Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Căn cứ dự báo nhu cầu sử dụng lao động trình độ chuyên cao ngành Dệt May đến năm 2030 được cho trong bảng 3.1.

Căn cứ dự báo nhu cầu sử dụng lao động trình độ chuyên cao ngành Dệt May đến năm 2030 được cho trong bảng 3.1.

Tải bản đầy đủ - 0trang

130



Bảng 3.1. Dự báo như cầu nguồn nhân lực ngành Dệt May[23]



Nhu cầu trình độ

(ngàn người)



Cơng nhân kỹ thuật bậc 5/7

Kỹ thuật viên

Trung cấp chuyên nghiệp

Đại học và cao đẳng

Trên đại học



Không tham gia TPP

2020

2025

2030

214

278

366

92.9

121

159

92.2

120

157

112

146

191

1,46

1,89

2,49



Tham gia TPP

2020 2025

2030

260

385

558

112

167

241

112

165

240

136

201

291

1,77

2,62

3,79



Nguồn: Dự báo dựa trên số liệu của GSO và VITAS



Cho thấy vấn đề chất lượng nguồn nhân lực luôn là một trong những yếu tố

quan trọng quyết định sự thành công trong mỗi DN nói chung và DNNVV nói

riêng. Việc xây dựng chiến lược, thu hút và sử dụng nguồn nhân lực một cách khoa

học và hiệu quả sẽ giúp DNNVV có được chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu

cầu đặt ra của DNNVV và thị trường. Do đó, các DNNVV cần thực hiện một số giải

pháp cụ thể sau:



3.3.3.1. Thu hút và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao một cách lâu dài

Thu hút và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao là vấn đề cấp bách của

DNNVV trong giai đoạn hiện nay, giường như vấn đề này từ trước đến nay chưa

được thực hiện một cách đúng đắn, triệt để. Mà các DNNVV chỉ thực hiện nó một

cách nửa vời, nhằm đạt mục tiêu trước mắt và ngắn hạn. Do đó, để thực hiện thu hút

và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao theo một chiến lược, có tính đến dài hạn

thì các DNNVV cần thực hiện như sau:

- Các DNNVV dệt may Việt Nam cần thiết phải phối hợp, liên kết chặt chẽ

với các trường Đại học đào tạo về dệt may. Các DNNVV phải có sự tham gia một

cách tích cực vào hoạt động của các trường Đại học này, nhằm đảm bảo mục tiêu

liên kết: Trường Đại học – DNNVV – Người học. Mục tiêu của sự liên kết này

nhằm đảm bảo: khi trường Đại học xây dựng nội dung chương trình đào tạo cho

người học sẽ bám sát với yêu cầu thực tế của DNNVV; người học cảm thấy hứng

thú với những kiến thức thực tế mà chương trình đào tạo đặt ra; DNNVV sẽ sử dụng

được ngay đội ngũ nhân lực khi họ được đào tạo tại trường Đại học. Sự kết hợp chặt

chẽ giữa 3 nhân tố: Trường Đại học – DNNVV – Người học đóng vai trò quyết định



131



trong việc sử dụng đúng và đủ chất lượng nguồn nhân lực được đào tạo, tránh lãnh

phí kinh phí đào tạo và hạn chế tối đa tỷ lệ thất nghiệp của sinh viên khi ra trường.

- Xây dựng và áp dụng nhiều chính sách ưu đãi trong việc thu hút và sử dụng

nguồn nhân lực chất lượng cao ngành dệt may. Nội dung này thực tế ít được các

DNNVV dệt may áp dụng, mà họ chủ yếu thực hiện việc sử dụng nguồn nhân lực

chất lượng cao một cách thiếu chủ động, động thái quan trọng đối với các DNNVV

dệt may là làm sao đáp ứng yêu cầu trước mắt, không nghĩ làm cách nào để giữ

chân những người có trình độ, tay nghề cao trong tương lai. Khi thiếu hụt họ tìm

cách tuyển dụng nguồn nhân lực khác để đáp ứng công việc. Hiện trạng này đã nảy

sinh nhiều vấn đề bất cập đối với các DNNVV, nhất là khó khẳng định năng lực

cạnh tranh của DNNVV bằng chất lượng nguồn nhân lực sẵn có, tiếp theo nguồn

nhân lực chất lượng cao không mặn mà, không cố gắng cống hiến những tinh túy

của mình cho DNNVV. Họ sẽ làm đến khi có cơ hội mới với những chính sách ưu

đãi hơn và lập tức luân chuyển. Do vậy, để thu hút và sử dụng nguồn nhân lực chất

