản xuất và tái sản xuất, trong

quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

1.1.1.2



Đặc trưng của vốn



Vì khái niệm về vốn mang tính chất trừu tượng, nên để có thể hiểu sâu hơn

về vốn thì ta cần tìm hiểu về các đặc trưng cơ bản của vốn:

 Thứ nhất: Vốn phải đại diện cho một lượng giá trị tài sản nhất định, điều này

có nghĩa là vốn là sự biểu hiện của những tài sản hữu hình và vơ hình như: ngun



5



Đại học KT&QTKD Thái Nguyên



Khóa luận tốt nghiệp



vật liệu, máy móc, thiết bị, nhà xưởng, quyền sử dụng đất…. vì thế vốn được đưa

vào trong sản phẩm khi sản xuất và quay lại với nhà sản xuất khi tiêu thụ sản phẩm.

 Thứ hai: Vốn phải được tích tụ, tập trung đến một lượng nhất định mới phát

huy được tác dụng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Lượng vốn này tối thiểu phải

bằng vốn pháp định, nó phải được tập trung đủ lớn để có thể mua sắm máy móc

thiết bị, xây dựng nhà xưởng, cơ sở sản xuất, đảm bảo nguyên vật liệu và đầu vào

cần thiết cho việc sản xuất sản phẩm. Tuy nhiên lượng vốn này không phải là một

số cố định mà đối với các ngành nghề khác nhau thì có các mức khác nhau tùy

thuộc vào các đặc trưng của ngành nghề hoạt động kinh doanh. Vì thế, muốn đảm

bảo vốn tốt cho hoạt động sản xuất kinh doanh cần phải chủ động trong các phương

án sản xuất kinh doanh. Làm được điều này các doanh nghiệp khơng chỉ dựa vào

vốn sẵn có của mình mà cần tìm kiếm, thu hút và khai thác vốn từ nhiều nguồn

khác như: đi vay, phát hành trái phiếu, cổ phiếu, góp vốn liên doanh….

 Thứ ba: Vốn có giá trị về mặt thời gian, giá trị của một đồng vốn ngày hôm

này khác với ngày mai. Điều này có được vì vốn là biểu hiện bằng tiền của tài sản,

mà tiền có giá trị về mặt thời gian. Một đồng tiền bỏ ra hơm nay có giá trị khác với

ngày mai, giá trị của động tiền còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, vì thế cần cân

nhắc kỹ lưỡng khi quản lý vốn của doanh nghiệp. Cần xem xét khi nào cần mạo

hiểu đầu tư, khi nào cần giữ vốn lại để đảm bảo khả năng thanh toán. Trong điều

kiện kinh tế thị trường phải xem xét giá trị thời gian của tiền bởi do ảnh hưởng của

giá cả, lạm phát nên giá trị của đồng tiền ở các thời điểm khác nhau thì khác nhau.

 Thứ tư: Vốn phải gắn với chủ sở hữu nhất định. Cần rõ ràng giữa quyền sở

hữu vốn và quyền sử dụng vốn. Tùy theo hình thức đầu tư mà người sở hữu và

người sử dụng vốn có thể đồng nhất, tách rời. Việc xác định rõ quyền sở hữu và

quyền sử dụng vốn có ý nghĩa to lớn, là nguyên tắc quan trọng quản lý, huy động

và sử dụng vốn. Khi đó sẽ gắn được quyền lợi và trách nhiệm cụ thể cho cá nhân

hay tổ chức được sử dụng hay sở hữu vốn, chính điều này sẽ nâng cao tính trách

nhiệm nhằm đảm bảo quản lý và sử dụng vốn tốt hơn.



6



Đại học KT&QTKD Thái Nguyên



Khóa luận tốt nghiệp



 Thứ năm: Trong nền kinh tế thị trường, vốn được quan niệm là loại hàng hóa

đặc biệt. Những người có nguồn vốn nhàn rỗi có thể đưa vốn vào thị trường với tư

cách người cho vay còn những người cần vốn thì tham gia thị trường với tư cách

người vay. Thông qua thị trường với các quan hệ cung cầu, người cần vốn thì có

được quyền sử dụng vốn nhưng phải mất một khoản phí cho khoản vốn đó. Người

thừa vốn thì có được khoản phí nhưng mất quyền sử dụng vốn. Nói vốn là hàng hóa

đặc biệt vì khi bán thì chỉ bán quyền sử dụng mà khơng bán quyền sở hữu, khi mua

chỉ mua được quyền sử dụng mà không mua được quyền sở hữu.

