Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN 1 – QUẢN LÝ, XỬ LÝ NƯỚC THẢI SINH HOẠT VÀ NƯƠC THẢI ĐÔ THỊ TẠI VIỆT NAM

PHẦN 1 – QUẢN LÝ, XỬ LÝ NƯỚC THẢI SINH HOẠT VÀ NƯƠC THẢI ĐÔ THỊ TẠI VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 0trang

ĐÔ THỊ TẠI VIỆT NAM 

Việt Nam đang đối mặt với tình trạng ơ nhiễm mơi trường ngày càng tăng

do tốc độ đơ thị hóa nhanh chóng, đặc biệt là ở các thành phố lớn. Trong 20

năm qua, Chính phủ Việt Nam đã xây dựng nhiều chính sách, ban hành nhiều

văn bản pháp quy về vệ sinh môi trường đô thị cũng như đầu tư vào lĩnh vực

này, trong đó có việc đầu tư xây dựng các hệ thống thoát nước và xử lý nước

thải.

Hiện nay, Việt Nam đang triển khai xây dựng các nhà máy và các trạm xử

lý nước thải sinh hoạt đô thị. Đến cuối năm 2014, đã có 32 thành phố có dự án

thốt nước và vệ sinh với tỷ lệ số hộ đấu nối vào hệ thống thốt nước là hơn

90%.Khoảng 25% lượng nước thải đơ thị được xử lý bởi 27 nhà máy xử lý nước

thải tập trung (NM XLNTTT),với công suấtkhoảng 770.000 m 3/ngđ trong tổng

số phát sinh 3.080.000 m3/ngđ. Hơn nữa, có khoảng 20 NM XLNT đang xây

dựng với công suất gần 1.4 triệu m3/ngđ. Do đó, đến cuối năm 2020, nâng tổng

cơng suất XLNT dự kiến lên khoảng 2,1 triệu m3/ngđ. Bên cạnh việc xây dựng

các nhà máy XLNT đô thị, trạm XLNT cho các khu đô thị mới cũng được đầu tư

xây dựng. Tuy nhiên, các thành phố lớn như Hà Nộimới chỉ có khoảng một nửa

số khu đơ thị mới có trạm XLNT tập trung, các khu đơ thị còn lại chưa có trạm

XLNT, gây ơ nhiễm mơi trường nghiêm trọng. Về tình hình quản lý, vận hành

bảo dưỡng các nhà máy/trạm XLNT, sau khi xây dựng và đưa vào vận hành,

mặc dầu chủ đầu tư các nhà máy XLNT sinh hoạt đô thị đều thực hiện việc đào

tạo chuyển giao công nghệ và vận hành một cách nghiêm chỉnh, bài bản, khá

nghiêm túc, nhưng thực tế vẫn còn những tồn tại cần khắc phục.Bài báo đề xuất

và khuyến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các nhà

máy/trạm XLNTTT, góp phần bảo vệ mơi trường.

2.1Tình hình xây dựng, phát triển các nhà máy/trạm xử lý nước thải đơ

thị, khu dân cư

1.1.1. Thốt nước và vệ sinh đơ thị

Hệ thống thốt nước (HTTN) đơ thị chủ yếu là HTTN chung.

- Tới nay đã có 32 thành phố có dự án thốt nước và vệ sinh từ nguồn vốn

ODA với tỷ lệ số hộ đấu nối hơn 90%.

- Tại các đô thị, 40 – 70% dân số đô thị được phục vụ bởi HTTN công

cộng

- Phần lớn số hộ đô thị (80%) sử dụng bể tự hoại.

- Theo thống kê của tác giả, đến cuối năm 2014, khoảng 25% lượng nước

thải đô thị được xử lý tập trung với 27 nhà máy xử lý nước thải tập trung (NM

5



XLNTTT),công suấtkhoảng 770.000 m3/ngđ trong tổng số phát sinh 3.080.000

m3/ngđ.

