Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN I - TỔNG QUAN TÀI LIỆU

PHẦN I - TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Khóa luận tốt nghiệp



Viện Đại học Mở Hà Nội



1.2. Những nghiên cứu về cây Xuân Hoa P. palatiferum

1.2.1. Kinh nghiệm dân gian sử dụng lá cây Xuân Hoa

Năm 2005, bác sĩ Xuân Lục đã đưa ra một số bài thuốc từ kinh

nghiệm dân gian đã sử dụng lá cây Xuân Hoa (Xuân Lục, 2005):

 Chữa bệnh về đường tiêu hóa (đi lỏng, rối loạn tiêu hóa, táo bón,

đau bụng khơng rõ nguyên nhân): ăn từ 7-9 lá, khoảng 2-3 lần/ngày cho đến

khi khỏi, có thể nấu canh nhạt để ăn.

 Bệnh kèm theo chảy máu (chảy máu dạ dày, đường ruột, đái ra máu,

phân ra máu kể cả đái buốt, đái rắt…): ăn lá khi đói hoặc sắc nước lá đặc để

uống, có thể nấu canh độ một bát nhỏ. Ăn 1-5 lần, máu sẽ cầm, nên ăn ngày 2

lần.

 Các bệnh ung thư thời kì phát bệnh: ăn lá xong, cơn đau giảm dần,

người tỉnh táo, ăn ngủ tốt, có cảm giác như khỏi bệnh. Thử nghiệm qua một số

bệnh ung thư dạ dày, gan, phổi… đều thấy có diễn biến tốt. Lượng lá dùng

thường xuyên theo mức độ đau, thông thường ngày 2 lần, mỗi lần 3-7 lá, tùy

theo hiệu quả giảm đau.

 Các bệnh u ở phổi, tiền liệt tuyến: liều dùng như trên, sau 1 tuần các

triệu chứng giảm hẳn, bệnh nhân ăn ngủ tốt. Riêng u xơ tiền liệt tuyến, ăn vào

cuối tháng, khoảng 3 tháng liên tục.

 Các bệnh về gan (xơ gan cổ trướng, viêm gan…): ăn lá tươi như trên

ngày 2 lần khi đói. Bột lá khơ cùng với bột Tam thất theo tỉ lệ 1:1 là thuốc trị

xơ gan đặc hiệu.

 Bệnh về thận (viêm thận cấp hoặc mãn, suy thận, các hiện tượng

nước đái đục, đái ra máu): điều trị như trên sau 1 tuần. Ăn 1 lần/ngày, nhưng

nếu nước giải chỉ trong được nửa ngày thì tăng lên 2 lần/ngày. Trong thời

gian nửa tháng, các triệu chứng bệnh giảm rõ rệt.

 Chữa viêm loét (loét dạ dày, hành tá tràng, đại tràng, trĩ nội ngoại,

trực tràng…): ăn lá tươi khi đói (tốt nhất là vào buổi sáng). Với các vết



Hồng Thị Trang



4



Lớp 13 - 01 K20



Khóa luận tốt nghiệp



Viện Đại học Mở Hà Nội



thương thuộc phạm vi dạ dày, chỉ cần ăn trong 1 tuần, tránh uống rượu mạnh.

Khi chữa vết loét thuộc phần ruột, liều lượng cần nhiểu hơn tùy theo nặng,

nhẹ.

 Điều chỉnh huyết áp, ổn định thần kinh: khi biến đổi huyết áp (cao

hay thấp) theo liều lượng trên, ăn xong chợp mắt nghỉ trong thời gian ngắn,

huyết áp sẽ trở lại bình thường, khi lên cơn rối loạn thần kinh thực vật, tùy

theo mức độ để định liều lượng, có thể ăn vào buổi sáng giúp cơ thể ổn định

trong ngày và đề phòng khi thời tiết thay đổi đột ngột.

 Chữa về chấn thương (các loại chấn thương, đặc biệt là chấn thương

sọ não, va đập, gãy dập xương hay bắp thịt): lá thuốc có tác dụng cầm máu,

khơi phục các mơ cơ bị dập, kháng viêm nhiễm, lá làm cả thuốc đắp và thuốc

uống. Với vết thương kín, có thể nhai để đắp, vết thương hở thì nên giã để

đắp.