 Thứ sáu: Vốn phải được vận động sinh lời. Vốn được biểu hiện bằng tiền

nhưng tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn, để tiền biến thành vốn thì đồng tiền đó

phải được vận động và sinh lời. Một khi vốn bị ứ đọng, tài sản cố định không cần

dùng, tài nguyên sức lao động không được sử dụng, tiền cất giữ… chỉ là những

đồng vốn chết. Nó làm ảnh hưởng đến chu kỳ vận động tiếp theo của vốn, điều này

sẽ làm cho sản xuất bị đình trệ.

Xuất phát từ các lý luận, và các đặc trưng về vốn ta có thể hiểu một cách

khái quát về vốn là: Vốn là phạm trù kinh tế cơ bản, vốn là toàn bộ các giá trị ứng

ra ban đầu và trong quá trình sản xuất tiếp theo, vốn là giá trị tạo ra giá trị thặng dư.

1.1.1.3



Phân loại vốn



Vốn trong doanh nghiệp thường được chia thành nhiều phần khác nhau theo

từng cách chia khác nhau tùy thuộc vào mục đích, thời hạn, và tính chất sử dụng

vốn mà người ta phân chia thành các loại khác nhau:

1.1.1.3.1 Theo nguồn hình thành vốn

Căn cứ theo nguồn hình thành vốn, vốn được chia làm 3 loại: nguồn vốn chủ

sở hữu, nguồn vốn vay, nguồn vốn liên doanh liên kết.

 Nguồn vốn chủ sở hữu.



7



Đại học KT&QTKD Thái Ngun



Khóa luận tốt nghiệp



Đối với mọi loại hình doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao

gồm các bộ phận chủ yếu: vốn góp ban đầu, vốn bổ sung từ lợi nhuận không chia,

vốn bổ sung bằng phát hành cổ phiếu mới.

- Vốn góp ban đầu.

Một doanh nghiệp có thể có một hay nhiều chủ sở hữu vốn, điều này phụ

thuộc vào loại hình doanh nghiệp và những người tham gia thành lập doanh nghiệp.

Khi doanh nghiệp được thành lập, bao giờ chủ doanh nghiệp cũng phải có một số

vốn ban đầu nhất định do các cổ đơng – chủ sở hữu góp vốn.

Đối với doanh nghiệp Nhà nước, vốn góp ban đầu chính là vốn đầu tư của

Nhà nước, hay nói cách khác là chủ sở hữu chính là Nhà nước.

Đối với các doanh nghiệp, theo luật doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp phải có

một số vốn ban đầu cần thiết để xin đăng ký thành lập doanh nghiệp.

Vốn góp ban đầu là cơ sở vật chất cho việc kinh doanh của doanh nghiệp,

vừa đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Tùy thuộc vào các loại hình sở

hữu mà nguồn vốn này do một hay nhiều chủ đầu tư khác nhau. Trong điều kiện

nền kinh tế thị trường hiện đại, phần lớn các doanh nghiệp phải chủ động tìm kiếm

nguồn vốn hoạt động cho mình, nhà nước khơng thể bao cấp hồn tồn cho các

doanh nghiệp như trước kia nữa, hơn nữa để mở rộng khả năng cung ứng vốn và

hạn chế rủi ro các doanh nghiệp đang hướng tới hình thức cổ phần. Xu hướng này

là xuất phát từ tính ưu việt của loại hình doanh nghiệp này, đó là:

+ Khi doanh nghiệp cổ phần hóa sẽ tạo ra khả năng huy động vốn nhanh

chóng, kịp thời với quy mơ lớn cho hoạt động kinh doanh. Có điều kiện mở rộng

nhanh quy mơ kinh doanh, đổi mới công nghệ hiện đại để nâng cao hiệu quả kinh

doanh và sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây chính là ưu điểm nổi bật của loại

hình này so với các loại hình khác.