- Công nghệ XLNT khá đa dạng như công nghệ A2O, AO có khử N, SBR,

CAS, chuỗi hồ sinh học, kênh ơxi hóa, lọc sinh học…

Hiện nay có khoảng 20 NM XLNT đang xây dựng với tổng công suất gần

1.4 triệu m3/ngđ. Do đó, đến cuối năm 2020, nâng tổng công suất XLNT dự kiến

lên khoảng 2,1 triệu m3 /ngđ.

Điều này cho thấy, các hoạt động thực tế xây dựng các hệ thống XLNTTT

ở đô thị đang theo hướng tích cực.

Trong hai thập kỷ qua, tại các thành phố, đô thị lớn loại đặc biệt và loại I

đã xuất hiện nhiều khu đơ thị với các tòa nhà cao tầng, các tòa nhà khách sạn,

thương

mại.

Tại Hà Nội, ngày 02/01/2012, Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt quy

hoạch phân khu.

Hiện nay, trên địa bàn TP Hà Nội có khoảng 150-160 khu đô thị mới

(KĐTM) dân số khoảng 2 triệu người. Tuy nhiên, theo Sở Xây dựng Hà Nội,

khoảng một nửa khu đơ thị có xây dựng trạm XLNT tập trung, còn lại một nửa

chưa có trạm XLNT, gây ơ nhiễm môi trường nghiêm trọng. Báo cáo giám sát

của HĐND TP Hà Nội về tình hình đầu tư các dự án KĐTM năm 2014 cho thấy:

Trong quá trình thẩm định, phê duyệt quy hoạch dự án đầu tư, các chủ đầu tư

đều thiết kế trạm XLNT, song thực tế, số dự án đưa vào vận hành trạm XLNT

rất ít .

Theo quy hoạch đến năm 2030, TP Hà Nội sẽ đầu tư xây dựng 39

NMXLNT cho KĐT trung tâm và 5 đơ thị vệ tinh. Nhưng hiện mới có 5NM với

cơng suất thiết kế 263.200m3/ngđ đang vận hành; 3NM đang chuẩn bị đầu tư,

xây dựng với công suất 368.500 m3/ngđ.

– Nước thải đầu vào của các nhà máy XLNT với HTTN riêng hồn tồn

có nồng độ thuộc loại trung bình như đối với nhà máy XLNT Đà Lạt và Buôn

Ma Thuột (BOD: 340 – 380 mg/l; COD: 560-600 mg/l; T-N: 90-95 mg/l). Ngay

cả nước thải của nhà máy XLNT Bình Dương với HTTN riêng, nhưng mới đưa

vào hoạt động cũng thuộc loại có nồng đơ thấp (BOD: 27-75 mg/l; COD: 76-161

mg/l; NH4+-N: 13-26,4 mg/l).

– Nước thải của 24 nhà máy XLNT còn lại với HTTN chung đang hoạt

động đều thuộc loại có nồng độ thấp (SS, BOD: 30-135 mg/l; COD: 60-230

mg/l; T-N: 11-40 mg/l).

6



1.1.2. Công nghệ xử lý nước thải sinh hoạt đô thị tại Việt Nam

a. Công nghệ XLNT sinh hoạt đô thị tập trung đã áp dụng quy mô lớn

* Công nghệ hồ sinh học tại NMXLNTTT

- Hồ sinh học kỵ khí tạiSơn Trà, Phú Lộc, Hòa Cường, Ngũ Hành Sơn TP

Đà Nẵng,

- Hồ sinh học hiếu khí và triệt để tại Tháp Chàm-TP Phan Rang

- Hồ sinh học kỵ khí, tùy tiện và ổn định hiếu khí Bn Ma Thuột,

- Hồ sinh học hiếu khí và triệt để tại Bình Hưng Hòa TP HCM

- Hồ sinh học hiếu khí cưỡng bức, tùy tiện, triệt để và trồng cây tại Đồng

Hới, Ninh Bình, Thanh Hóa.



