Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
II. Mô hình hoạt động của hệ thống Media streaming.

II. Mô hình hoạt động của hệ thống Media streaming.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Mơ hình Peer to Peer được sử dụng bởi một số phần mềm cung cấp dịch vụ video

như Skype, DVTS, … Có nhiều giải pháp cho mơ hình Peer to Peer, trong đó DTVS là

một hệ thống cho phép chuyển phát hình ảnh, âm thanh giữa các nơi sử dụng mơ hình

này bằng địa chỉ IP Multicast (như trong hình).

Ưu điểm chủ yếu của mơ hình này là khả năng tận dụng các máy đầu cuối.

Nhược điểm:

- Không thể quản lý được người dùng nếu ở mơ hình Peer to Peer truyền thống. Do

đó việc áp dụng rộng rãi mơ hình này gặp nhiều khó khăn cho những tổ chức nhỏ.

- Khơng có định hướng, một u cầu tìm kiếm thường được chuyển cho một số

lượng lớn máy trong mạng làm tiêu tốn một lượng lớn băng thông của mạng, nó làm

tăng các vấn đề kỹ thuật, hiệu suất, chất lượng.

2.2 Mơ hình Client – Server

Mơ hình Client – Server là một mơ hình thơng dụng được sử dụng bởi các nhà

cung cấp dịch vụ video nổi tiếng như Yahoo, Youtube,…



Mơ hình Client – Server



Mơ hình này có nhiều ưu điểm :

-



Khả năng đáp ứng nhanh: người dùng có thể kết nối đến server dễ nhành để

nhận được sự cung cấp dịch vụ



-



Dễ dàng cho việc thi công và cung cấp dịch vụ: nhà cung cấp dịch vụ chỉ cần

thiết kế server quản lý và cung cấp dịch vụ của mình. Sau đó để đưa tới tay

7



người sử dụng thì chỉ cần sử dụng thêm tên miền hoặc địa chỉ IP là có thể sẫn

sàng đáp ứng dịch vụ cho người dùng.

-



Dễ dàng quản lý truy cập của người dùng



Nhược điểm chủ yếu của mơ hình này là dễ dàng bị quá tải do số người truy cập

tăng.

Tuy nhiên có thể giải quyết vấn đề này bằng cách tuỳ thuộc vào khả năng của máy

làm server, người quản trị hoặc người thiết kế dịch vụ cần giới hạn khả năng đáp ứng

của dịch vụ. Hoặc xây dựng các giải pháp về mạng khác để tăng khả năng đáp ứng cho

server tránh bị quá tải khi yêu cầu tăng. Với các nhận định trên, trong quá trình phát

triển server chuyển phát âm thanh và hình ảnh, nhóm đã sử dụng mơ hình Client –

Server.

III. Kỹ thuật media streaming dạng client –server

3.1. Kiến trúc một hệ thống media streaming dạng client-server



Cấu trúc một hệ thống media streaming

Ban đầu dữ liệu thô được nén lại thông qua bộ nén dữ liệu, và được lưu trữ tại

thiết bị lưu trữ bên trong server. Sau đó khi có u cầu từ client thì server sẽ lấy các dữ

liệu tương ứng đã được nén lại trong thiết bị lưu trữ, và chuyển giao tới cho bộ phận

điều khiển chất lượng chất lượng dịch vụ tầng ứng dụng. Bộ phận này sẽ tùy vào yêu

cầu ứng dụng, tình trạng mạng để tạo các dòng lưu lượng hợp lý, sau đó sẽ đẩy các

luồng dữ liệu xuống cho tầng giao vận (transport layer). Các giao thức tầng giao vận sẽ

có trách nhiệm gửi dữ liệu thơng qua Internet tới client. Khi các gói tin được lưu

chuyển trên mạng, nó có thể bị mất mát hoặc là có độ trễ lớn khi mạng bị tắc nghẽn.

Để hỗ trợ chất lượng video/audio truyền tải, các dịch vụ hỗ trợ truyền thơng đa phương

tiện liên tục được triển khai (ví dụ như caching ...). Khi các gói tin đến được client

thành cơng, nó được truyền lên tầng giao vận, rồi tiếp đó là bộ phận điều khiển chất

8



lượng dịch vụ tầng ứng dụng. Sau đó chúng được giải mã để cho ra các dữ liệu thơ ban

đầu, tiếp theo để có thể sử dụng được những dữ liệu này, cần phải sử dụng đến bộ

đồng bộ hóa đa phương tiện để đồng bộ video và audio một cách chuẩn xác.Vậy tức là

mỗi một hệ thống video streaming cần thiết phải có sáu thành phần tương ứng với sáu

bước thao tác như trên.

3.2. Kĩ thuật thực hiện media streaming:

- Phần mềm máy khách (media player, web browser, flash player ...) cần kết

nối được và xác định file video trên máy streaming server muốn xem.

- Yêu cầu streaming file video đó sẽ được gửi tới streaming server để tìm file

video đó.

- Chương trình thực hiện streaming chạy trên máy streaming server sẽ chia file

video thành các frame rồi gửi các frame đó tới máy yêu cầu sử dụng các giao thức ràng

buộc về thời gian (RTSP, RTP, RTCP).

- Khi các frame về máy khách, sẽ được lưu trữ trong vùng đệm và nội dung các

frame sẽ được giải mã (decode) và hiển thị thơng qua các chương trình chơi video (ví

dụ VLC)



Streaming video dạng client-server



9



3.3 Cơ chế đồng bộ trong media streaming

Đồng bộ video streaming chính là việc bảo trì mối quan hệ tạm thời giữa

một luồng dữ liệu với một số luồng truyền thơng khác. Có ba mức của đồng bộ

gọi là đồng bộ trong luồng, đồng bộ luồng và đồng bộ đối tượng :

- Đồng bộ luồng trong luồng: Tầng thấp nhất của truyền thông liên tục hoặc

dữ liệu thời gian thực là tầng dữ liệu truyền thông. Đơn vị của tầng truyền thông

là các khối dữ liệu logic như frame truyền hình/truyền thanh. Đồng bộ ở mức

này được gọi là đồng bộ luồng dư; bảo trì sự liên tục của các đơn vị dữ liệu.

