Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Cơ sở lý luận

1 Cơ sở lý luận

Tải bản đầy đủ - 0trang

2.1.2 Các hình thức của giáo dục

Hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam bao gồm giáo dục

chính quy và giáo dục thường xuyên

Các cấp học và và trình độ của hệ thống giáo dục quốc dân

bao gồm:

Giáo dục mầm non có nhà trẻ mẫu giáo.

Giáo dục phổ thơng có tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ

thông.

Giáo dục dạy nghề có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề.

Giáo dục đại học và sau đại học đào tạo trình độc Cao

đẳng, trình độ Đại học, trình độ Thạc sỹ, trình độ Tiến sỹ.

2.1.3 Các nguồn đầu tư tài chính cho giáo dục đào tạo

Với chủ trương xã hội hóa giáo dục đào tạo của Đảng và

nhà nước, nguồn tài chính đầu tư cho giáo dục đào tạo có những

thay đổi về cơ cấu. Theo mục 2 chương VII Luật giáo dục Việt

Nam thì các nguồn tài chính đầu tư cho giáo dục bao gồm:

a) Đầu tư từ ngân sách nhà nước

Đầu tư phát triển ngành giáo dục bằng nguồn vốn ngân

sách nhà nước là hoạt động sử dụng các nguồn lực vật chất,

nguồn lực lao động và trí tuệ để xây dựng cơ sở hạ tầng mua

sắm trang thiết bị, đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực, thực hiện

các chi phí thường xuyên gắn liền với hoạt động của các cơ sở

hạ tầng của ngành giáo dục đang cong tồn tại và nâng cao chất

lượng đào tạo của ngành giáo dục.

b) Đầu tư từ ngoài nguồn ngân sách

Nguồn vốn ngồi ngân sách nhà nước đóng vai trò trong

việc mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng, phát huy hiệu quả

sản phẩm của giáo dục đào tạo trong nền kinh tế xã hội.

- Đầu tư từ nguồn thu học phí

Nguồn thu học phí có ý nghĩa kinh tế chính trị xã hội sâu

sắc đối với nhà trường đó là khoản bù đắp một phần những chi

4



phí quá lớn mà khả năng ngân sách nhà nước không cung cấp,

đối với nhà nước là thực hiện phương châm nhà nước và nhân

dân cùng chăm lo sự nghiệp giáo dục đào tạo đối với xã hội là

phát huy trách nhiệm của cộng đồng cho sự “Trồng người” của

đất nước.

- Thu từ đóng góp của các doanh nghiệp, cơ quan có sử

dụng lao động được đào tạo.

Chính phủ khuyến khích sự tham gia tích cực của các công ty,

doanh nghiệp và cộng đồng trong việc khai thác nguồn tài chính đầu tư cho giáo

dục đào tạo.

- Nguồn vốn hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục đào tạo

Nước ta ngày càng mở rộng quan hệ hợp tác với tất cả các nước trên thế

giới trong đó có lĩnh vực giáo dục đào tạo. Ngoài các khoản đầu tư trực tiếp từ

nước ngoài vào Việt Nam, nhà nước ta còn giành một khoản đầu tư lớn để đào

tạo những người có năng lực đi học ở nước ngoài. Việt Nam phải tranh thủ mọi

cơ hội và tạo điều kiện để nâng cao đầu tư giáo dục đào tạo.

2.1.4 Vai trò của giáo dục, đầu tư cho giáo dục

2.1.4.1 Vai trò của giáo dục

Như chúng ta đã biết trong thời đại hội nhập như hiện nay, khoa học cơng

nghệ bùng nổ thì càng khơng thể thiếu vai trò của người dân có trình độ cơng

nghệ cao. Việc thực hiện những mục tiêu cải cách giáo dục đã thực sự đem lại

những chuyển biến về trình độc học vấn trong cộng đồng người dân, đây là một

yếu tố thuận lợi mang tính nội sinh trong việc đẩy mạnh các hoạt động đào tạo

nghề cũng như giải quyết việc làm cho người lao động.

Điều đó cho chúng ta thấy khi người dân đạt được một trình độ học vấn

nhất định họ sẽ có khả năng tiếp thu thông tin cũng như khả năng phát huy

chuyên môn của mình một cách tốt nhất. Vì vậy, những người có trình độ học

vấn càng cao thì cơ hội họ tìm được một cơng việc tốt và thích hợp sẽ dễ dàng

hơn so với những người khác. Mặt khác, một điều mà chúng ta dễ dàng nhận ra

đó là việc đầu tư cho giáo dục sẽ làm tăng năng suất cho chính bản thân họ.

Con người là nhân tố sáng tạo ra kỹ thuật công nghệ và trực tiếp sử dụng chúng

vào q trình phát triển kinh tế. Do đó ta có thể nhận thấy việc nâng cao trình độ

5



học vấn và trang bị kiến thức chuyên môn cho người dân sẽ làm tăng năng suất

và hiệu quả cao. Ở phạm vi vĩ mô, giáo dục làm tăng kỹ năng lao động, tăng

năng suất và dẫn đến thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Do vậy, giáo dục được xem

như là một hoạt động đầu tư làm tăng vốn nhân lực, có ích cho tăng trưởng kinh

tế trong dài hạn (Trần Nam Bình, 2002).