lượng cao cho các DNNVV dệt may, cần phải xây dựng một số chính sách điển

hình như sau: Chính sách đãi ngộ tiền lương, tiền thưởng: đây là vấn đề quan tâm

lớn nhất, vì có thu nhập ổn định và bền vững, đảm bảo đời sống gia đình họ mới có

thể cống hiến trí tuệ và cơng sức cho tập thể; Xây dựng và áp dụng chính sách bảo

hiểm xã hội, Chính sách trợ cấp thất nghiệp đối với người lao động; Xây dựng

những chính sách đãi ngộ, khuyến khích và động viên kịp thời đối với người lao

động khi hoàn thành xuất sắc công việc được giao; Thường xuyên tổ chức những

buổi giao lưu, dã ngoại, sinh hoạt cộng đồng tại DNNVV nhằm động viên tinh thần

một cách kịp thời đối với cán bộ CNV trong DN.



3.3.3.2. Tích cực bồi dưỡng, khai thác nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm

tham gia sâu vào chuỗi giá trị dệt may toàn cầu

Kết quả phân tích cho thấy, các DNNVV dệt may Việt Nam chủ yếu vẫn

sử dụng hình thức sản xuất gia cơng, ít khi được tham gia vào các khâu khác của

chuỗi giá trị dệt may. Điều này cho thấy giá trị đem lại không cao. Do vậy để gia

tăng giá trị trong ngành dệt may thì cần thiết phải tham gia sâu hơn nữa vào tất



132



cả các khâu của chuỗi giá trị dệt may. Yếu tố quyết định, đóng vai trò quan trọng

nhất là việc phải đảm bảo được chất lượng nguồn nhân lực, đây là vấn đề cốt lõi

để quyết định các DNNVV dệt may có tham gia được sâu hơn không trong chuỗi

giá trị dệt may. Cụ thể là các DNNVV dệt may muốn tham gia vào khâu thiết kế

ngành may thì cần phải có đủ đội ngũ thiết kết về trình độ, mà muốn có đội ngũ

thiết kế giỏi, đội ngũ phải được đào tạo chính quy, hiện đại tại các cơ sở giáo dục có

uy tín, nguồn nhân lực phải đáp ứng việc thiết kế thời trang, có khả năng thiết kế ra

những sản phẩm cạnh tranh ở thị trường trong nước và nghĩ tới cạnh tranh với sản

phẩm ở thị trường nước ngoài.

(i) Đối với nhân lực đại học, cao đẳng là đầu vào cho DNNVV

Tiếp tục nâng cao số lượng và tỷ lệ nhân lực có trình độ ĐH, CĐ trong lực

lượng lao động của DN Dệt May; mở rộng quy mô tuyển sinh và đào tạo nhân lực

chuyên ngành dệt may. Nâng cao chất lượng nhân lực ĐH, CĐ tiếp cận trình độ

quốc tế. Khai thác tối đa các cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng hiện có. Nâng trình độ,

kỹ năng thực hành ngoại ngữ cho NNL ĐH, CĐ đến năm 2020. Trang bị cho kiến

thức chuyên môn và kỹ năng thành thạo, có khả năng vận hành các thiết bị tiên tiến,

hiện đại, có năng lực làm việc theo nhóm và xử lý các tình huống phức tạp, đa dạng

trong các dây chuyền sản xuất tự động, công nghệ mới.