+ Trong loại hình này, người lao động chính là người chủ thực sự của tài sản

mà họ đã bỏ ra, chính vì thế đã nâng cao trách nhiệm của người lao động với công

việc của mình. Phương thức quản lý của cơng ty cổ phần tạo ra sự ràng buộc và



8



Đại học KT&QTKD Thái Nguyên



Khóa luận tốt nghiệp



giám sát lẫn nhau giữa các bộ phận quản lý của doanh nghiệp. Mọi vấn đề quan

trọng của công ty được quyết định bởi đại hội cổ đơng. Vì thế lợi ích của các thành

viên được gắn với lợi ích của doanh nghiệp, nó tạo ra động lực trong quản lý và sản

xuất.

+ Vốn có thể được chuyển dịch giữa các nhà đầu tư, nó tạo nên hiệu quả sử

dụng vốn và giảm rủi ro với các nhà đầu tư.

- Vốn bổ sung từ lợi nhuận không chia.

Vốn góp ban đầu bao giờ cũng là nguồn vốn quan trọng của doanh nghiệp,

tuy nhiên quy mô của số vốn này thường là không lớn. Thông thường số vốn này

được tăng theo quy mô phát triển của doanh nghiệp. Trong quá trình sản xuất kinh

doanh, nếu doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả sẽ tích lũy được để tăng trưởng

nguồn vốn. Nguồn vốn tích lũy từ lợi nhuận khơng chia là bộ phận lợi nhuận được

sử dụng tái đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Tăng trưởng nguồn vốn bằng lợi nhuận không chia là phương thức tạo nguồn

tài chính quan trọng và khá hấp dẫn của các doanh nghiệp vì doanh nghiệp giảm

được chi phí, giảm bớt được sự phụ thuộc vào bên ngoài. Nguồn vốn tái đầu tư từ

lợi nhuận để lại chỉ có thể thực hiện được nếu doanh nghiệp đã và đang hoạt động

và có lợi nhuận, được phép tiếp tục đầu tư. Sau mỗi chu kỳ kinh doanh, một phần

lợi nhuận sau thuế được chia cho các đối tượng: Ngân sách Nhà nước, với cơng ty

cổ phần thì chia lợi tức cho cổ đơng… và một phần trích vào vốn chủ sở hữu của

doanh nghiệp.

- Vốn bổ sung bằng phát hành cổ phiếu mới

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể tăng vốn chủ sở

hữu bằng cách phát hành cổ phiếu mới. Một nguồn tài chính dài hạn rất quan trọng

là phát hành cổ phiếu để huy động vốn cho doanh nghiệp. Phát hành cổ phiều được

gọi là hoạt động tài trợ dài hạn của doanh nghiệp.

Khi phát hành cổ phiểu doanh nghiệp có thể lựa chọn phát hành cổ phiểu

thường hoặc cổ phiểu ưu đãi.



9



Đại học KT&QTKD Thái Nguyên



Khóa luận tốt nghiệp



Như vậy, vốn chủ sở hữu là một phần vốn quan trọng của doanh nghiệp. Tỷ

trọng nguồn vốn chủ sở hữu trong cơ cấu nguồn vốn càng cao thì càng chứng tỏ

mức độ an tồn về vốn, mức độ tự chủ về vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy

nhiên, không phải tỷ lệ này cao nhất là tốt nhất, mà nó phụ thuộc vào từng thời kỳ,

từng mục tiêu của doanh nghiệp.

 Nguồn vốn vay

Trong thực tiễn sản xuất và kinh doanh, thiếu vốn là tình trạng hay gặp của

các doanh nghiệp. Nguồn vốn chủ sở hữu thì có hạn, khơng thể đáp ứng hết các nhu

cầu về sản xuất và kinh doanh. Để bổ sung nguồn vốn cho sản xuất, kinh doanh các

doanh nghiệp phải tìm nguồn tài trợ từ các nguồn vay vốn. Nguồn vốn vay rất đa

dạng có thể vay từ ngân hàng, các tổ chức tín dụng, tư nhân… với các hình thức

khác nhau như: tín dụng, thế chấp, cho thuê, cầm cố…

Vốn vay ngân hàng rất quan trọng trong việc tạo lập nguồn vốn cho doanh

nghiệp. Nguồn vốn này có thể vay từ các ngân hàng, các tổ chức tín dụng nó có vai

trò quan trọng, có thể đáp ứng u cầu thanh tốn ngay lập tức cho doanh nghiệp,

có thể dùng để đầu tư vào tài sản, vào dự trữ hàng hóa tùy thuộc vào thời hạn của

các khoản tín dụng này. Đối với các doanh nghiệp lớn thì có thể ưu thế hơn các

doanh nghiệp nhỏ trong việc đi vay tại các ngân hàng bởi vì danh tiếng của các

doanh nghiệp lớn chính là một phần tài sản đảm bảo rất có giá trị.