Khơng có đồng bộ luồng dư, trình diễn của luồng có thể bị ngắt bởi việc dừng và

sự sai khác.

- Đồng bộ luồng : tầng hai của dữ liệu thời gian thực là tầng luồng. Đơn vị

của tầng luồng chính là một luồng. Đồng bộ ở tầng này chính là đồng bộ luồng,

có nhiệm vụ bảo trì mối quan hệ giữa các truyền thơng liên tục. Khơng có đồng

bộ luồng, sự khơng khớp giữa các luồng có thể gây ra lỗi. Ví dụ, người dùng sẽ

thấy khó chịu khi việc di chuyển mơi người nói khơng tương ứng với âm thanh.

- Đồng bộ đối tượng: Tầng cao nhất của tài liệu đa phương tiện là tầng đối

tượng, đó là sự kết hợp luồng và dữ liệu thời gian thực như chữ và hình ảnh.

Đồng bộ ở tầng này gọi là đồng bộ đối tượng. Mục đích của nó là bắt đầu và kết

thúc của trình diễn thời gian thực trong một khoảng thời gian vừa phải, nếu tại

các điểm định nghĩa trước của đối tượng truyền thơng độc lập thời gian có thể

đạt được. Khơng có sự đồng bộ này, người xem của việc trình diễn slide có thể

khó chịu vì tiếng bình cho một slide thì slide khác đã hiển thị.

3.4 Đảm bảo chất lượng dịch vụ media streaming

Dịch vụ video streaming yêu cầu một số điều kiện kiên quyết sau :

- Bandwidth : Mỗi một ứng dụng video streaming đều có một yêu cầu về

băng thơng nhỏ nhất để duy trì ứng dụng. Tuy nhiên hệ với cơ sở hạ tầng

Internet hiện tại, không có bất kỳ cơ chế nào để đáp ứng điều kiện này.

- Delay : Là khái niệm độ trễ của các gói tin ở hai đầu cuối, hoặc cũng có

thể bao gồm cả thời gian giải mã và hiển thị video. Nếu gói tin khơng đến được

đúng thời điểm thì video có thể bị dừng gây cảm giác khó chịu cho người dùng

- Loss : Mất gói tin là việc khơng thể tránh khỏi trên mơi trường Internet.

Việc mất gói tin có thể gây ra hiện tượng méo mó hay mất đi sự liên kết trong

việc hiển thị video.



10



Tuy nhiên, với những môi trường mạng khác nhau trong những điều kiện

khác nhau thì cần có thêm những cơ chế bổ sung cho việc này. Ví dụ, trong

mạng LAN thì việc đảm bảo chất lượng dịch vụ cho video streaming có thể đơn

giản hơn là trong mạng WLAN bởi vì bản chất mơi trường truyền của chúng là

khác nhau. Do đó, các mơi trường khác nhau cũng sẽ có những phương thức

khác nhau để làm sao đảm bảo chất lượng dịch vụ tốt nhất ở hạ tầng, nhằm mục

đích hỗ trợ tốt nhất cho các dịch vụ sử dụng hạ tầng đó.

IV. Các giao thức hỗ trợ Media streaming



4. 1. Giao thức RTSP (Real Time Streaming Protocol)

RTSP (Real Time Streaming Protocol) là một giao thức điều khiển trên mạng được

thiết kế để sử dụng giao tiếp giữa máy client và máy streaming server. Giao thức này

được sử dụng để thiết lập và điều khiển phiên giao dịch giữa các máy tính (end points).

Về hình thức giao thức RTSP cũng có nét tương đồng với giao thức HTTP, RTSP

định nghĩa một bộ các tín hiệu điều khiển tuần tự, phục vụ cho việc điều khiển quá

trình playback. Trong khi giao thức HTTP là giao thức khơng có trạng thái thì RTSP là

giao thức có xác định trạng thái. Một định danh được sử dụng khi cần thiết để theo dõi

các phiên giao dịch hiện tại của quá trình streaming video gọi là số hiệu session. Cũng

giống như HTTP, RTSP sử dụng TCP là giao thức để duy trì một kết nối đầu cuối tới

đầu cuối và các thông điệp điểu khiển của RTSP được gửi bởi máy client tới máy

server. Nó cũng thực hiện điều khiển lại các đáp trả từ máy server tới máy client. Cổng

mặc định được sử dụng bởi giao thức này là 554.

Để thực hiện kỹ thuật streaming video theo giao thức RTSP nhất thiết máy client

phải gửi lên máy server ( streaming server) những request sau và phải theo một trình

tự nhất định.

Đầu tiên, máy client sẻ gửi yêu cầu OPTIONS kèm với đường link trỏ tới file

video cần xem tới máy server, để máy server chấp nhận đường link này.



Hình 2: OPTIONS Request

Nếu máy server trả về mã chấp nhận đường link trên thì máy client tiếp tục gửi

yêu cầu DESCRIBE tới máy server để máy server phân tích đường link. Một yêu cầu

DESCRIBE bao gồm một đường link RTSP có dạng (rtsp:// ) và kiểu dữ liệu đáp trả từ

phía server. Cổng mặc định được sử dụng cho giao thức RTSP là 554 và cổng này

11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

II. Mô hình hoạt động của hệ thống Media streaming.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×