Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bố cục của khóa luận 

Bố cục của khóa luận 

Tải bản đầy đủ - 0trang

CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Lý luận chung về đầu tư

1.1.1.1 Khái niệm và phân loại đầu tư

a. Khái niệm

Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực hiện tại để tiến hành các hoạt

động nào đó nhằm thu hút về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các

nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Như vậy mục tiêu của mọi cơng

cuộc đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực mà

người đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư.

b. Phân loại đầu tư

Chúng ta có thể chia đầu tư thành 3 loại chủ yếu như sau:

Đầu tư thương mại: Là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ ra để mua hàng

hố và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá khi mua và

khi bán. Loại đầu tư này không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếu không xét

đến ngoại thương) mà chỉ làm tăng tái sản xuất cho chính người đầu tư trong q

trình mua đi bán lại, chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá giữa người bán với người

đầu tư và giữa người đầu tư với khách hàng của họ.

Đầu tư tài chính: Là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ ra cho vay hoặc

mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước (gửi tiết kiệm, mua trái phiếu

chính phủ) hoặc lãi suất tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.

Đầu tư phát triển: Là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ ra để tiến hành các

hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh

doanh và mọi hoạt động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu để tạo việc làm, nâng cao

đời sống của mọi người dân trong xã hội. Đó chính là việc bỏ tiền ra để xây dựng,

sửa chữa nhà cửa và các kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị, lắp đặt chúng trên

nền bệ và bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thương xuyên

gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của

các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội.



3



Trên góc độ tài chính thì đầu tư phát triển là quá trình chi tiêu để duy trì sự

phát huy tác dụng của vốn cơ bản hiện có và bổ sung vốn cơ bản mới cho nền kinh

tế, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội trong dài hạn.

Đầu tư phát triển là một phương thức đầu tư trực tiếp trong đó việc bỏ vốn là

nhằm gia tăng giá trị tài sản. Trong đầu tư phát triển nhằm tạo ra năng lực sản xuất

mới và (hoặc) cải tạo, mở rộng, nâng cấp năng lực sản xuất hiện có vì mục tiêu phát

triển.

Trong đầu tư các nguồn lực có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao

động và trí tuệ. Trong đầu tư các nguồn lực đóng vai trò quyết định, nó là cái đầu

tiên phải có khi tiến hành một cơng cuộc đầu tư.

1.1.1.2 Vai trò của đầu tư phát triển

Tất cả các lý thuyết từ trước tới nay, từ cổ điển đến hiện đại đều coi đầu tư là

nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế, là chìa khố của sự tăng trưởng. Vai trò của

đầu tư được xem xét trên hai giác độ nền kinh tế như sau:

a. Trên giác độ toàn bộ nền kinh tế

Đầu tư phát triển vừa tác động đến tổng cung, vừa tác động đến tổng cầu.

- Về tổng cầu: Đầu tư là yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ

nền kinh tế, theo số liệu của Ngân hàng Thế giới thì đầu tư chiếm 24 – 28% trong

cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên Thế giới. Cơng thức tính tổng cầu của nền

kinh tế mở:

AD = C + I + G + (EX – IM)

Trong đó:

AD:



Tổng cầu



I:



Chi tiêu của doanh nghiệp



C:



Chi tiêu của hộ gia đình



G:



Chi tiêu của Chính phủ



EX – IM:



Xuất khẩu ròng



4



Như vậy, đầu tư của các doanh nghiệp và một phần chi tiêu của Chính phủ

(đầu tư Chính phủ) là một bộ phận trong tổng cầu nền kinh tế. Tuy nhiên, sự tác

động của đầu tư đến tổng cầu là trong ngắn hạn, trong thời gian thực hiện đầu tư,

tổng cung chưa kịp thay đổi (các kết quả của đầu tư chưa phát huy tác dụng).