Phát triển giáo dục ln là một động lực quan trọng thúc đẩy sự

nghiệp cơng nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, là điều kiện phát huy nguồn

nhân lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế

nhanh và bền vững.

Phát triển nguồn nhân lực là quá trình tạo ra sự biến đổi về số lượng và

chất lượng nguồn nhân lực, biểu hiện ở sự hình thành và hồn thiện từng bước

về thể lực, kiến thức, kỹ năng, trình độ và nhân cách nghề nghiệp, đáp ứng nhu

cầu hoạt động, lao động cá nhân và sự phát triển của xã hội.

Giáo dục nâng cao chất lượng của lao động, được thể hiện qua việc tích lũy vốn,

tăng thu nhập người lao động. Giáo dục cũng là công cụ để thế hệ trước truyền

lại cho các thế hệ sau các tư tưởng và tiến bộ khoa học công nghệ. Giáo dục đào

tạo thực hiện mục đích “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”

hình thành đội ngũ có tri thức, có tay nghề, c năng lực thực hành, tự chủ năng

động sáng tạo, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước và yêu chủ nghĩa xã

hội. Giáo dục gắn liền với học hành, những điều học sinh học trong nhà trường

sẽ gắn với nghề nghiệp và cuộc sống trong tương lai của họ. Giáo dục đào tạo

lớp người có kiến thức cơ bản, làm chủ kỹ năng nghề nghiệp, có ý thức vươn lên

về khoa học, cơng nghệ, xây dựng đội ngũ công nhân lành nghề, đào tạo các

chuyên gia, các nhà khoa học, nhà văn hóa, nhà kinh doanh quản lý nhằm phát

huy mọi tiềm năng của đội ngũ trí thức để tạo nguồn lực trí tuệ và nhân tài cho

đất nước.

2.1.4.2 Vai trò của đầu tư cho giáo dục

Đầu tư cho giáo dục được coi là đầu tư có lãi lớn nhất cho tương lai của

mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng, mỗi gia đình, dòng tộc và mỗi cá nhân.

Muốn hoạch định được chính sách đầu tư sâu rộng có hiệu quả cho giáo

dục phải có tầm nhìn xa trơng rộng. Chính vì vậy, UNESCO đã chỉ ra vai trò của

giáo dục trong thời đại ngày nay và đã từng kêu gọi các quốc gia giảm chi phí

cho vũ khí để đầu tư cho giáo dục. Theo ước tính: Cứ ba phút thế giới lại có một

6



phát minh khoa học, nên UNESCO đã khuyến nghị với mọi người về khối

lượng tri thức khổng lồ của nhân loại cần được chuyển giao cho các thế hệ. Điều

đó khẳng định rằng: Quốc gia nào không đầu tư cho giáo dục sẽ có nguy cơ tụt

hậu nghiêm trọng trong tương lai.

Luật giáo dục 2005 của nước ta cũng đã khẳng định: “Phát triển giáo dục

là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng

nhân tài” (điều 9). Tại điều 13 cũng nhấn mạnh: “Đầu tư giáo dục là đầu tư

phát triển, Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục. Khuyến khích bảo hộ các

quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước đầu tư

cho giáo dục, trong đó ngân sách Nhà nước giữ vai trò chủ yếu trong tổng

nguồn lực đầu tư cho giáo dục”. Giáo dục đảm nhận việc dạy người với bốn

trọng tâm của “Chiến lược con người” ở thế kỷ 21: Thứ nhất là học tri

thức (Con người có tri thức chuyên sâu, có trình độ học vấn và trình độ văn hố

cao, có khả năng cống hiến). Thứ hai là: học cách làm việc (Biết tạo ra những

sản phẩm vật chất và tinh thần có chất lượng cao cho xã hội, sự năng động sáng

tạo trong công việc). Thứ ba là: học cách tồn tại (để có khả năng thích nghi với

nhịp điệu của xã hội hiện đại trong môi trường sống rộng mở phức tạp, đa chiều.

Nhất là trong xu thế hội nhập hiện nay). Thứ tư là: học cách chung sống (Có

kiến thức về bản sắc riêng của từng dân tộc, am hiểu văn hoá thế giới, đáp ứng

được xu thế quốc tế hố tồn cầu. Con người chung sống trong đối thoại hồ

bình). Điều đó đặt giáo dục trước những cơ hội vàng, song giáo dục cũng phải

chấp nhận những thách thức lớn lao của thời đại. Nếu khơng được đầu tư đúng

mức, khó lòng đạt được mục tiêu.