 Chữa cảm cúm: nếu kéo theo rối loạn tiêu hóa, đau đầu, mệt mỏi,

nhiệt độ cao, nên ăn lá cách 2 giờ, cơn sốt nhanh chóng hạ đồng thời rối loạn

tiêu hóa cũng khỏi. Sau cơn sốt, nên ăn cháo có lá thuốc trộn vào giúp cho

người bệnh mau chóng trở lại bình thường.

 Khơi phục sức khỏe: khi mệt mỏi tồn thân hoặc cần nâng cao sức

chịu đựng cường độ cao, nên ăn 5-7 lá trước nửa giờ. Trẻ con đi lỏng nên lấy

từ 1-2 lá giã lấy nước cho uống.

1.2.2. Nghiên cứu về thành phần hóa học của lá cây Xuân Hoa

Nguyễn Thị Minh Thu và cộng sự đã cô lập được các hợp chất phytol,

β-sitosterol, hỗn hợp hai đồng phân stigmasterol và poriferasterol, β-sitosterol

3-β-O-D-glucopyranoside từ lá cây Xuân Hoa (Nguyễn Thị Minh Thu, 2000).

Phan Minh Giang và cộng sự đã cô lập từ lá khô cây Xuân Hoa hợp

chất 1-pentacosanol, palmitic acid, β-sitosterol, stigmasterol, hỗn hợp βsitosterol 3-O-β-D-glucopyranoside và stigmasterol 3-O-β-D-glucopyranoside

và apigenin 7-O-β-D-glucopyranoside (Phan Minh Giang, 2003).



Hoàng Thị Trang



5



Lớp 13 - 01 K20



Khóa luận tốt nghiệp



Viện Đại học Mở Hà Nội



Nguyễn Văn Hùng và cộng sự đã cô lập từ lá cây Xuân Hoa các hợp

chất 1-triacotanol, hexadecanoate glycerol, salicylic acid và palmitic acid

(Nguyễn Văn Hùng, 2004).

Mai Đình Trị và các cộng sự đã cô lập các hợp chất từ lá cây Xuân Hoa

bao gồm: β-amyrin, oleanolic, β-sitosterol, stigmasterol, hỗn hợp hợp βsitosterol 3-O-β-D-glucopyranoside và stigmasterol 3-O-β-D-glucopyranoside

(Mai Đình Trị, 2005).

Trần Kim Thu Liễu đã cô lập từ lá cây Xuân Hoa các hợp chất

squalene, dotriacontane, phytol, palmitic acid, β-sitosterol, stigmasterol, hỗn

hợp β-sitosterol 3-O-β-D-glucopyranoside, 24-methylenecycloartanol và

loliolide (Trần Kim Thu Liễu, 2007).

Các nghiên cứu trước đây của chúng tôi chỉ ra rằng lá Xuân Hoa chứa

đầy đủ các acid amin thiết yếu với hàm lượng tổng số khá cao, đặc biệt hàm

lượng isoleucin, leucin và valin rất cao, không phát hiện các nguyên tố kim

loại nặng như Cd, Pd, As, Cr (Võ Hồi Bắc, 2003). Chúng tơi cũng đã phát

hiện hàm lượng cao protease, polysaccharide từ lá cây này (Lê Lan Oanh và

Võ Hồi Bắc, 1998, 1999).