Dù dưới hình thức vay nào, từ nguồn nào thì doanh nghiệp cũng phải đảm

bảo được các yếu tố là trả đủ gốc và lãi, trả đúng hạn. Vì thế, trước khi vay phải

tính đến khả năng thanh toán cả gốc và lãi. Vấn đề này đặt ra yêu cầu đối với

những người quản lý vốn phải lựa chọn vay vào thời điểm nào, vay từ nguồn nào,

vay bao nhiêu cho phù hợp để đáp ứng tối đa nhu cầu vốn của doanh nghiệp vừa để

đảm bảo tài chính của cơng ty.

 Nguồn vốn liên doanh liên kết

Trước đây, trong nền kinh tế tập trung bao cấp nguồn vốn này được coi là

một cái gì đó khơng hề có thật. Nhưng hiện nay, trong điều kiện nền kinh tế thị



10



Đại học KT&QTKD Thái Nguyên



Khóa luận tốt nghiệp



trường đang ngày càng phát triển, với các quan hệ hợp tác được mở rộng. Việc góp

vốn liên doanh ở nước ta diễn ra rất phổ biến, đặc biệt là sự liên doanh, liên kết với

các cơng ty nước ngồi. Q trình hợp tác này khuyến khích các doanh nghiệp phát

triển sản xuất kinh doanh, nâng cao uy tín các doanh nghiệp trên thị trường. Tiếp

cận được các công nghệ tiên tiến của nước ngồi, bổ sung nguồn tài chính cho các

hoạt động sản xuất kinh doanh. Chính vì nó có những ưu điểm như vậy nên đòi hỏi

phải có sự chuẩn bị kỹ càng về mọi mặt để không phụ thuộc vào phía đối tác.

1.1.1.3.2 Theo hình thức chu chuyển vốn

Một trong những nhiệm vụ quan trọng của doanh nghiệp là phải quản lý tốt

vốn của doanh nghiệp. Trong khi đó vốn khơng đứng n dưới một hình thức mà

nó ln vận động ln chuyển trong các chu kỳ sản xuất kinh doanh. Việc quản lý

vốn phải nghiên cứu đến hoạt động luân chuyển vốn, đến ảnh hưởng qua lại của các

hình thức khác nhau của tài sản, đến hiệu quả của vòng quay vốn. Do đó phải xem

xét vốn trong góc độ chu chuyển tức là trong trạng thái động. Khi đó vốn được chia

thành vốn cố định và vốn lưu động.

 Vốn cố định

Là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định của doanh nghiệp, tham gia vào

quá trình sản xuất kinh doanh, nhưng về mặt giá trị lại không chuyển hết một lần

vào sản phẩm mà chuyển dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất. Vốn cố định

này quay trở lại doanh nghiệp từng phần một dưới hình thái tiền tệ sao khi đã bán

hàng hóa.

Khi tham gia vào q trình sản xuất kinh doanh, sự vận động của vốn cố định

gắn liền với hình thái biểu hiện vật chất của nó, đó là tài sản cố định và được tuân

theo tính quy luật nhất định. Chính vì điều này nên khi nghiên cứu về vốn cố định

thì cần phải xem xét về tài sản cố định

Tài sản cố định là những tư liệu lao động chủ yếu được tham gia trực tiếp

hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: máy móc,

thiết bị, nhà xưởng, phương tiện vận tải, các cơng trình kiến trúc, các chi phí mua



11



Đại học KT&QTKD Thái Nguyên



Khóa luận tốt nghiệp



bằng phát minh sáng chế…Khác với đối tượng lao động, đặc điểm cơ bản của tài

sản cố định tư liệu lao động là chúng có thể tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào

nhiều chu kỳ sản xuất. Trong q trình đó, mặc dù tài sản cố định bị hao mòn song

nó vẫn giữ nguyên hình thái biểu hiện vật chất ban đầu. Chỉ khi nào đã bị hao mòn,

hư hỏng hồn tồn hoặc xét thấy khơng có lợi về mặt kinh tế, kỹ thuật thì khi đó

chúng mới cần được thay thế đổi mới.