(ii) Đối với đội ngũ quản lý cấp cao và cấp trung

Đối với lực lượng quản lý cấp cao ở các vị trí như hội đồng thành viên, ban

giám đốc; đội ngũ quản lý cấp trung là trưởng các phòng ban chức năng được đào

tạo tại các trường chính quy về quản lý. Để các quản lý cấp cao và cấp trung có thể

làm tốt cơng tác của mình thì ngồi các kỹ năng quản lý chung, đội ngũ này cần

phải đào tạo bổ sung và cập nhật các kiến thức về công nghệ chuyên ngành dệt và

may… Chương trình đào tạo quản lý cho chuyên ngành chính là khoảng trống mà

hiện nay các cơ sở đào tạo chưa có giải pháp hữu hiệu, đây chính là yếu tố ảnh

hưởng khơng tốt tới việc hình thành vốn nhân lực chun mơn trong các doanh

nghiệp dệt may.

Đối với đội ngũ quản lý cấp trung làm việc tại phân xưởng sản xuất như quản

đốc, phó quản đốc và đội ngũ kỹ sư, cử nhân phụ trách về công nghệ… cần tiếp tục

phát triển bổ sung mới và nâng cao bổ sung kiến thức và kỹ năng quản lý về sản



133



xuất, kỹ năng về nhân sự. Ngoài ra, đội ngũ kỹ sư và cử nhân hoạt động trong lĩnh

vực thiết kế, marketing, phát triển thị trường và sản phẩm, mặc dù không thuộc đội

ngũ quản lý trung gian nhưng là lực lượng cấp trung cần có định hướng phát triển

phù hợp với công việc và sự kế thừa trong tương lai. Quá trình tạo vốn nhân lực

chuyên môn đối với lực lượng quản lý cấp trung cần định hướng phát triển theo cả

hai hướng phải trải qua cả đào tạo chính quy và đào tạo khơng chính quy.

(iii) Đối với đội ngũ quản lý cấp cơ sở

Đội ngũ quản lý cấp cơ sở trong doanh nghiệp dệt may là các chức danh như

trưởng ca, tổ trưởng, tổ phó… cần định hướng phát triển từ cơ sở theo nhu cầu của

từng doanh nghiệp, lấy việc đào tạo tại chỗ làm hướng phát triển chính thơng qua

đội ngũ trung cấp chuyên nghiệp, kỹ thuật viên và CNKT lành nghề... Ngồi ra, có

thể thu hút đội ngũ này tư các trường nghề có chất lượng phục vụ cho hoạt động sản

xuất và kinh doanh của doanh nghiệp.

(iv) Đội ngũ công nhân kỹ thuật

Mở rộng đào tạo và nâng cao kỹ năng nghề nghiệp của người lao động, hoàn

thiện cơ cấu NNL theo định hướng và mục tiêu phát triển. Tăng tỷ lệ lao động qua

đào tạo đến năm 2020 là 65% và tỷ lệ này vào năm 2025 là 70% trong đó đào tạo

nghề là 60%. Tăng nhanh quy mơ, nâng cao chất lượng đào tạo CNKT trình độ cao

từ các trường đào tạo nghề phù hợp với yêu cầu phát triển các khu vực theo chiến

lược phát triển ngành dệt may. Tốc độ đào tạo CNKT thời kỳ 2016 – 2020 tăng 6,0

- 8,0%/năm, thời kỳ 2021 – 2030 là 8 – 10%/năm.



3.3.4. Cải thiện môi trường sản xuất kinh doanh theo hướng ưu đãi về tín

dụng; ưu đãi về thuế; ưu đãi về thuê mặt bằng, nhà xưởng nhằm thúc đẩy

phát triển loại hình DNNVV ngành dệt may, làm tăng khả năng tự chủ của

DNNVV và nâng cao lợi thế cạnh tranh của các DN này.

Với quy mô doanh nghiệp dệt may nhỏ nên vốn đầu tư ít, công nghệ ngành

dệt rất lạc hậu, đây chính là hệ quả của việc đầu tư nhỏ lẻ và manh mún. Theo số

liệu thống kê các DN dệt may nếu phân loại theo số lao động thì có 5.603 DN có

dưới 500 lao động chiếm 96, 81%, 127 DN có từ 500 đến 1.000 lao động chiếm

2,18%, 97 DN có từ 1.000 đến 5.000 lao động chiếm 1.66% và chỉ có 4 DN có từ



134



5.000 lao động trở lên chiếm 0,07%. Như vậy có thể thấy số lượng doanh nghiệp

dệt may có quy mơ nhỏ chiếm đa số tại Việt Nam. Dệt, nhuộm và hoàn tất là khâu

rất thâm dụng vốn và công nghệ cho nên với qui mô nhỏ như thế này thì các doanh

nghiệp dệt khó mà đáp ứng được nhu cầu thị trường và hiệu quả kinh tế cũng sẽ

thấp do không tận dụng được lợi thế kinh tế nhờ quy mơ. Chính vì thế để phát triển:



3.3.4.1.. Tạo điều kiện tối đa cho khu vực tư nhân phát triển.