Hình 1: Sơ đồ quy trình cơng nghệ xử lý nước thải Đức Ninh TP Đồng Hới

* Kênh Oxy hóa tuần hồn (OD) tại Phú Tài-TP Quy Nhơn, TP Vũng Tàu, TP Nha

Trang, TP Bắc Giang



7



Hình 2 : Sơ đồ cơng nghệ xử lý nước thải với kênh oxy hóa tuần hồn

* Bể Aeroten với bùn hoạt tính truyền thống tại NMXLNTTT Hồ Bảy Mãy,

TP Hà Nội, Bình Hưng –TP HCM

* Bể lọc sinh học nhỏ giọt tại tại NMXLNTTT Đà Lạt, Hà Thanh TP Quy

Nhơn



Hình 3 : Sơ đồ bể lọc sinh học nhỏ giọt xử lý nước thải

* Bể Aeroten theo công nghệ AO tại NMXLNTTT Bắc Thăng Long



Hình 4: Sơ đồ cơng nghệ AO xử lý nước thải

8



* Bể Aeroten theo công nghệ AAO tại NMXLNTTT Trúc Bạch, Kim

Liên –TP Hà Nội, Châu Đốc-An Giang



Hình 5: Sơ đồ cơng nghệ AO xử lý nước thải



* Bể Aeroten hoạt động theo mẻ-SBR tại NMXLNTTT Yên Sở -TP Hà

Nội, TP Bình Dương, các nhà máy XLNT ở Bãi Cháy, Hòa Khánh TP

Hạ Long



Hình 6. Sơ đồ công nghệ SBR xử lý nước thải



b. Công nghệ XLNT sinh hoạt đô thị tập trung đã áp dụng quy mô nhỏ

Viện Khoa học và Kỹ Thuật Môi trường Đại học Xây dựng, một số Trung

tâm thuộc Bộ Xây dung, Trung tâm Công nghệ môi trường, Tổng Cục Mơi

trường, v.v. đã nghiên cứu áp dụngmơ hình xử lý nước thải sinh hoạt bằng cơng

nghệ kỵ khí kết hợp với xử lý bậc 3 bằng hệ thống bãi lọc ngầm nhân tạo, với

tiêu chí dễ vận hành, chi phí vận hành thấp, vừa xử lý nước thải vừa khôi phục

cảnh quan môi trường, kết hợp làm công viên sinh thái, dễ áp dụng trong điều

9



kiện Việt Nam. Các hình ảnh được minh họa tại xã Chiềng Châu, huyện Mai

Châu-Hòa Bình, Thị trấn Me, huyện n Mơ Ninh Bình, phường Bách Quang,

thị xã Sông Công ,thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt thí điểm cho cụm dân cư

tổ dân phố Phú Hà và tổ dân phố Phú Thứ, phường Tây Mỗ, quận Nam Từ

Liêm, Hà Nội. Công nghệ XLNT tòa nhà Quốc Hội. Ở Việt Nam đã áp dụng

cơng nghệ XLNT bằng đệm chuyển động MBBR (Moving Bed Biofilm

Reactor).

Ưu điểm:

- Tiết kiệm chi phí, Vận hành linh hoạt và đơn giản, Hiệu quả xử lý

nhanh;

- Công nghệ linh hoạt;

- Lâu bền và ổn định;

- Nâng cấp đơn giản;

- Xử lý đến 98% BOD và Nitrogen;

- Thân thiện với môi trường.



Đối với các trạm XLNT của các tòa nhà cao tầng, thương mại, dịch

vụ hay khu đô thị, các chủ đầu tư cũng áp dụng công nghệ sinh học khá đa dạng.

2.2Tình hình quản lý, vận hành các nhà máy/trạm xử lý nước thải sinh

hoạt đô thị tại Việt Nam

10



1.1.3. Tuân thủ các quy định của tiêu chuẩn, quy chuẩn Việt Nam

TCVN 7222:2002 hay QCVN 14:2008/BTNMT

Bảng 1: Các thông số chính của nước thải sau Xử lý:



1.1.4. Đối với các nhà máy XLNT đô thị quy mô lớn

Cơ cấu tổ chức quản lý thuộc các Công ty TNHH MTV của các tỉnh như

tại Bắc Ninh, Bắc Giang, Quảng Ninh, Bình Dương, Đà Lạt, Bn Ma Thuột,

TP Đà Nẵng, Quảng Bình, TP Hồ Chí Minh,…Ngồi ra, theo cơ chế đấu thầu

quản lý, tai các NMXLNT TP Hà Nội có các cơng ty cổ phần và tư nhân như

công ty Phú Điền.