Tài sản cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh. Giá trị của

nó được chuyển dần vào giá trị sản phẩm tùy theo mức độ hao mòn về vật chất của

tài sản cố định. Bộ phận chuyển dịch vào giá trị sản phẩm tạo nên một yếu tố chi

phí sản xuất sản phẩm và được thu hồi khi sản phẩm được tiêu thụ.

Theo quy định của pháp luật thì tài sản cố định phải đạt hai tiêu chuẩn là :

+ Thời gian sử dụng phải từ một năm trở lên

+ Giá trị phải đạt từ 5 triệu đồng trở lên

Trong doanh nghiệp, vốn cố định là một bộ phận quan trọng của vốn đầu tư

nói riêng và vốn sản xuất kinh doanh nói chung. Quy mơ của vốn cố định và trình

độ quản lý, sử dụng nó là nhân tố ảnh hưởng đến trình độ trang bị kỹ thuật. Do ở vị

trí then chốt và đặc điểm vận động của nó lại tn theo tính quy luật riêng nên việc

quản lý vốn cố định được xem như một phần quan trọng của công tác quản lý tài

chính, đảm bảo sự ổn định và phát triển của doanh nghiệp.

Tuỳ theo hình thái biểu hiện và kết hợp tính chất đầu tư thì vốn cố định dưới

dạng tài sản cố định của doanh nghiệp được chia làm ba loại: tài sản cố định hữu

hình, tài sản cố định vơ hình, tài sản cố định tài chính.

+ Tài sản cố định hữu hình là những tư liệu lao động chủ yếu được biểu hiện

bằng các hình thái vật chất cụ thể như nhà xưởng, máy móc, thiết bị phương tiện

vận tải, các vật kiến trúc..., những tài sản cố định hữu hình này có thể là từng đơn

vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống bao gồm nhiều bộ phận tài sản

liên kết với nhau để thực hiện một hay một số chức năng nhất định trong q trình



12



Đại học KT&QTKD Thái Ngun



Khóa luận tốt nghiệp



sản xuất kinh doanh. Tài sản cố định hữu hình có thể do doanh nghiệp tự mua sắm,

xây dựng hoặc cho thuê dài hạn.

+ Tài sản cố định vô hình là những tài sản khơng có hình thái vật chất cụ

thể, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư có liên quan trực tiếp đến nhiều chu

kỳ kinh doanh của doanh nghiệp như: bằng phát minh sáng chế, bí quyết, bản

quyền, chi phí sáng lập doanh nghiệp, lợi thế thương mại… Trong nền kinh tế thị

trường, để nâng cao khả năng cạnh tranh thì việc đầu tư tài sản cố định vơ hình là

rất quan trọng. Những chi phí đó cũng được quan niệm như giá trị của một số tài

sản cố định và phải được thu hồi dần để mua sắm tài sản cố định mới.

+ Tài sản cố định tài chính: là giá trị các khoản đầu tư tài chính dài hạn với

mục đích kiếm lời như đầu tư vốn vào liên doanh dài hạn, cho thuê tài sản cố định

dài hạn... Đây là những khoản vốn đầu tư có thời gian thu hồi dài (lớn hơn một năm

hay một chu kỳ kinh doanh).

Khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, sự vận động của tài sản cố định

có những đặc điểm:

- Về mặt hiện vật: tài sản cố định tham gia nhiều lần vào q trình sản xuất

kinh doanh và nó bị hao mòn dần, bao gồm cả hao mòn hữu hình và hao mòn vơ

hình. Nói cách khác, giá trị sử dụng sẽ giảm dần cho đến khi tài sản cố định bị loại

ra khỏi quá trình sản xuất kinh doanh.

- Về mặt giá trị: giá trị của tài sản cố định được chuyển dần từng phần vào giá

trị sản phẩm mà nó tạo ra trong q trình sản xuất.

Đặc điểm về mặt hiện vật và giá trị của tài sản cố định đã quyết định đến đặc

điểm chu chuyển của vốn cố định. Song quy mô của vốn cố định lại được quyết

định bằng quy mô của tài sản cố định. Qua mối liên hệ đó ta có thể khái quát những

nét đặc thù về sự vận động của vốn cố định trong sản xuất kinh doanh như sau:

+ Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất. Có đặc điểm này là do tài

sản cố định có thể phát huy trong nhiều kỳ sản xuất, vì vậy hình thái biểu hiện bằng

tiền của nó cũng được tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất tương ứng.



13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Kết cấu báo cáo.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×