Khu vực tư nhân trong nước và nước ngồi ngày càng đóng vai trò quan

trọng trong sự phát triển ngành dệt may của Việt Nam. Đồng thời, có thể dự báo gần

như chắc chắn rằng vị trí này của khu vực tư nhân sẽ được duy trì, thậm chí là tăng

cường hơn nữa trong tương lai. Với quan điểm thực tế này thì việc đa dạng hóa sở

hữu và loại hình doanh nghiệp trong ngành Dệt May là cần thiết. Vấn đề còn lại là

Chính phủ cần tạo môi trường ổn định vĩ mô hơn, môi trường cạnh tranh bình đẳng

hơn, và khơng ngừng cải thiện các yếu tố của chuyên ngành dệt may để giúp khu

vực tư nhân vốn rất năng động có thể phát triển hết tiềm năng của mình.

Tại các nước phát triển như Anh, Pháp, Đức, Mỹ... DNNVV luôn là một

thành tố rất quan trọng trong cơ cấu phát triển kinh tế. Mỗi năm, trên 50% GDP

quốc gia của các nước tiên tiến là do DNNVV tạo ra, chẳng hạn như New Zealand,

đến 99% hoạt động kinh doanh đều khởi phát từ DN dưới 50 lao động. Tại Nhật

Bản, Hàn Quốc... DNVVN cũng đều là những thành phần trụ cột của nền kinh tế.

Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, những DN có quy mô dưới 300 lao

động (theo điều 3, nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30-6-2009 của Chính phủ,

quy định về DNNVV) ngày càng phát triển mạnh về chất và lượng. Nếu chỉ xét trên

số lượng DN đăng ký kinh doanh, theo Hiệp hội Vitas, DNNVV chiếm đến 96,81%

tổng số DN. Điều này phần nào cho thấy quy mô và sức sống mạnh mẽ của mơ hình

này. Tuy nhiên, số liệu từ hiệp hội này cũng cho biết hiện nay DNVVN có số vốn

khoảng 121 tỉ USD, chiếm 30% tổng vốn đăng ký của DN. Trong đó DN vừa chỉ

chiếm 2,2%, DN nhỏ chiếm 29,6%, còn lại là DN siêu nhỏ chiếm đến 65,7%. Bên

cạnh đó, nếu so sánh với các quốc gia trong khu vực ASEAN, DNNVV VN không

chỉ thua kém về chất lượng mà còn cả về số lượng. Theo thống kê của World Bank,



135



tỉ lệ đăng ký DN ở VN là 0,77/1.000 người dân, trong khi tỉ lệ này ở Malaysia là

2,28; Singapore là 8,04/1.000 người dân.

Khi Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào sân chơi quốc tế, làn sóng

khởi nghiệp đã và đang dần lan tỏa trong giới trẻ.Tại TP.HCM và Hà Nội, đã có

nhiều câu lạc bộ, nhóm khởi nghiệp được thành lập, sáng lập viên lẫn hội viên đều

là những người rất trẻ. Để khởi nghiệp thành công, chắc chắn một trong những bước

đầu phải kinh qua đó là thành lập một DNNVV. Để một nền kinh tế phát triển bền

vững, lành mạnh, ngoài những đầu tàu kinh tế là các tập đoàn, tổng công ty với

nhân lực, tài lực to lớn, luôn rất cần sự góp sức của DNNVV dệt may.