1.2.3. Nghiên cứu về dược tính

1.2.3.1. Nghiên cứu in vitro

a) Hoạt tính kháng khuẩn và kháng nấm

Trần Công Khánh và cộng sự đã thử tác dụng kháng vi sinh vật kiểm

định (trong ống nghiệm) của cao đặc chiết từ lá cây Xuân Hoa, kết quả cho

thấy cao đặc có tác dụng kháng vi khuẩn Gram âm (Escherichia coli,

Pseudomonas aeruginosa), kháng vi khuẩn Gram dương (Bacillus subtilis,

Staphylococcus aureus, Streptococcus pyogenes), nấm mốc (Aspergillus

niger, Fusarium oxysporum, Pyricularia oryzae, Rhezoctonia solanii), nấm

men (Saccharomyces cerevisiae, Candidaalbicans) (Trần Công Khánh, 1998)

Năm 2005, Phan Minh Giang và cộng sự đã khảo sát sơ bộ hoạt tính

kháng khuẩn và kháng nấm của cao ethyl acetate và n-butanol (ở nồng độ 10

Hoàng Thị Trang



6



Lớp 13 - 01 K20



Khóa luận tốt nghiệp



Viện Đại học Mở Hà Nội



mg/ml) từ lá cây Xuân Hoa, các kết quả cho thấy cả hai loại cao trích đều thể

hiện khả năng kháng các chủng vi khuẩn Gram dương (Bacillus subtilis,

Staphylococcus aureus), Gram âm (Escherichia coli) và vi nấm (Candida

albicans, Candida stellatoides), trong đó cao trích ethyl acetate có hoạt tính

tốt hơn cao trích n-butanol. Kết quả cũng cho thấy cao trích ethyl acetate

kháng tốt các chủng Salmonella typhi 158, Shigella flexneri và Escherichia

coli, đây là những vi khuẩn gây bệnh về đường ruột, tiêu chảy, viêm ruột, lị

(Phan Minh Giang, 2005).

b) Hoạt tính kháng oxy hóa

Phan Minh Giang và cộng sự đã nghiên cứu hoạt tính kháng oxy hóa

của các loại cao ethyl acetate và n-butanol từ lá cây Xuân Hoa bằng phương

pháp nghiên cứu ảnh hưởng của các loại cao này lên độ hoạt động của

enzyme peroxydase trong máu. Kết quả cho thấy cả hai loại cao ethyl acetate

và n-butanol từ lá cây đều có tác dụng kháng oxy hóa (Phan Minh Giang,

2005).

1.2.3.2. Nghiên cứu in vivo về dược tính

a) Thử độc trên động vật thử nghiệm

Lê Thị Lan Oanh và cộng sự đã khảo sát độ độc của dịch chiết lá cây

Xuân Hoa trên cá chọi. Kết quả cho thấy dịch chiết lá khơng độc với cá chọi

vì với nồng độ 50% cá vẫn không chết sau 5 ngày. Kết quả thử nghiệm độc

tính của lá khơ cây Xuân Hoa cũng đã được thực hiện tại Viện Kiểm nghiệm,

Bộ Y tế, áp dụng trên thỏ và chuột thí nghiệm, cho thấy khơng có độc tính (Lê

Lan Oanh, 1999).

Nguyễn Thị Minh Thu và các cộng sự đã thử độc tính cấp diễn của cây

Xuân Hoa theo phương pháp của Behrens trên chuột nhắt trắng. Phương pháp

được tiến hành với các nồng độ thuốc khác nhau, liên tục theo dõi diễn tiến

hành vi của chuột từ khi đưa thuốc trực tiếp vào dạ dày. Kết quả cao đặc toàn

phần lá cây khơng gây độc tính cấp tính trên chuột, chuột sống hoàn toàn

khỏe mạnh qua 48 giờ (Nguyễn Thị Minh Thu, 1999).