P



AS



P2

P1

AD2

AD1

Q1



Q



Q2



Hình 1. Đồ thị tổng cung - cầu

Khi mà tổng cung chưa thay đổi, sự tăng lên của đầu tư làm cho tổng cầu tăng

kéo sản lượng cân bằng và giá cân bằng tăng theo. Tuy nhiên, việc tăng này chỉ

trong ngắn hạn.

- Về tổng cung:

Khi các kết quả của đầu tư bắt đầu phát huy tác dụng, các năng lực mới tăng

thêm đi vào hoạt động thì tổng cung tăng, đặc biệt là tổng cung dài hạn.

P



AS1

AS2



P2

P1



AD



Q

Q1



Q2



Hình 2. Đồ thị tổng cung – cầu

Như vậy, về dài hạn khi đầu tư tăng thì tổng cung tăng, sản lượng cân bằng

tăng và giá giảm xuống cho phép tiêu dùng tăng. Tăng tiêu dùng lại tiếp tục kích

thích sản xuất phát triển và nó là nguồn gốc cơ bản để tăng tích lũy, phát triển kinh

tế - xã hội, tăng thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống của mọi thành viên

trong xã hội.



5



Về dài hạn, giá sẽ ổn định, sản lượng cân bằng tăng khi tăng đầu tư. Việc tăng

giảm đầu tư có ảnh hưởng đến sự ổn định của nền kinh tế.

Khi tăng đầu tư, sản lượng cân bằng tăng, tỷ lệ thất nghiệo giảm do có cơng ăn

việc làm được tạo ra. Tuy nhiên, khi tăng đầu tư cũng làm mức giá tăng, tốc độ lạm

phát tăng ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế.

Khi giảm đầu tư thì sản lượng, tỷ lệ thất nghiệp tăng nhưng giá ổn định.

Như vậy, việc tăng giảm đầu tư đều có mặt lợi hại nhất định, do đó tuỳ thuộc

vào điều kiện của nền kinh tế mà có những chính sách kinh tế thích hợp để điều tiết

nền kinh tế thông qua tác động đến đầu tư.

b. Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế

Qua phân tích các nhà kinh tế học đã rút ra rằng giữa đầu tư và tăng trưởng có

mối quan hệ tỷ lệ. Muốn giữ cho tăng trưởng ổn định ở mức trung bình thì tỷ lệ đầu

tư so với GDP phải đạt từ 15 – 25% tuỳ vào hệ số ICOR của mỗi nước. Hệ số ICOR

được tính theo cơng thức sau:

ΔI

Δ GDP



Hệ số ICOR =

Trong đó:



Δ I:



Mức tăng của vốn đầu tư



Δ GDP: Mức tăng của GDP

Hệ số ICOR phản ánh, cứ tăng thêm một đồng vốn đầu tư thì sẽ tạo ra được

bao nhiêu đồng trong GDP. Nó phản ánh hiệu quả tăng thêm của vốn đầu tư. Trong

công thức trên, nếu ICOR khơng đổi, thì GDP tăng khi đầu tư tăng. Do đó, đầu tư

chính là chìa khóa cho sự tăng trưởng, là nhân tố làm tăng GDP.

Như ta đã biết, hàm sản xuất là hàm của các biến số như lao động, vốn, công

nghệ đất đai... mỗi sự thay đổi của các yếu tố này đều dẫn đến sự thay đổi trong

GDP. Ở các nước phát triển thì hệ số ICOR rất cao do họ thừa vốn, sử dụng công

nghệ hiện đại, tay nghề lao động cao. Nhưng ở các nước kém và đang phát triển thì

hệ số ICOR lại thấp do thiếu vốn, sử dụng công nghệ lạc hậu và nhiều lao động

chân tay. Vì vậy, nhu cầu đầu tư ở các nước phát triển là cao.

Hệ số ICOR phụ thuộc vào trình độ quản lý đầu tư, trình độ phát triển kinh

tế… do đó, thay đổi hệ số ICOR không phải là dễ dàng.