Nước ta đang trên con đường cơng nghiệp hóa - hiện đại hóa, tầm nhìn 20

năm và xa hơn nữa, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, theo tôi, lại càng rất cần chú

trọng phát triển hơn nữa DNNVV dệt may ngay từ hơm nay. Sự khởi nghiệp gắn

liền với việc hình thành DNNVV, do đó những vấn đề của nhà quản trị khi khởi

nghiệp cũng là những vấn đề cốt lõi của các DN này như: vốn, thuế, mặt bằng, công

nghệ, con người, chiến lược dài hạn...Ngoài sự hỗ trợ từ khung pháp lý và các biện

pháp mang tính hỗ trợ, “đỡ đầu” từ Nhà nước, hiệp hội nghề nghiệp... cũng rất cần

thiết. Cụ thể:

Thứ nhất, nhìn từ góc độ quản trị DN, nhà quản trị phải nắm vững các kiến

thức quản trị cốt lõi, cần am hiểu về dòng tiền, giá trị sản phẩm của mình, cũng như

cách vận hành DN, sử dụng nhân sự và pháp luật hiện hành. Học hỏi các mơ hình

quản trị của các nước tiên tiến, có DNNVV mạnh, tự trau dồi, nâng cao kỹ năng,

kiến thức... là điều nhà quản trị, các đồng sáng lập lẫn nhân viên cần thấy quan

trọng và nên làm.

Thứ hai, các tổ chức hiệp hội DNNVV trung ương, địa phương cần có những

sự linh hoạt trong kết nối, phát huy tính năng động sáng tạo của người trẻ đang

trong khí thế khởi nghiệp.Những câu lạc bộ, nhóm khởi nghiệp, ươm mầm ý tưởng

rất dồi dào, nếu các tổ chức hiệp hội DNNVV có sự kết nối chặt chẽ với các nhóm

này, chắc hẳn sẽ có nhiều DN tốt được thành lập và phát triển.



136



Thứ ba, Nhà nước có những chính sách cụ thể, luật định cụ thể dành cho

DNNVV, nhằm hỗ trợ một cách tốt nhất cho dạng hình DN này, đặc biệt về nguồn

vốn, ưu đãi về thuế. Nếu như ý tưởng là điểm mạnh của DNNVV thì vốn, thuế luôn

là vấn đề đau đầu đối với các doanh nghiệp trong bước đầu khởi nghiệp. Do vậy,

các định chế tài chính cần minh bạch và đơn giản hóa các bước cho vay, để DN dễ

dàng tiếp cận nguồn vốn. Các tổ chức tín dụng nhà nước có thể liên kết với các định

chế tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới để hỗ trợ DNNVV trong nước phát

triển một cách hiệu quả hơn, lớn mạnh hơn.

Hiện nay, Bộ Kế hoạch và đầu tư đã trình Quốc hội về dự thảo Luật hỗ trợ

DNNVV. Nếu luật được thông qua và đi vào cuộc sống, đây chắc chắn là một bước

tiến quan trọng, mở đường cho sự phát triển của DNNVV trong thời gian tới.



3.3.4.2. Tận dụng cơ hội tham gia Hiệp định xuyên Thái Bình Dương (TPP)

để thu hút đầu tư nâng cao chuỗi giá trị dệt may.

Mặc dù TPP - với quy tắc “từ sợi trở đi” - sẽ là một thách thức rất lớn đối

ngành dệt may Việt Nam và các DNNVV dệt may, nhưng TPP đồng thời cũng là cơ

hội lớn để chúng ta tìm cách nâng cao chuỗi giá trị dệt may thông qua việc nâng cấp

công đoạn Kéo sợi - Dệt - Nhuộm - Hồn tất - May. Chính sách của các địa phương

nên hướng đến việc ưu tiên thu hút đầu tư trực tiếp của các DN dệt may nước ngồi

có năng lực về vốn, trình độ kỹ thuật, khả năng tổ chức quản lý, và nhất là hiểu biết

nhu cầu dệt may trên thị trường thế giới đầu tư vào các công đoạn sợi - dệt nhuộm - hoàn tất. Đây là cách nhanh nhất để gia tăng sự kết nối giữa các khâu trong

quy trình sản xuất sợi – dệt – may, từ đó giúp nâng cấp chuỗi giá trị dệt may và tận