Hồng Thị Trang



7



Lớp 13 - 01 K20



Khóa luận tốt nghiệp



Viện Đại học Mở Hà Nội



Peerawit và cộng sự đã thử nghiệm độc tính của cao trích ethanol 80%

từ lá cây Xuân Hoa cả in vitro lẫn in vivo. Kết quả thử nghiệm in vitro trên tế

bào thận khỉ xanh châu Phi bằng phương pháp GFP (green fluorescent

protein) cho thấy mẫu thử khơng độc ở nồng độ 50 µg/ml, liều cao nhất có thể

pha được. Với thử nghiệm in vivo, thử nghiệm với cao trích ethanol 80%

được thực hiện trên chuột trưởng thành qua đường uống, với một liều duy

nhất ở các nồng độ khác nhau, 500, 1000, 1500 và 2000 mg mẫu cao trích/kg

trọng lượng chuột. Kết quả cho thấy chuột khơng có dấu hiệu ngộ độc trong

24 giờ đầu và không chết qua 14 ngày thử nghiệm, không có sự khác biệt về

thể trọng giữa nhóm chuột thử nghiệm và nhóm chuột đối chứng. Với thử

nghiệm in vivo trên chuột qua đường uống, mỗi ngày, trong 14 ngày, ở các

nồng độ khác nhau, 250, 500, 1000 mg mẫu cao trích/kg trọng lượng chuột,

khơng có liều nào gây độc cho chuột. Các trị số hóa lý như creatinine,

triglyceride, cholesterol tổng, protein tổng và albumin khơng có sự khác biệt

giữa nhóm chuột thử nghiệm và nhóm chuột đối chứng (Peerawit Padee,

2009).

b) Tác dụng bảo về tế bào gan

Nguyễn Thị Minh Thu đã thử tác dụng bảo vệ tế bào gan của cao đặc

toàn phần lá cây Xuân Hoa trên chuột nhắt trắng. Mơ hình gây ngộ độc gan

bằng tetrachloromethane. Kết quả như sau: ở liều gây độc gan 1 ml CCl 4/kg

thể trọng, hàm lượng men gan có giảm nhưng chưa đáng kể, có dấu hiệu bình

phục tế bào gan. Ở liều gây độc 0,5 ml CCl4/kg thể trọng, hàm lượng men gan

có giảm nhưng khơng đáng kể, có dấu hiệu bình phục tế bào gan (Nguyễn Thị

Minh Thu, 1999).

c) Tác dụng trị tiêu chảy

Huỳnh Kim Diệu và cộng sự đã xác định hiệu quả của bột lá Xuân Hoa

trong trị bệnh tiêu chảy heo con theo mẹ, so sánh với hai chế phẩm Colinorgent và Cotrimxazol. Kết quả 3 ngày điều trị cho thấy bột lá khơ có tỉ lệ



Hồng Thị Trang



8



Lớp 13 - 01 K20



Khóa luận tốt nghiệp



Viện Đại học Mở Hà Nội



khỏi bệnh cao hơn và tỉ lệ tái phát thấp hơn so với kháng sinh Coli-norgent

(90,48%/9,52%) và Cotrimxazol (83,33% /14,29% (Huỳnh Kim Diệu, 2006).

d) Hiệu quả ức chế enzyme acetylcholinesterase

Wararut Buncharoen và cộng sự đã xác định hiệu quả ức chế enzyme

acetylcholinesterase của dịch trích nước lá cây ở các liều 0,3; 0,7 và 1g/kg thể

trọng trong 30 ngày. Hiệu quả ức chế được đánh giá dựa trên tế bào máu đỏ,

huyết thanh và não chuột. Kết quả cho thấy dịch trích có thể làm giảm sự tổng

hợp enzyme acetylcholinesterase trong não chuột. Hiệu quả ức chế enzyme

acetylcholinesterase của dịch trích nước lá cây Xuân Hoa đã cho thấy tiềm

năng chữa bệnh Alzheimer của cây thuốc này (Wararut Buncharoen, 2010).

1.3. Định nghĩa và phân loại protease

1.3.1. Định nghĩa

Protease là enzyme thuộc nhóm hydrolase, xúc tác cho quá trình thủy

phân liên kết peptid (-CO – NH-) của phân tử protein và peptid thành các acid

amin tự do, một ít protein ngắn, pepton.

1.3.2. Phân loại

Protease được chia thành 2 loại: endopeptidase và exopeptidase

 Dựa vào vị trí tác động trên mạch polypeptide, exopeptidase được

phân chia thành 2 loại:

- Aminopeptidase: xúc tác thủy phân liên kết peptid ở đầu N tự do của

chuỗi polypeptide để giải phóng ra một amino acid, một dipeptide hoặc một

tripeptide.

- Carboxypeptidase: xúc tác thủy phân liên kết peptide ở đầu C của

chuỗi polypeptide và giải phóng ra một amino acid hoặc một dipeptide.