6



Kinh nghiệm của các nước trên thế giới thì ICOR ở ngành mũi nhọn sử dụng

nhiều cơng nghệ tiên tiến, lao động có chất xám thì đem lại hiệu quả cao. Còn trong

nơng nghiệp thì do hạn chế về đất đai, khả năng tăng trưởng của động thực vật và

khả năng lao động nên hệ số có nhiều hạn chế so với các ngành khác.

c. Đầu tư tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Mục tiêu cuối cùng của đầu tư là tạo ra hiệu quả cao, tăng trưởng kinh tế lớn;

do đó, đầu tư phải tập trung vào những ngành có lợi suất đầu tư lớn. Kinh nghiệm

của các nước trên thế giới là muốn tăng trưởng nhanh với tốc độ trung bình 8 - 10%

thì cần đầu tư vào khu cơng nghiệp và dịch vụ. Đây là ngành có tốc độ tăng trưởng

cao, nhờ sử dụng những tiềm năng về trí tuệ và cơng nghệ. Các nước phát triển trên

thế giới có tỷ trọng hai ngành này trong GDP rất cao, đối với các ngành này thì tốc

độ tăng trưởng từ 15 – 20% là khơng khó. Sở dĩ, có thể đạt tốc độ tăng trưởng cao

như vậy vì hai ngành này có sử dụng một khối lượng vốn lớn, có thể nói là gần như

khơng hạn chế, chính nhờ có khối lượng vốn đầu tư lớn nên có thể có được lao động

có chất xám cao thơng qua đào tạo, đồng thời cũng có cơng nghệ hiện đại thơng qua

nghiên cứu, chuyển giao công nghệ ... Các yếu tố này sẽ giúp cho sự phát triển được

nhanh chóng. Đồng thời, kết quả tạo ra ở những ngành này có xu hướng chứa nhiều

chất xám, bí quyết cơng nghệ nên có giá trị lớn trong tiêu thụ, trao đổi. Trong khi đó

ngành nơng nghiệp, ngành truyền thống ở các nước kém và đang phát triển lại sử

dụng nhiều lao động, công nghệ lạc hậu... nên tốc độ tăng trưởng chỉ có thể đạt ở

mức 5 – 6%.

Do đó, khi đầu tư phải chú trọng đầu tư cho công nghiệp và dịch vụ chuyển

dịch cơ cấu kinh tế ngành một cách hợp lý thì mới tạo ra một kết quả như mong

muốn.

d. Đầu tư tác động đến cơ cấu lãnh thổ

Đầu tư có thể giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa những vùng lãnh

thổ, đặc biệt là giải quyết về cơ sở vật chất kỹ thuật, đời sống văn hoá xã hội của

người dân. Việc đầu tư giải quyết những mất cân đối về phát triển kinh tế giữa các

vùng thường được thực hiện bằng vốn đầu tư của nhà nước, thơng qua các định

hướng chính sách chung nhằm đưa những vùng kém phát triển thốt khỏi tình trạng

nghèo nàn lạc hậu, phát triển và khai thác tối đa những lợi thế so sánh, những tiềm



7



năng sẵn có để đưa những vùng có tiềm năng phát triển tăng trưởng nhanh hơn và

làm bàn đạp cho các vùng khác cùng phát triển.

Do đó, muốn tăng trưởng phải đầu tư vào những ngành mũi nhọn, với một cơ

cấu lãnh thổ hợp lý, kết hợp với các chính sách hiệu quả về kinh tế nói chung và về

đầu tư nói riêng thì sẽ tạo ra được một tốc độ tăng trưởng như mong muốn.

e. Đầu tư tăng cường khả năng công nghệ của đất nước

Cơng nghệ có thể được thơng qua hai con đường chính là: Thứ nhất là tự bỏ

chi phí để tự nghiên cứu, phát hiện ra công nghệ bằng khả năng của chính mình sau

đó áp dụng vào các hoạt động kinh tế để thu hồi vốn đã bỏ ra nghiên cứu cơng nghệ

và có lãi. Nhưng, để nghiên cứu ra công nghệ cần nhiều vốn đầu tư, lao động chất

xám cao, máy móc hiện đại đồng thời thời gian đầu tư kéo dài và độ mạo hiểm cao

khi nghiên cứu thất bại. Nên việc nghiên cứu thường do các nước phát triển đầu tư

thực hiện.