dụng được cơ hội hưởng ưu đãi thuế suất xuất khẩu từ mức trung bình 17,5% hiện

nay xuống 0% vào thị trường các nước thuộc TPP. Tất nhiên, hướng tới thu hút FDI

khơng có nghĩa là bỏ qn khu vực DN trong nước. Chính phủ cần tạo điều kiện

cho các DN dệt may nội địa, đặc biệt là các DN thuộc Tập đoàn Dệt May Việt Nam,

tham gia đầu tư vào các công đoạn sợi – dệt – nhuộm – hoàn tất. Tuy nhiên, với

năng lực hạn chế hiện nay của các DNNVV trong nước, khuyến khích đầu tư nước



137



ngồi vẫn nên là ưu tiên chính sách trước mắt nhằm đáp ứng các yêu cầu của Hiệp

định TPP.

Tuy nhiên, việc đáp ứng quy tắc“từ sợi trở đi” hiện đang là thách thức lớn

đối với ngành dệt may Việt Nam bởi trong chuỗi sản xuất khép kín từ trồng bơng,

xơ, kéo sợi, dệt, nhuộm, hồn tất vải, may sản phẩm thì Việt Nam chỉ mới có ưu thế

ở cơng đoạn cuối là may (gia cơng), trong khi đó, dệt, nhuộm, hồn tất vải vẫn là

những khâu yếu nhất. Chính “nút thắt cổ chai” ở khâu dệt - nhuộm - hoàn tất khiến

cho việc đáp ứng quy tắc “từ sợi trở đi” trở nên bất khả thi nếu chỉ dựa vào nguồn

lực trong nước bởi vì đây là những cơng đoạn thâm dụng về vốn, thời gian hoàn vốn

lâu, và đòi hỏi trình độ kỹ thuật rất cao. Theo quan niệm của tác giả, mặc dù đây là

thách thức rất lớn đối ngành dệt may Việt Nam và các DNNVV dệt may nhưng đây

cũng là cơ hội lớn để chúng ta tìm cách nâng cao chuỗi giá trị dệt may thông qua

việc nâng cấp công đoạn dệt - nhuộm - hồn tất. Hiện nay có khá nhiều các DN

nước ngồi đã và đang đầu tư vào các công đoạn sợi, dệt – nhuộm – hoàn tất để sản

xuất vải thành phẩm có chất lượng cao và đa dạng về chủng loại cung cấp cho cơng

đoạn may xuất khẩu nhằm đón đầu cơ hội TPP.



3.3.4.3. Lấy giá trị gia tăng làm mục tiêu, đồng thời là thước đo cho sự phát

triển DNNVV Dệt may.

Một nhận định quan trọng được rút ra từ lý thuyết và thực tiễn phát triển

công nghiệp dệt may là cạnh tranh như thế nào quan trọng hơn cạnh tranh trong nội

bộ ngành. Cụ thể hơn, nếu cạnh tranh trong một ngành bị coi là “công nghệ thấp”

song đem lại giá trị gia tăng cao hơn và vì vậy sẽ mang lại tỷ lệ lợi nhuận cao hơn,

thì còn hơn là cạnh tranh trong một ngành được coi là “công nghệ cao” nhưng giá

trị gia tăng và lợi nhuận thấp hơn.

Với quan điểm nêu trên, việc lấy xuất khẩu làm mục tiêu cho phát triển của

ngành, mở rộng thị trường xuất khẩu, đồng thời phát triển tối đa thị trường nội địa

của ngành là xuyên suốt. Thực tế là từ trước đến nay dệt may Việt Nam luôn đi

theo quan điểm này, lấy xuất khẩu làm mục tiêu, bất kể giá trị gia tăng tạo ra nhiều

hay ít. Như đã phân tích luận án, mải miết chạy theo xuất khẩu, đa số doanh nghiệp



138



dệt may Việt Nam không những bị kẹt trong “bẫy cơng nghệ thấp” mà còn đánh

mất ln thị trường nội địa.

