Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN 2 – THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

PHẦN 2 – THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Tải bản đầy đủ - 0trang

Khu vực ngoại thành: Co các ông lớn chảy qua là sơng Đà, sơng Hồng,

sơng Đáy, sơng Tích, sơng Bùi và sơng Nhuệ. Trong đó sơng Đà hiện tại và

trong tương lai co khả năng lớn về cấp nước cho Thành phố Hà Nội.

2.4Các nguồn gây ô nhiễm nước mặt

a. Nước thải sinh hoạt khu vực đơ thị

Ước tính tổng lượng nước thải sinh hoạt phát sinh trên toàn địa bàn thành

phố khoảng 900.000 m3/ngày.đêm. Riêng đối với khu vực đô thị (trừ thị xã Sơn

Tây) khoảng 752.000 m3/ngày.đêm. Tổng lượng nước thải xử lý trong năm 2014,

6 tháng đầu năm 2015 trung bình khoảng 173.217 m3/ngày.đêm), đạt 23% tổng

lượng nước thải sinh hoạt khu vực đô thị (trừ thị xã Sơn Tây) của thành phố.

Lượng nước thải còn lại hầu hết chưa được xử lý và xả vào các sơng, mương

thốt nước, ao hồ trên địa bàn thành phố.

b. Nước thải công nghiệp

Tổng lượng nước thải công nghiệp trên địa bàn thành phố khoảng 75.000

m3/ngày.đêm. Tính đến thời điểm hiên nay (06/2015), trên địa bàn thành phố có

8/8 Khu công nghiệp (KCN) (100%) và 8/49 Cụm công nghiệp (CCN) (16%)

đang hoạt động có Trạm xử lý nước thải tập trung (XLNTTT) đã vận hành

(riêng KCN Sài Đồng B, trạm XLNTTT vẫn đang trong giai đoạn vận hành thử

nghiệm).

Để đánh giá chất lượng nước thải tại các khu công nghiệp trên địa bàn

thành phố, trong năm năm vừa qua, Trung tâm quan trắc tài nguyên môi tường

Hà Nội đã tiến hành quan trắc và phân tích chất lượng nước thải tại 9 KCN trên

địa bàn thành phố (gồm KCN Sài Đồng, KCN Bắc Thăng Long, KCN Nam

Thăng Long, KCN Nội Bài, KCN Đài Tư, KCN Quang Minh, KCN Thạch Thất

– Quốc Oai, KCN Phú Nghĩa, và KCN cao Hòa Lạc).

Trong 9 KCN quan trắc co 08 KCN đã xây dựng và đưa vào vận hành hệ

thống XLNT tập trung đó là các KCN: Nam Thăng Long, Bắc Thăng Long,

Quang Minh, KCNC Hòa Lạc, Sài Đồng, Phú Nghĩa, Thạch Thất – Quốc Oai và

Đài Tư. Riêng KCN Nội Bài hiện mới chỉ co hệ thống thu gom, xử lý nước thải

sinh hoạt tập trung, các doanh nghiệp trong KCN phảu tự xử lý nước thải sản

xuất đạt tiêu chuẩn của KCN trước khi thải ra hệ thống thoát nước chung.

Bảng 1: Hiện trạng xử lý nước thải tại các KCN tập trung trên địa bàn thành

phố Hà Nội

14



TT



Tên KCN



Công tác xử lý nước thải



1



KCN Sài Đồng B



Đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải công

suất 3.000 m3/ngày đêm, chưa xây dựng hệ

thống thu gom nước thải của KCN



2



KCN Thạch Thất – Quốc Đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải công

Oai

suất 1.500 m3/ngày đêm



3



KCN Phú Nghĩa



Đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải công

suất 3.000 m3/ngày đêm



4



KCN Thăng Long



Đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải công

suất 3.000 m3/ngày đêm



5



KCN Nam Thăng Long



Đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải công

suất 800 m3/ngày đêm



6



KCN Quang Minh



Đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải công

suất 1.800 m3/ngày đêm



7



KCN Hà Nội – Đài Tư



Đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải công

suất 1.500 m3/ngày đêm



8



KCN Nội Bài



Đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải công

suất 2.500 m3/ngày đêm. Nước thải sản xuất

của các đơn vị phải tự xử lý trước khi xả ra

hệ thống thoát nước chung của khu công

nghiệp



(Nguồn: Báo cacos Công tác xử lý rác thải, nước thải và vệ sinh môi

trường trên địa bàn thành phố của Sở Tài nguyên và Môi trường tại Hội nghị

giao ban Lãnh đạo Thành phố với Lãnh đạo các quận, huyện, thị xã, các sở, ban

ngành của Thành phố quý II/2014)

c. Nước thải y tế

Lượng nước thải tại các cơ sở y tế trên địa bàn thành phố khoảng 7.343

m3/ngày đêm. Hiện 18/22 bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế và 7/14 bệnh viện trực

thuộc các bộ, ngành đã đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải và 4/18 bệnh

viện đang xây dựng hệ thống XLNT; có 37/41 bệnh viện do Sở Y tế được phê

15



duyệt Dự án đầu tư và xây dựng hệ thống XLNT; 4/41 bệnh viện đang co dự án

đầu tư xây dựng hệ thống XLNT; 22/29 bệnh viện tư nhân ngồi cơng lập có hệ

thống XLNT và đảm bảo đủ tiêu chuẩn về xử lý chất thải lỏng y tế, 52 phòng

khám Đa khoa và 04 nhà hộ sinh thuocj các Trung tâm Y tế quận/huyện/thị xã có

hệ thống XLNT theo cơng nghệ HA-18B (D) của Nhật Bản. Các phòng khám và

cơ sở dịch vụ y tế tư nhân sử dụng phương pháp bể chứa ngâm hóa chất khử

trung (Cloramin B) trước khi thải ra môi trường.