Thứ hai là mua công nghệ trên thị trường thế giới, bằng cách này sẽ nhanh

chóng giúp cho có được cơng nghệ như mong muốn, nhưng công nghệ này thường

không hiện đại, phải cạnh tranh và cũng khơng đắt lắm. Đây là hình thức thích hợp

với các nước đi sau, tuy nhiên phương pháp này cũng có những rủi ro nhất định khi

mua phải cơng nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường...

Dù theo con đường nào đi nữa thì chỉ có đầu tư mới tăng cường khả năng cơng

nghệ một cách thích hợp và hiệu quả.

f. Trên giác độ các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ

Đầu tư quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển nhanh của mỗi cơ sở. Khi

tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự ra đời bất kỳ cơ sở sản xuất kinh doanh nào

đều phải xây dựng nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng, lắp đặt máy móc... Các hoạt động

này là các hoạt động đầu tư. Sau một thời gian, các máy móc này bị hỏng hoặc hao

mòn. Vì thế, để hoạt động sản xuất được diễn ra liên tục cần phải đầu tư kinh phí để

sửa chữa và bảo hành. Điều đó chứng tỏ đầu tư có ý nghĩa rất quan trọng khơng chỉ

ở tầm vĩ mơ mà còn cả ở tầm vi mô.

1.1.1.3 Môi trường đầu tư

Môi trường đầu tư là tổng thể các yếu tố tự nhiên và xã hội có ảnh hưởng, tác

động đến hoạt động đầu tư.

Môi trường đầu tư bao gồm các yếu tố:

8



- Tình hình chính trị: Khi xem xét tình hình chính trị, các nhà đầu tư thường

đánh giá sự ổn định chính trị như một tiêu chuẩn hàng đầu để đưa ra quyết định đầu

tư. Giữ vững ổn định chính trị có ý nghĩa quyết định đến việc thu hút vốn của các

nhà đầu tư vì nếu chính trị khơng ổn định sẽ dẫn đến sự thay đổi các định hướng,

mục tiêu, thay đổi phương thức để đạt được mục tiêu đó. Kết quả là sự phủ nhận

định hướng, mục tiêu trước đó làm thiệt hại đến lợi ích của các nhà đầu tư và làm

các nhà đầu tư không an tâm khi quyết định đầu tư.

Sự ổn định chính trị là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho một xã hội an toàn,

an ninh quốc phòng được giữ vững. Nó cũng là điều kiện quyết định mức độ bền

vững của một Chính phủ, đồng thời cũng là cơ sở quan trọng cho bộ máy Chính

phủ tập trung cho cơng tác điều hành, quản lý đất nước.

Ngày nay, khi phân tích những rủi ro chính trị, người ta chú ý đến những vấn

đề chi tiết hơn như tham nhũng, quan liêu, tình trạng thiếu trách nhiệm của các cơ

quan Nhà nước, sự bất lực trong hệ thống pháp luật…Chẳng hạn, bây giờ người ta

coi tham nhũng là yếu tố rủi ro của ổn định chính trị. Trên thực tế, tham nhũng đã

gây nên những bất ổn định chính trị - xã hội ở nhiều nước. Nói cách khác, người ta

xem khái niệm ổn định chính trị như là một q trình chứ khơng phải một trạng thái

như trước.

- Các chính sách pháp luật: Sự đồng bộ, nhất quán của các chính sách pháp

luật là rất cần thiết đối với mỗi quốc gia trước khi tiến hành các hoạt động xúc tiến

đầu tư, nhưng để thực hiện được điều này đơi khi là rất khó, cần từng bước được

hồn thiện. Những thay đổi trong các chính sách có tác động khơng nhỏ đến tâm lý

của các nhà đầu tư từ đó có ảnh hưởng đến cầu đầu tư.