Như đã đề cập, đội ngũ cán bộ nhân viên vận hành trong các nhà máy

XLNT đô thị ban đầu đều được đào tạo bài bản và vận hành tương đối có hiệu

quả.

Tuy nhiên, có tình trạng là xây dựng nhà máy XLNT rồi, như nhà máy

XLNT KĐT Bắc Thăng Long, nhưng chưa xây dựng mạng lưới thốt nước nên

khơng có nước thải để nhà máy XLNT hoạt động hết công suất thiết kế, xây

dựng.

11



Ngồi ra cá biệt cũng có tình trạng thiếu bền vững hoặc không thực hiện

như thiết kế, hay xây dựng ban đầu. Chẳng hạn, một nhà máy XLNT công suất

ban đầu 3.500 m3/ngđ, hoạt động từ năm 2007, đến nay đã được 9 năm và đã quá

tải, công suất đạt tới 5.500 m3/ngđ. Đa số cán bộ nhân viên được đào tạo ban

đầu, nay đã chuyển làm nghề khác, nhà máy bỏ công đoạn xử lý phân bùn bể

phơt. Lượng bùn tạo ra rất ít, khâu xử lý bùn dường như khơng hoạt động. Sân

phơi bùn hồn tồn để khơng. Về thiết kế, quy hoạch nhà máy XLNT, cán bộ

phụ trách cho rằng,quy hoạch chưa hợp lý. Nếu bố trí sân phơi bùn phía trong,

tại vị trí khu nhà điều hành thì sẽ tránh được sự lan toả mùi, dân xung quanh sẽ

không kêu ca, khiếu nại. Nhưng mặt khác, người cấp phép cho dân lại cấp vào

khu quy hoạch của nhà máy XLNT, để cuối cùng dân lại kêu ca, phàn nàn về

vấn đề mùi.

Một nhà máy XLNT khác có cơng suất 7.000 m3/ngđ lại gặp phải tình

trạng khác. Tại đây, bể lắng cát bị thay đổi công nghệ xả cát, bằng cách xây bao

bờ ngăn dưới mặt đất (Hình 8a), mà khơng xả cát theo công nghệ đã thiết kế.

Chu kỳ xả cát kéo dài, có khi tới 5-7 ngày mới xả một lần. Do đó cát lẫn nhiều

cặn hữu cơ. Bùn tạo ra từ bể SBR lại hút và xả lên vỉa cạnh tường bao.



1.1.5. Đối với các trạm XLNT các tòa nhà cao tầng, khách sạn, dịch vụ

và chung cư

Đối với các trạm XLNT của các tòa nhà cao tầng, thương mại, dịch vụ

hay khu đô thị, việc quản lý, vận hành do chủ dự án tổ chức thực hiện. Đối với

các khu dân cư tại Ninh Bình, TX sơng Cơng, phường Tây Mỗ, Hà Nội do

UBND xã, Phường tổ chức vận hành quản lý.

Tại Hà Nội, khoảng một nửa số khu đô thị mới(KĐTM) có trạm

XLNT.Các trạm XLNT của các đối tượng này thuộc loại công suất nhỏ, chỉ tới

1000 m3/ngđ, một ssos có cơng suất lớn như KĐTM Time City Hà nội 3000

m3/ngđ.Tuy nhiên vấn đề vận hành và bảo dưỡng chưa được các chủ dự án coi

trọng đúng mức. Chẳng hạn như định kỳ xả bùn chưa được tuân thủ theo hướng

dẫn.

12



Đây mới chỉ là định tính. Cần có số liệu định lượng, đánh giá tình hình

vận hành và bảo dưỡng các trạm XLNT loại này một cách hệ thống. Bằng chứng

là trạm XLNT của các bệnh viện Việt Đức, bệnh viện K tại Hà Nội. Mới đây báo

đài Trung ương và Hà Nội đã đưa tin, trạm XLNT bệnh viện Việt Đức đưa vào

vận hành từ 2007, của bệnh viện K đưa vào vận hành từ năm 2009 nhưng nay đã

không hoạt động, Nguyên nhân chủ yếu là do việc bảo dường thường kỳ chưa

được thực hiện.