 Dựa vào động học của cơ chế xúc tác, endopeptidase được chia

thành 4 nhóm sau (Lê Ngọc Tú, 2010):

- Serin protease: là những protease chưa nhóm –OH của gốc serine

trong trung tâm hoạt động và có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hoạt động

xúc tác của enzyme. Nhóm này bao gồm 2 nhóm nhỏ: chymotrypsin và

Hồng Thị Trang



9



Lớp 13 - 01 K20



Khóa luận tốt nghiệp



Viện Đại học Mở Hà Nội



subtilisin. Nhóm chymotrypsin bao gồm các enzyme động vật như

chymotrypsin, trypsin, elastase. Nhóm subtilisin bao gồm hai loại enzyme vi

khuẩn như subtilisin Carlsberg. Các serine thường hoạt động mạnh ở vùng

kiềm tính và thể hiện tính đặc hiệu cơ chất tương đối rộng.

- Cysteine protease: Các protein chứa nhóm –SH trong trung tâm hoạt

động. Cystein protease bao gồm các protease thực vật như: papain, bromelin,

một vài protein động vật và protease ký sinh trùng. Các cystein protease

thường hoạt động ở vùng pH trung tính, có tính đặc hiệu cơ chất rộng.

- Aspartic protease: Hầu hết các aspartic protease thuộc nhóm pepsin.

Nhóm pepsin bao gồm các enzyme tiêu hóa như: pepsin, rennin. Aspartic

protease có chứa nhóm cacboxyl trong trung tâm hoạt động và thường hoạt

động mạnh ở pH trung tính.

- Metallo protease: Là nhóm protease được tìm thấy ở vi khuẩn, nấm

mốc cũng như các vi sinh vật bậc cao hơn. Các protease thường hoạt động ở

pH trung tính và hoạt độ giảm mạnh dưới tác dụng của EDTA.

Ngoài ra, protease còn được phân loại theo cách đơn giản dựa vào

tính chất xúc tác phản ứng ở pH: chia thành 3 nhóm:

- Protease acid: pH 2-4 có nhiều ở tế bào động vật, nấm men, nhưng ít

thấy ở vi khuẩn.

- Protease trung tính: có pH 7-8 như papain, bromelin, ficin. Những

protease này là enzyme ổn định với nhiệt độ nhất.

- Protease kiềm có pH 9-11.

1.4. Ứng dụng của protease (Đặng Thị Thu, 2012)

 Trong công nghiệp chế biến thịt: Protease được dùng làm mềm thịt

nhờ sự thủy phân 1 phần protein trong thịt, làm cho thịt có độ mềm thích hợp

và có vị tốt hơn. Protease được sử dụng để làm mềm thịt và tăng hương vị

thịt, (ngâm thịt vào dinh dưỡng protease ở pH và nhiệt độ xác định, phương

pháp này phổ biến và thuận lợi nhất; Tẩm hỗn hợp làm mềm thịt (enzyme,

muối, bột ngọt). Tiêm dung dịch enzyme vào thịt; tiêm dung dịch enzyme vào

Hoàng Thị Trang



10



Lớp 13 - 01 K20



Khóa luận tốt nghiệp



Viện Đại học Mở Hà Nội



con vật trước khi giết mổ). Sử dụng protease để sản xuất dịch đạm: từ

Streptomyces fradiae tách được chế phẩm keratineza thuỷ phân được keratin rất

có giá trị để sản xuất dịch đạm từ da, lông vũ. Nếu dùng axit để thuỷ phân sẽ mất

đi hoàn toàn các axit amin chứa lưu huỳnh, nếu dùng kiềm để thuỷ phân sẽ bị

raxemic hoá (chuyển dạng L sang D làm giảm giá trị sinh học của axit amin). Để

thuỷ phân sâu sắc và triệt để protein (trong nghiên cứu, chế tạo dịch truyền đạm

y tế) cần dùng các protease có tính đặc hiệu cao và tác dụng rộng, muốn vậy

người ta thường dùng phối hợp cả 3 loại protease của 3 loài: vi khuẩn, nấm mốc,

thực vật với tỷ lệ tổng cộng 1- 2% khối lượng protein cần thuỷ phân. Ưu điểm

của việc thuỷ phân protease bởi enzyme là bảo toàn được vitamin của nguyên

liệu, không tạo ra các sản phẩm phụ, không làm sẫm màu dịch thuỷ phân.