Nhà đầu tư trước khi đầu tư thường tìm hiểu rất kỹ các chính sách pháp luật

như: Chính sách sở hữu; chính sách thuế; chính sách về giá và lệ phí; chính sách

quản lý ngoại hối; chính sách quản lý các hoạt động đầu tư; một số chính sách khác

(môi trường, chuyển giao công nghệ, quy định về tiền lương, quy định liên quan

đến cung cấp nhân lực, quy định về thủ tục hải quan, khai báo xuất nhập cảnh, quy

định về khiếu nại, giải quyết tranh chấp…).

- Trình độ phát triển kinh tế xã hội: Đối với các nước có điều kiện khác nhau

thì nước nào có trình độ phát triển kinh tế xã hội càng cao ở đó đầu tư sẽ có điều

kiện đảm bảo cho sự thành cơng cao hơn.

9



Về trình độ phát triển kinh tế xã hội các nhà đầu tư thường quan tâm đến các

mặt sau:

+ Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế

+ Hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo đặc trưng của một nền kinh tế hiện

đại

+ Giá trị đồng tiền ổn định, khả năng tích luỹ nội bộ cao

+ Mức độ và triển vọng xâm nhập của khoa học kỹ thuật công nghệ vào sản

xuất kinh doanh và đời sống kinh tế xã hội

+ Thu nhập của người lao động, mức sống của nhân dân, thị trường phát triển

đồng bộ và có khả năng thanh tốn cao

+ Trình độ dân trí cao, có đội ngũ cán bộ quản lý cũng như cơng nhân kỹ thuật

có trình độ và đủ khả năng đáp ứng yêu cầu của nền sản xuất hiện đại.

+ Một xã hội công bằng văn minh, tự do dân chủ khơng có sự phân biệt đối xử

giữa các thành phần kinh tế khác nhau; biết giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc riêng

nhưng cũng chú ý đến sự hoà nhập và hợp tác quốc tế.

- Điều kiện tự nhiên, những đặc điểm văn hoá xã hội: Những yếu tố này có

những tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư, có thể là tạo

điều kiện thuận lợi hoặc gây khó khăn; những yếu tố này ít có sự thay đổi trong một

thời gian dài nên nhà đầu tư có thể an tâm sau khi tìm hiểu và đưa ra quyết định của

mình.

1.1.2 Vốn và nguồn vốn đầu tư

1.1.2.1 Khái niệm và nội dung của vốn đầu tư

a. Khái niệm

Vốn đầu tư là nguồn lực tích luỹ được của xã hội, của các cơ sở sản xuất kinh

doanh, dịch vụ, tiết kiệm của dân và huy động từ nước ngoài được biểu hiện dưới

các dạng tiền tệ các loại, hàng hố hữu hình, tài ngun, hàng hố vơ hình (cơng

nghệ, nguồn nhân lực), hàng hoá đặc biệt khác. Nhằm tái sản xuất, duy trì, mở rộng

các tài sản cố định, đổi mới và bổ sung cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế, cho

các ngành, cho các địa phương, cho các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ.

Trên giác độ vi mơ: Vốn đầu tư là nguồn lực tự tích luỹ của cơ sở (lợi nhuận

để lại, vốn tích luỹ trước, vốn góp); vốn vay (của các cơ sở sản xuất khác, của dân,

của nước ngoài); vốn tài trợ, viện trợ.

10



b. Nội dung của vốn đầu tư

Đây là các khoản chi phí phát sinh trong q trình đầu tư bao gồm:

- Chi phí để tạo ra các tài sản cố định mới hoặc bảo dưỡng cho hoạt động của

các tài sản cố định sẵn có.

- Chi phí để tạo ra hoặc tăng thêm các tài sản lưu động

- Chi phí chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư.

