Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi mới bước đầu khảo sát khả năng thủy phân của protease tinh sạch trên một số cơ chất khác nhau. Để so sánh, đánh giá một cách chính xác hoạt độ của protease trên từng cơ chất cần có thời gian tối ưu các điều kiệ...

Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi mới bước đầu khảo sát khả năng thủy phân của protease tinh sạch trên một số cơ chất khác nhau. Để so sánh, đánh giá một cách chính xác hoạt độ của protease trên từng cơ chất cần có thời gian tối ưu các điều kiệ...

Tải bản đầy đủ - 0trang

Khóa luận tốt nghiệp



Viện Đại học Mở Hà Nội



Kết quả hình 3.10 cho thấy protease của lá Xn Hoa có độ bền nhiệt

cao ở dải nhiệt độ 30-80°C, hoạt tính protease khá ổn định hầu như không

giảm đáng kể so với dịch enzyme ban đầu. Khi ủ dịch enzyme ở 90°C trong

10 phút protease gần như bị biến tính hồn tồn, hoạt tính protease giảm

mạnh chỉ còn khoảng 5% so với hoạt tính enzyme khơng xử lý nhiệt độ.

Enzyme này có thể thích hợp cho những ứng dụng trong việc sản xuất quy mô

lớn trong công nghiệp và Y học.

3.5.2. Độ bền với pH

pH môi trường phản ứng là một yếu tố ảnh hưởng lớn tới độ bền của

enzyme. Chúng tơi đánh giá tính bền của protease này trong khoảng từ pH 212. Ở vùng pH acid 2-3, protease mất hoạt tính hồn tồn. Khi ủ protease ở

pH 4-5 hoạt tính protease vẫn còn khoảng 55-60%. Protease bền ở vùng pH 711, protease tinh sạch từ lá Xuân Hoa P. palatiferum có độ bền cao trong mơi

trường pH kiềm, ( hình 3.11).



Hình 3.11. Độ bền với pH của protease



Hồng Thị Trang



38



Lớp 13 - 01 K20



Khóa luận tốt nghiệp



Viện Đại học Mở Hà Nội



3.5.3. Ảnh hưởng của các ion kim loại lên hoạt tính protease

Bảng 3.5. Ảnh hƣởng của các ion kim loại lên hoạt tính của P. palatiferum

protease



Các ion kim loại



Nồng độ



Control



% Hoạt tính còn lại

100



Ca²⁺



5mM



91



Mg²⁺



5mM



89



K⁺



5mM



100



Na⁺



5mM



100



Cu²⁺



5mM



56.5



Pb²⁺



5mM



68



Zn²⁺



5mM



14.7



Kết quả bảng 3.5 cho thấy các kim loại nhẹ như K⁺, Ca²⁺, Na⁺, Mg²⁺

không ảnh hưởng đến hoạt tính của protease từ cây Xuân Hoa P. palatiferum.

Các ion kim loại nặng như Cu²⁺, Pb²⁺ với nồng độ 5mM làm giảm khoảng

một nửa hoạt tính của enzyme. Riêng Zn²⁺ ảnh ảnh hưởng giảm mạnh hoạt

tính của protease này.

3.6. Đánh giá tác dụng làm lành vết thƣơng trên tế bào nguyên sợi da ngƣời



Hoàng Thị Trang



39



Lớp 13 - 01 K20



Khóa luận tốt nghiệp



Viện Đại học Mở Hà Nội



Đối chứng 0h



Đối chứng 24h



24h điều trị với protease (100µg/ml)



24h điều trị với protease (50µg/ml)



Hình 3.12. Hình ảnh trên kính hiển vi sự hàn gắn vết rạch trên nguyên

bào sợi của protease

Khoảng cách vết rạch trên nguyên bào sợi được xác định tại các thời

điểm 0, 4, 8, 12, 24, 48 giờ sau khi tra mẫu protease tại các nồng độ 0, 50, 100

µg/mL. Kết quả chụp kính hiển vi cho thấy sự xâm lấn, tăng sinh của nguyên

bào sợi vào trung tâm vết rạch, khoảng cách vết rạch thu hẹp dần. Tại thời

điểm 24 giờ sau tra thuốc, vết rạch thu hẹp đáng kể (hình 3.12; 3.13). Mức độ

hàn gắn vết rạch được xác định theo tỷ lệ phần trăm khoảng cách trung bình ở

thời điểm quan sát sau so với thời điểm quan sát ban đầu (thời điểm 0 giờ sau

tra thuốc). Tại thời điểm 4, 8, 12 giờ sau khi tra protease khơng có sự khác

biệt đáng kể về khoảng cách vết rạch so với đối chứng. Tại thời điểm 24 giờ,

Hoàng Thị Trang



40



Lớp 13 - 01 K20



Khóa luận tốt nghiệp



Viện Đại học Mở Hà Nội



các giếng tra thuốc protease tại nồng độ 50 và 100 μg/mL và có sự thu hẹp vết

rạch có ý nghĩa so với đối chứng không tra thuốc tại cùng thời điểm quan sát

(p < 0.05). Protease đã bước đầu thể hiện hiệu quả trong hàn gắn vết thương.



Hình 3.13. Mức độ hàn gắn vết rạch của protease trên nguyên bào sợi

 (sự khác nhau có ý nghĩa so với nhóm đối chứng, p<0.05 )



Hồng Thị Trang



41



Lớp 13 - 01 K20



Khóa luận tốt nghiệp



Viện Đại học Mở Hà Nội



PHẦN IV- KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ



1.



Kết luận

- Đã tinh sạch được protease từ cây thuốc Xuân Hoa P.

palatiferum (Ness) Radlk có hoạt độ riêng (2.55U/mg protein),

số lần tinh sạch là 11,97 lần, trọng lượng phân tử khoảng 85

kDa.

- PMSF (phenylmethylsulfonyl fluoride) ức chế đặc hiệu lên hoạt

tính protease tinh sạch, protease này thuộc nhóm serine protease.

- Protease tinh sạch bền với nhiệt độ, vùng pH kiềm và các ion

kim loại nhẹ.

- Protease tinh sạch có khả năng thủy phân casein, BSA (albumin

huyết thanh bò), gelatin và fibrinogen.

- Protease tinh sạch với nồng độ 50-100µg/ml có khả năng hàn gắn

vết thương trên tế bào nguyên sợi da người.



2.



Kiến nghị

- Cần tiếp tục đánh giá toàn diện khả năng thủy phân của

protease này trên các cơ chất khác nhau.

- Cần tiếp tục nghiên cứu các tác dụng hàn gắn vết thương của

protease này trên in vivo.



Hoàng Thị Trang



42



Lớp 13 - 01 K20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi mới bước đầu khảo sát khả năng thủy phân của protease tinh sạch trên một số cơ chất khác nhau. Để so sánh, đánh giá một cách chính xác hoạt độ của protease trên từng cơ chất cần có thời gian tối ưu các điều kiệ...

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×