 Trong chế biến thuỷ sản: Khi sản xuất nước mắm (và một số loài mắm)

thường thời gian chế biến thường là dài nhất, hiệu suất thuỷ phân (độ đạm) lại

phụ thuộc rất nhiều địa phương, phương pháp gài nén, nguyên liệu cá. Nên

hiện nay quy trình sản xuất nước mắm ngắn ngày đã được hồn thiện trong đó

sử dụng chế phẩm enzyme thực vật (bromelain và papain) và vi sinh vật để rút

ngắn thời gian làm và cải thiện hương vị của nước mắm. Tuy nhiên vẫn còn

một số tồn tại cần phải hồn thiện thêm về cơng nghệ.

 Trong sản xuất bia: Chế phẩm protease có ý nghĩa quan trọng trong

việc làm tăng độ bền của bia và rút ngắn thời gian lọc. Protease của A. oryzae

được dùng để thủy phân protein trong hạt ngũ cốc, tạo điều kiện xử lý bia tốt

hơn.

 Trong công nghiệp sữa: Trong công nghiệp sữa, protease được dùng

trong sản xuất phomat nhờ hoạt tính làm đơng tụ sữa của chúng. Protease từ

một số vi sinh vật như A. candidus, P. roquerti, B. mesentericus… được dùng

trong sản xuất pho mát. Trong cơng nghiệp sản xuất bánh mì, bánh quy...

protease làm giảm thời gian trộn, tăng độ dẻo và làm nhuyễn bột, tạo độ xốp

và nở tốt hơn.



Hoàng Thị Trang



11



Lớp 13 - 01 K20



Khóa luận tốt nghiệp



Viện Đại học Mở Hà Nội



 Trong công nghệ thuộc da: Quá trình chế biến da bao gồm 1 số cơng

đoạn như: ngâm ướt, tẩy lông, làm mềm da hoặc thuộc da. Thơng thường, các

phương pháp thuộc da thường dùng các hóa chất độc hại như natri sulfide,

làm ảnh hưởng đến môi trường khi nước thải nhà máy thải ra sông. Việc sử

dụng enzyme để thay thế các hóa chất đã rất thành công trong việc nâng cao

chất lượng da và làm giảm ô nhiễm môi trường. Protein là một thành phần cơ

bản của da và lông nên protease đã được sử dụng để thủy phân 1 số thành

phần phi collagen của da và loại bỏ các protein phi fibrin như albumin,

globulin trong q trình thuộc da rất có hiệu quả.

 Trong cơng nghệ tơ tằm: Làm bóng và tách rời các sợi tơ.

 Trong hương mỹ phẩm: Người ta trộn một lượng nhỏ protease vào kem

xoa, kem cạo râu, dầu gội, dầu bơi tóc, kem mặt... để làm mềm da, tẩy tế bào

chết.

 Trong sản xuất chất tẩy rửa: Protease là một trong những thành phần

không thể thiếu trong tất cả các loại chất tẩy rửa (chất tẩy rửa dùng trong gia

đình, chất làm sạch kính, kem đánh răng...). Việc ứng dụng enzyme vào các

chất tẩy rửa nhiều nhất là trong bột giặt. Các protease thích hợp để bổ sung

vào chất tẩy rửa thường có tính đặc hiệu cơ chất rộng để dễ dàng loại bỏ các

vết bẩn do thức ăn, vết máu, sữa và các chất do cơ thể người tiết ra. Protease

dùng trong chất tẩy rửa phải hoạt động tốt trong điều kiện nhiệt độ và pH cao

cũng như phải thích hợp với các tác nhân oxy hóa và các chất kìm hãm có

trong thành phần của chất tẩy rửa. Subtilisin đáp ứng được đầy đủ những yêu

cầu khắt khe trên. Hiện nay, tất cả các protease bổ sung vào chất tẩy dùng trên

thị trường đều là serine protease được sản xuất từ các chủng Bacillus và chủ

yếu là B.subtilis. Trên thế giới, mỗi năm người ta đã sử dụng 89% enzyme

này cho ngành công nghiệp tẩy rửa.