- Chi phí dự phòng cho các khoản chi phí phát sinh

1.1.2.2 Đặc điểm của vốn đầu tư

- Vốn phải vận động và sinh lợi

Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, vốn đầu tư được khai thác và sử

dụng lãng phí, hiệu quả thấp. Trong nền kinh tế thị trường, người ta không cho phép

một đồng vốn nào được nằm im, bất động, không sinh lời mà mọi đồng vốn đều

được đưa vào đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh. Tính sinh lợi, hiệu quả là đặc

trưng cơ bản của vốn trong nền kinh tế thị trường.

- Vốn bao giờ cũng gắn liền với một chủ sở hữu nhất định

Tính hiệu quả, tính sinh lợi của vốn trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi gắn

liền với q trình quản lý vốn. Muốn quản lý vốn có hiệu quả, trước hết vốn phải

gắn liền với chủ sở hữu nhất định (như Nhà nước, doanh nghiệp, cá nhân). Người

chủ sở hữu bằng kinh nghiệm, khả năng sẵn có sẽ tìm những cách thức để bảo toàn

và phát triển đồng vốn của mình. Dĩ nhiên, người chủ sở hữu vốn có thể khơng

đồng nhất với người sử dụng vốn.

- Vốn phải tích lũy và tập trung để phát huy hiệu quả

Cơ hội đầu tư thì nhiều nhưng khơng phải khi nào bắt gặp cơ hội là ta có thể

đầu tư. Để tiến hành đầu tư, nhà đầu tư trước hết cần phải xác định thời cơ và cơ

hội đầu tư đúng đắn sau đó cần tích lũy, tập trung vốn đến một mức độ nhất định để

đáp ứng đủ nhu cầu. Nếu nhu cầu lớn mà nguồn vốn chưa bảo đảm thì khơng thể

tiến hành đầu tư vì có thể sẽ dẫn đến hiệu quả đầu tư thấp thậm chí đổ vỡ cả công

cuộc đầu tư.

- Khối lượng vốn đầu tư thường lớn, nằm khê đọng trong suốt q trình đầu



Khơng như các hoạt động kinh doanh thông thường, hoạt động đầu tư thường

có tính chất dài hạn, sản phẩm của hoạt động đầu tư có tính cá biệt, đơn chiếc nên

11



mỗi cơng cuộc đầu tư thường đòi hỏi một khối lượng vốn đầu tư lớn, nằm khê đọng

trong suốt quá trình đầu tư. Các kết quả đầu tư, vốn đầu tư chỉ được thu hồi sau một

quá trình từ khâu chuẩn bị đầu tư đến khâu thực hiện đầu tư. Đó là một chu kỳ khép

kín, sau mỗi chu kỳ vốn đầu tư lại tăng lên, lại được bỏ vào tái sản xuất đầu tư phát

triển. Cũng có trường hợp, do chủ đầu tư khơng biết quản lý vốn, có những tính

tốn sai lầm hoặc những lý do khách quan mà vốn đầu tư bị thâm hụt, mất mát nên

vốn đầu tư còn mang cả tính rủi ro.

1.1.2.3 Phân loại nguồn vốn đầu tư

Theo nguồn hình thành, vốn đầu tư bao gồm:

a. Nguồn vốn trong nước

Nguồn vốn trong nước là những nguồn vốn được huy động trong nước bao

gồm: nguồn vốn của ngân sách Nhà nước, nguồn vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước,

nguồn vốn tín dụng của các doanh nghiệp Nhà nước, nguồn vốn từ khu vực tư

nhân...

 Nguồn vốn ngân sách Nhà nước

Đây là nguồn chi của ngân sách Nhà nước cho đầu tư, là một nguồn vốn đầu

tư quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Nguồn

vốn này thường được sử dụng cho các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quốc

phòng, an ninh, hỗ trợ cho các dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần sự

tham gia của Nhà nước, chi cho công tác lập và thực hiện các dự án quy hoạch tổng

thể phát triển kinh tế xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và phát triển

nơng thơn.