(Nguồn: Sở Y tế Hà Nội, Văn bản số 1206/SYT-NVY) ngày 16/03/2015 về việc

cung cấp số liệu phục vụ tổng hợp số liệu thống kê trên địa bành thành phố Hà

Nội).

d. Nước thải của các khách sạn và trung tâm thương mại – du lịch

Hà Nội hiện có khoảng trên 200 khách sạn 3-5 sao, tạo ra lượng nước

khoảng 9.000 m3/ngày. Các khách sạn lớn đều co cơng trình xử lý nước thải, ước

tính khoảng 6.000 m3/ngày.

Theo số liệu của Sở Công Thương đến tháng 12/2013, trên đại bàn Hà Nội

co 411 chợ, bình quân 1 quận, huyện, thị xã co 14 chợ, mỗi chợ phục vụ khoảng

15.165 người. Tổng lượng nước thải thương mại, du lịch ước khoảng 123.000

m3/ngđ.

e. Nước thải làng nghề và chăn nuôi

Nước thải của làng nghề khoảng 156.000 m 3/ngđ. Lượng nước thải từ

chăn nuôi, giết mổ gia súc, gia cầm, ướng khoảng 70.000 m3/ngđ.



PHẦN 3 – ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHẰM GIẢM THIỂU PHÁT

THẢI TRONG NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP VÀ NƯỚC THẢI SINH HOẠT

2.5Hiện trạng hoạt động quản lý nước thải ở Việt Nam

Từ năm 1998, Chính phủ Việt Nam đã ban hành và áp dụng nhiều chính

sách cũng như đầu tư cải thiện vệ sinh đô thị, khiến lĩnh vực thu gom và xử lý

nước thải phát triển mạnh mẽ. Các kết quả chính đạt được là:

- Hoạt động cung cấp dịch vụ thoát nước và xử lý nước thải cho người

nghèo đô thị được cải thiện đáng kể, khơng còn tình trạng đi vệ sinh bừa bãi;

- 94% người dân sử dụng nhà vệ sinh, trong đó 90% số hộ gia đình sử

16



dụng bể tự hoại làm cơng trình xử lý tại chỗ;

- 60% hộ gia đình đấu nối vào hệ thống thốt nước công cộng, thường là

hệ thống cống chung;

- Đến năm 2012, 17 hệ thống thoát nước và xử lý nước thải đô thị đã được

xây dựng ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, 5 hệ thống khác xây

dựng ở các đô thị cấp tỉnh với tổng công suất là 530.000 m3/ngày;

- Hiện nay khoảng 32 hệ thống thoát nước và xử lý nước thải đang trong

quá trình thiết kế/ thi cơng, vẫn chủ yếu là hệ thống thoát nước chung;

- Trong thập niên vừa qua, đầu tư hàng năm vào lĩnh vực vệ sinh đô thị

đạt 150 triệu Đô la Mỹ, chiếm 0,45% GDP hàng năm; với tổng mức đầu tư cho

thoát nước và xử lý nước thải giai đoạn 1995 – 2009 là 2,1 tỷ Đô la Mỹ.

Mặc dù đạt được những kết quả đáng khích lệ như vậy, lĩnh vực vệ sinh

mơi trường đơ thị tiếp tục phải đối mặt với những vấn đề quan trọng cần nhanh

chóng giải quyết như:

- Mặc dù 60% hộ gia đình đấu nối vào hệ thống thốt nước công cộng,

hầu hết nước thải được xả thẳng ra hệ thống tiêu thốt nước bề mặt, chỉ có 10%

lượng nước thải được xử lý.

- Trong khi 90% hộ gia đình xả nước thải vào bể tự hoại, chỉ 4% lượng

phân bùn được xử lý. Công tác quản lý phân bùn ở hầu hết các thành phố còn

yếu kém.

- Vốn đầu tư vào lĩnh vực thu gom và xử lý nước thải tới nay hầu hết đều

dành để xây dựng công trình xử lý, tuy nhiên khơng phải lúc nào cũng có mạng

lưới thu gom phù hợp.

- Việt Nam đang thu phí thốt nước ở mức 10% giá nước sạch, khả năng

thu hồi chi phí đầu tư xây dựng và chi phí vận hành và bảo dưỡng nói chung còn

thấp.

- Các sắp xếp thể chế chưa khuyến khích hiệu quả vận hành hệ thống, các

đơn vị chịu trách nhiệm thoát nước và xử lý nước thải có quyền tự chủ rất hạn

chế trong hoạt động quản lý vận hành và phát triển hệ thống.

- Nhu cầu vốn rất cao, dự kiến cần tới 8,3 tỷ Đô la Mỹ để cung cấp dịch

vụ thốt nước cho khoảng 36 triệu dân đơ thị vào năm 2025. Việt Nam phải phấn

17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN 2 – THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×