 Trong Y học:

- Protease được dùng để sản xuất môi trường dinh dưỡng nuôi vi sinh

vật, sản xuất huyết thanh miễn dịch.

Hồng Thị Trang



12



Lớp 13 - 01 K20



Khóa luận tốt nghiệp



Viện Đại học Mở Hà Nội



- Dùng để phân hủy các cục máu đông trong cơ thể, chữa bệnh nghẽn tĩnh

mạch...

- Sử dụng các chất hoạt hóa và kìm hãm protease để điều trị các bệnh đặc

trưng.

- Sản xuất thuốc làm tăng khả năng tiêu hóa protein cho những người

bị tiêu hóa kém...

- Sử dụng làm thuốc kháng viêm, chữa lành vết thương

 Trong nông nghiệp: Protease được dùng để sản xuất dịch thủy phân

giàu đạm bổ sung vào thức ăn của lợn và gia cầm.

 Trong kỹ nghệ phim ảnh: Protease từ vi khuẩn được dùng để tái sinh

các nguyên liệu như phim điện ảnh, phim Rơnghen... Protease phân giải và

hòa tan lớp nhũ tương gelatin trên phim và giấy ảnh, do đó có thể làm sạch và

sử dụng trở lại các loại phim và giấy ảnh quý.

1.5. Nghiên cứu về protease từ thực vật và từ cây Xuân Hoa

P. palatiferum.

Thực vật rất giàu protease. Năm 1900, Loew và cộng sự đã tách

protease từ cây thuốc lá (Loew, 1900). Greenberg và Winnick đã xác định

được một số thực vật chứa protease như: bromelain thu được từ quả, chồi dứa,

vỏ dứa. Ficin thu được từ nhựa cây cọ (Ficus carica) (Greenberg, 1945).

Nhiều protease được tìm thấy trong vách tế bào thực vật (Lamport, 1982).

Cho đến nay, các nhà khoa học trên thế giới vẫn tiếp tục nghiên cứu và

phát hiện được các protease mới từ thực vật như protease tách từ cây Jatropha

curcas (Indranil, 2011).

Gần đây, các protease từ thực vật cũng được nghiên cứu ứng dụng

trong Y học để điều trị viêm, làm tan các cục máu đông, giảm đau, chống oxy

hóa, ức chế sự phát triển của các tế bào ung thư. Protease có thể giảm viêm

bởi giảm tiết các cytokine tiền viêm, quét các gốc oxy hóa tự do, điều hòa các

phân tử bám dính (Veremeenko, 2000; Huang, 2008). Bromelain có khả năng

kháng viêm giảm các edema trong tổn thương (Netti, 1972) và kháng các tế

Hoàng Thị Trang



13



Lớp 13 - 01 K20



Khóa luận tốt nghiệp



Viện Đại học Mở Hà Nội



bào ung thư (Garbin, 1994; Grabowska, 1997; Rabelo, 2004). Protease tách từ

cây Jatropha curcas và cây Plumeria rubra Linn có hiệu quả kháng viêm và

làm lành vết thương (Indranilc, 2011; Nath, 1992).

Lê Lan Oanh và Võ Hoài Bắc (1999) đã phát hiện hàm lượng cao

protease từ lá cây Xuân Hoa và đã tiến hành tách chiết chúng. Cho đến nay

trên thế giới và ở Việt Nam chưa có một nghiên cứu có hệ thống về đặc tính

sinh hóa và tác dụng làm lành vết thương của protease từ cây Xn Hoa P.

palatiferum. Việc nghiên cứu tính chất sinh hố cũng như những ứng dụng

của protease từ cây thuốc này là rất cần thiết, góp phần bổ sung những thơng

tin khoa học mới về cây thuốc quý của Việt Nam.



Hoàng Thị Trang



14



Lớp 13 - 01 K20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN I - TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×