 Vốn tín dụng đầu tư phát triển Nhà nước

Cùng với q trình phát triển của đất nước, tín dụng đầu tư của Nhà nước ngày

càng đóng vai trò đáng kể trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Vốn tín dụng

đầu tư phát triển của Nhà nước có tác dụng tích cực trong việc giảm đáng kể sự bao

cấp vốn trực tiếp của Nhà nước. Với cơ chế tín dụng, các đơn vị sử dụng nguồn vốn

này phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay. Chủ đầu tư là người vay vốn phải

tính kỹ hiệu quả đầu tư, sử dụng vốn tiết kiệm hơn. Vốn tín dụng đầu tư phát triển

của Nhà nước là một hình thức quá độ chuyển từ phương thức cấp phát ngân sách

sang phương thức tín dụng đối với các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp.

Bên cạnh đó, vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước còn phục vụ công tác quản lý

và điều tiết kinh tế vĩ mơ. Thơng qua nguồn vốn tín dụng đầu tư, Nhà nước khuyến

12



khích phát triển kinh tế - xã hội của ngành, vùng, lĩnh vực theo định hướng chiến

lược của mình. Đứng ở khía cạnh là cơng cụ điều tiết vĩ mô, nguồn vốn này không

chỉ thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà còn thực hiện cả mục tiêu phát triển

xã hội. Việc phân bổ và sử dụng vốn tín dụng đầu tư còn khuyến khích phát triển

vùng kinh tế khó khăn, giải quyết các vấn đề xã hội như xố đói giảm nghèo. Và

trên hết nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước có tác dụng tích cực

trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng cơng nghiệp hố - hiện đại hố.

 Nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp Nhà nước

Được xác định là thành phần giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, các doanh

nghiệp Nhà nước vẫn nắm giữ một một khối lượng vốn Nhà nước khá lớn. Mặc dù,

vẫn còn một số hạn chế nhưng đánh giá một cách cơng bằng thì khu vực kinh tế

Nhà nước với sự tham gia của các doanh nghiệp Nhà nước vẫn đóng vai trò chủ đạo

trong nền kinh tế nhiều thành phần hiện nay. Lượng vốn mà các doanh nghiệp nắm

giữ để đưa vào đầu tư thường cho hiệu quả cao, góp một phần quan trọng thúc đẩy

kinh tế - xã hội phát triển.

 Nguồn vốn từ khu vực tư nhân

Nguồn vốn từ khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tích

luỹ của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã. Theo nhận định sơ bộ thì khu

vực kinh tế ngồi Nhà nước vẫn sở hữu một lượng vốn tiềm năng rất lớn mà chưa

được huy động triệt để.

Cùng với sự phát triển của đất nước, một bộ phân khơng nhỏ trong dân cư có

tiềm năng kinh tế cao, có một lượng vốn khá lớn do có nguồn thu nhập gia tăng

hoặc do tích luỹ truyền thống. Nhìn tổng quan, nguồn vốn tiềm năng trong dân cư

không phải là nhỏ, lượng vốn này tồn tại dưới dạng vàng, ngoại tệ, tiền mặt....

Nguồn này ước tính xấp xỉ 80% tổng nguồn vốn huy động của toàn bộ hệ thống

ngân hàng. Vốn của dân cư phụ thuộc vào thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình.

Quy mơ của các nguồn tiết kiệm này phụ thuộc vào:

- Trình độ phát triển của đất nước (ở những nước có trình độ phát triển thấp

thường có quy mơ và tỷ lệ tiết kiệm thấp).

- Tập quán tiêu dùng của dân cư.

- Chính sách động viên của Nhà nước thơng qua chính sách thuế thu nhập và

các khoản đóng góp với xã hội.

b. Nguồn vốn nước ngồi

13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bố cục của khóa luận 

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×