Vì vậy, nếu theo quan điểm mới, khi giá trị gia tăng được chọn làm mục tiêu

và thước đo cho sự phát triển ngành, chúng ta sẽ ý thức rất rõ những mặt trái trong

dài hạn của việc chạy theo hoạt động gia công vốn dễ dàng trong ngắn hạn nhưng

lại không bền vững và để lại nhiều hệ lụy trong dài hạn. Đồng thời, nếu áp dụng

quan điểm của chúng tơi thì ngay cả việc phân biệt thị trường nội địa và xuất khẩu

cũng trở nên khơng còn quan trọng nữa vì sự phân biệt hữu ích nhất nằm ở giá trị

chứ khơng nằm ở khu vực địa lý. Một lần nữa, cạnh tranh như thế nào quan trọng

hơn cạnh tranh ở đâu. Nếu như các doanh nghiệp dệt may Việt Nam tiến lên được

các nấc thang giá trị gia tăng cao hơn và thâm nhập được một cách vững chắc vào

các thị trường cao cấp thì việc để ngỏ thị trường trong nước cũng chỉ nên xem là

một sự phân công lao động trong chuỗi giá trị toàn cầu.



3.3.4.4. Tăng cường hỗ trợ DNNVV Dệt may kiểm sốt chi phí sản xuất.

Mặc dù lợi thế cạnh tranh nhờ lao động rẻ không thể tồn tại mãi, nhưng một

cách thực tế, lợi thế này vẫn sẽ là năng lực cạnh tranh cốt lõi của các DN dệt may

Việt Nam ít nhất là trong ngắn và trung hạn. Để giúp các DN dệt may duy trì được

tính cạnh tranh về chi phí, chính phủ và Hiệp hội dệt may cần giúp các DN dệt may

nâng cao hiệu quả thông qua việc đào tạo lao động có kỹ năng, kỷ luật cơng

nghiệp, đồng thời áp dụng các quy trình quản lý sản xuất chuẩn mực. Các Bộ,

ngành hữu quan cần phối hợp với hiệp hội dệt may xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu

và thông tin thị trường, nhờ đó giúp DN giảm chi phí tìm kiếm thơng tin giá cả, thị

trường, đối tác, nguồn cung ứng; đồng thời thử nghiệm xây dựng mơ hình Trung

Tâm đầu mối mua/nhập khẩu/cung ứng nguyên phụ liệu tập trung để giúp các

DNNVV, khắc phục bất lợi do yếu thế trong đàm phán, đặc biệt là về giá cả,

phương thức và điều kiện thanh tốn. Nhìn thấy trước nhu cầu tích tụ và mở rộng

quy mơ của các DN dệt may, Chính phủ cần tạo điều kiện thuận lợi cho việc tích tụ

và mở rộng quy mơ của các DN dệt may, đặc biệt là các cơ sở sản xuất công nghiệp

hỗ trợ xuất khẩu. Cuối cùng, việc cải thiện dịch vụ logistics thông qua việc tiếp tục



139



xây dựng cơ sở hạ tầng mới và nâng cao hiệu quả khai thác các cơ sở hạ tầng hiện

hữu, giảm thời gian và chi phí thơng quan hàng hóa sẽ giúp giảm đáng kể chi phí

xuất nhập khẩu của các DNNVV dệt may.



3.3.4.5. Khuyến khích phát triển cơng nghiệp dệt may gắn với bảo vệ mơi

trường.

Để khuyến khích thu hút đầu tư trong và ngồi nước vào ngành dệt nhuộm,

Chính phủ cần có chính sách về xử lý mơi trường thì đây sẽ là một trở ngại lớn cho

việc nâng cấp chuỗi giá trị dệt may thông qua việc nâng cấp cơng đoạn dệt –

nhuộm – hồn tất. Điều này cũng có nghĩa là mục tiêu nâng cao giá trị gia tăng

hàng dệt may xuất khẩu sẽ khó đạt được và mức độ hưởng lợi từ Hiệp định TPP sẽ

rất hạn chế. Do đó, chính phủ cần tạo điều kiện để thu hút đầu tư vào các công đoạn

dệt – nhuộm – hồn tất, đồng thời cân đối với chính sách bảo vệ mơi trường. Để

thực hiện được chính sách này, thứ nhất chính quyền địa phương cần quy hoạch

các khu cơng nghiệp tập trung cho ngành dệt nhuộm trong đó có các khu xử lý

nước thải tập trung nhằm làm giảm chi phí xử lý nước thải cho các DNNVV Dệt

may. Trong trường hợp không thể xây dựng các khu cơng nghiệp tập trung như đã

nói ở trên thì khi thu hút đầu tư vào ngành dệt nhuộm, cần định hướng thu hút các

DN FDI có năng lực xử lý nước thải. Cuối cùng, cần nhất quán với tiêu chuẩn

nước thải sau xử lý thải ra mơi trường bên ngồi là loại B theo quy định của pháp

luật để mức chi phí xử lý nước thải hợp lý.