2.1.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển đầu tư

cho giáo dục bằng nguồn ngân sách nhà nước

a) Cơ chế chính sách và trình độ quản lý

Nguồn vốn ngân sách nhà nước là nguồn vốn chịu sự quản lý chặt chẽ của

nhà nước, tuy nhiên không phải khi nhà nước quản lý ở tất cả mọi mặt thì nguồn

vốn đó sẽ phát huy tác dụng một cách tốt nhất. Vì vậy, để đảm bảo cho nguồn

vốn đầu tư được bố trí hợp lý cần phải tăng cường chất lượng của công tác lập

kế hoạch, tiến hành dự báo thường xuyên và tăng cường cung cấp thông tin về

lượng vốn cần thiết cho đầu tư phát triển.

b) Đặc trưng của ngành giáo dục thời kì mới

7



Với quan điểm chỉ đạo “ giáo dục là quốc sách hàng đầu”, phát triển giáo

dục là nền tảng, nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những động lực

quan trọng thúc đẩy sự nghiệp cơng nghiệp hóa hiện đại hóa, là yếu tố cơ bản để

phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Sự phát triển của khoa

học công nghệ, sự phát triển năng động của nền kinh tế, q trình hội nhập và

tồn cầu hóa đang làm cho việc rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giữa

các nước trở nên hiện thực hơn và nhanh hơn. Khoa học công nghệ trở thành

động lực cơ bản cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Giáo dục là nền tảng của sự

phát triển khoa học – công nghệ, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của

xã hội hiện đại và đóng vai trò chủ yếu trong việc nâng cao ý thức dân tộc, tinh

thần trách nhiệm và năng lực của các thế hệ hiện nay và mai sau. Đây là đòi hỏi

khách quan cần có sự quan tâm và đầu tư phát triển ngành giáo dục.

Nguồn vốn giành cho đầu tư giáo dục cũng có những chuyển biến về cơ

cấu hiện nay phần lớn nguồn vốn đầu tư là từ ngân sách nhà nước, nhưng trước

những thay đổi của bối cảnh quốc tế, cơ cấu nguồn vốn thay đổi theo hướng

giảm tỉ trọng nguồn vốn ngân sách nhà nước, tăng tỉ trọng nguồn vốn của các cá

nhân tổ chức trong nước và ngoài nước, giảm gánh nặng của cả nước và tăng

chất lượng đào tạo, đổi mới hệ thống cơ sở vật chất.

c) Các nhân tố về kinh tế xã hội

Do đặc điểm kết cấu của cơ sở hạ tầng giáo dục của Việt Nam, các trường đại

học phân bổ không đồng đều giữa các tỉnh, thành phố trong cả nước. Nguồn vốn

ngân sách hàng năm giành cho các ngành tăng hay giảm phụ thuộc rất nhiều vào

tổng thu ngân sách nhà nước hàng năm. Nếu tổng thu ngân sách nhà nước hàng

năm lớn thì phần ngân sách giành để đầu tư phát triển cho ngành giáo dục nói

riêng và các ngành khác nói chung sẽ có xu hướng tăng lên. Các khoản thu ngân

sách nhà nước bao gồm: thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước, thu từ doanh

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thu từ thuế, thu từ hoạt động cho thuê của nhà

nước,…. Các khoản thu này chịu ảnh hưởng rất nhiều của các nhân tố kinh tế

như: tăng trưởng kinh tế hàng năm, lạm phát, điều kiện kinh tế thế giới,…

d) Một số nhân tố khác

- Quan điểm phát triển của nhà nước

Đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến các định hướng phát triển của các

ngành nói chung và của ngành giáo dục nói riêng. Quan điểm phát triển của nhà

8



nước sẽ ảnh hưởng đến mục tiêu định hướng phát triển, cơ cấu nguồn vốn đầu

tư. Theo từng thời kỳ, nhà nước có quan điểm phát triển khác nhau phù hợp với

điều kiện khách quan và sự phát triển của đất nước. Hiện nay, với quan điểm xây

dựng nền giáo dục có tính nhân dân, dân tộc, khoa học hiện đại theo định hướng

xã hội chủ nghĩa.

- Đặc điểm đầu tư vào ngành giáo dục

Đầu tư phát triển giáo dục đào tạo không giống với đầu tư phát triển các

ngành sản xuất. Hiệu quả của quá trình đầu tư chỉ có thể thấy được sau một q

trình rất dài. Có thể thấy, việc bỏ ra chi phí để đào tạo một con người bắt đầu từ

khi cho trẻ đi học mẫu giáo rồi trải qua các bậc học tiểu học, trung học, đại học,

sau các bậc học này mới có thể thấy được người cơng dân đó cống hiến được gì

cho xã hội và những cống hiến này cũng rất khó để lượng hóa được thành các

con số doanh thu, lợi nhuận… để đánh giá xem dự án đầu tư đó có hiệu quả hay

khơng hiệu quả. Vì đặc trưng này nên rất ít các tổ chức, cá nhân muốn tham gia

vào đầu tư phát triển, nguồn vốn chủ yếu cho phát triển của ngành hiện nay chủ

yếu là nguồn vốn ngân sách nhà nước và vốn đi vay viện trợ nước ngoài.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Cơ sở lý luận

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×