PHẦN 2 – THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.3Tài nguyên nước mặt

Về trữ lượng nước mặt, thành phố Hà Nội được chia làm hai khu vực:

Khu vực nội thành: Trữ lượng nước mưa 1,34 tỷ m 3; nước mặt: Sơng

Hồng co lưu lượng trung bình quan sát nhiều năm là 2.650 m 3/s; các sông khác

co tổng lượng khoảng 70 m3/s.

13



Khu vực ngoại thành: Co các ông lớn chảy qua là sơng Đà, sơng Hồng,

sơng Đáy, sơng Tích, sơng Bùi và sơng Nhuệ. Trong đó sơng Đà hiện tại và

trong tương lai co khả năng lớn về cấp nước cho Thành phố Hà Nội.

2.4Các nguồn gây ô nhiễm nước mặt

a. Nước thải sinh hoạt khu vực đơ thị

Ước tính tổng lượng nước thải sinh hoạt phát sinh trên toàn địa bàn thành

phố khoảng 900.000 m3/ngày.đêm. Riêng đối với khu vực đô thị (trừ thị xã Sơn

Tây) khoảng 752.000 m3/ngày.đêm. Tổng lượng nước thải xử lý trong năm 2014,

6 tháng đầu năm 2015 trung bình khoảng 173.217 m3/ngày.đêm), đạt 23% tổng

lượng nước thải sinh hoạt khu vực đô thị (trừ thị xã Sơn Tây) của thành phố.

Lượng nước thải còn lại hầu hết chưa được xử lý và xả vào các sơng, mương

thốt nước, ao hồ trên địa bàn thành phố.

b. Nước thải công nghiệp

Tổng lượng nước thải công nghiệp trên địa bàn thành phố khoảng 75.000

m3/ngày.đêm. Tính đến thời điểm hiên nay (06/2015), trên địa bàn thành phố có

8/8 Khu công nghiệp (KCN) (100%) và 8/49 Cụm công nghiệp (CCN) (16%)

đang hoạt động có Trạm xử lý nước thải tập trung (XLNTTT) đã vận hành

(riêng KCN Sài Đồng B, trạm XLNTTT vẫn đang trong giai đoạn vận hành thử

nghiệm).

Để đánh giá chất lượng nước thải tại các khu công nghiệp trên địa bàn

thành phố, trong năm năm vừa qua, Trung tâm quan trắc tài nguyên môi tường

Hà Nội đã tiến hành quan trắc và phân tích chất lượng nước thải tại 9 KCN trên

địa bàn thành phố (gồm KCN Sài Đồng, KCN Bắc Thăng Long, KCN Nam

Thăng Long, KCN Nội Bài, KCN Đài Tư, KCN Quang Minh, KCN Thạch Thất

– Quốc Oai, KCN Phú Nghĩa, và KCN cao Hòa Lạc).

Trong 9 KCN quan trắc co 08 KCN đã xây dựng và đưa vào vận hành hệ

thống XLNT tập trung đó là các KCN: Nam Thăng Long, Bắc Thăng Long,

Quang Minh, KCNC Hòa Lạc, Sài Đồng, Phú Nghĩa, Thạch Thất – Quốc Oai và

Đài Tư. Riêng KCN Nội Bài hiện mới chỉ co hệ thống thu gom, xử lý nước thải

sinh hoạt tập trung, các doanh nghiệp trong KCN phảu tự xử lý nước thải sản

xuất đạt tiêu chuẩn của KCN trước khi thải ra hệ thống thoát nước chung.

Bảng 1: Hiện trạng xử lý nước thải tại các KCN tập trung trên địa bàn thành

phố Hà Nội

14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN 1 – QUẢN LÝ, XỬ LÝ NƯỚC THẢI SINH HOẠT VÀ NƯƠC THẢI ĐÔ THỊ TẠI VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×