Theo lý thuyết kinh tế, các quyết định của doanh nghiệp nói chung được

thực hiện trên cơ sở phân tích lợi ích chi phí, với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.

Điều này có một bất cập – mà lý thuyết kinh tế gọi là thất bại của thị trường – đó là

khi một doanh nghiệp tính tốn chi phí, nó thường chỉ quan tâm tới chi phí liên

quan trực tiếp đến mình mà khơng tính đến chi phí gây ra cho những đơn vị kinh tế

khác. Để dễ hiểu, nếu 1 DN dệt nhuộm khơng tính đến chi phí do nước thải ơ

nhiễm của nó gây ra cho những người khác thì chi phí nó phải chịu nhỏ hơn chi phí

thực sự mà xã hội phải trả. Khi ấy, vì khơng phải chịu tồn bộ chi phí phát sinh,

DN này sẽ có xu hướng sản xuất quá mức tối ưu của xã hội. Khi xảy ra tình trạng



140



này – chi phí tư nhân nhỏ hơn chi phí xã hội – thì nhà nước có cơ sở để can thiệp

nhằm kéo chi phí tư nhân bằng với chi phí xã hội. Đây cũng chính là cơ sở để

khẳng định “Phát triển ngành Dệt May phải gắn với bảo vệ môi trường và xu thế

dịch chuyển lao động nơng nghiệp nơng thơn.”

Vì vậy, Chính phủ muốn phát triển công nghiệp dệt-nhuộm để tạo nguyên

liệu tại chỗ cho ngành may thì Chính phủ nên đứng ra xây dựng hoặc khuyến khích

hình thành các khu cơng nghiệp dệt may tập trung, trong đó có xây dựng hệ thống

xử lý nước thải trung tâm để đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp dệt nhuộm.



3.3.5. Nâng cao năng lực Marketing, xây dựng kế hoạch và triển khai hành

động một cách khoa học

Trong hoạt động của DN nói chung và DNNVV nói riêng, lĩnh vực

marketing đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập hệ thống tiêu thụ sản phẩm,

thiết lập mạng lưới thị trường và quyết định rất lớn trong việc cạnh tranh. Do đó, để

nâng cao năng lực marketing cho DNNVV trong bối cảnh hiện nay là việc làm cần

thiết, vì có như vậy các DNNVV mới có thể nâng khả năng cạnh tranh trên thị

trường ở trong và ngoài nước. Một số giải pháp đưa ra như sau:



3.3.5.1. DNNVV chủ động xây dựng chính sách giá bán sản phẩm linh hoạt

nhằm thích ứng với những thay đổi của thị trường

Giá bán sản phẩm là thước đo hiệu quả, tác động trực tiếp tới quyết định

mua sản phẩm của khách hàng trên thị trường. Trong mọi hoàn cảnh, việc thay đổi

giá bán sản phẩm sẽ tác động trực tiếp tới sức cầu trên thị trường. Vậy, DNNVV

phải làm cách nào để xây dựng chính sách giá bán sản phẩm linh hoạt nhằm thích

ứng với những thay đổi của thị trường. Muốn làm được điều đó, các DNNVV cần

thực hiện như sau:

- Xây dựng chính sách giá bán sản phẩm mềm dẻo trong giai đoạn dài, có

nghĩa là chính sách giá bán sản phẩm của DNNVV phải phù hợp với thị trường trong

từng thời điểm, không quá cứng nhắc và q ngun tắc. Vì như vậy, có thể dẫn đến

tình trạng khơng phù hợp, khơng thích ứng với thị trường trong thời điểm đó.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Căn cứ dự báo nhu cầu sử dụng lao động trình độ chuyên cao ngành Dệt May đến năm 2030 được cho trong bảng 3.1.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×