Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 Phân loại phương pháp dạy học hợp tác

3 Phân loại phương pháp dạy học hợp tác

Tải bản đầy đủ - 0trang

Dạy học hợp tác chính thức đảm bảm rằng học sinh được tham gia tích cực vào các

q trình tổ chức tài liệu học tập, tìm hiểu và diễn giải chúng, tóm tắt và tích hợp chúng

vào các cấu trúc khái niệm đã có.

Dạy học hợp tác khơng chính thức (Informal Cooperative Learning): những

nhóm đặc biệt, khơng theo thể thức cố định nào, có thể tồn tại trong phạm vi từ vài phút

đến một tiết học. Có thể dùng kiểu nhóm này trong các hình thức giảng dạy trực tiếp (như

thuyết trình, trình diễn thao tác, các đoạn phim và video) để hướng chú ý của học sinh,

sinh viên vào một loại tài liệu cụ thể, tạo tâm thế thuận lợi cho việc học, giúp ích trong

việc đặt ra những mong đợi mà bài học hướng tới, đảm bảo rằng học sinh, sinh viên xử lí

được kiến thức mà bạn đang trình bày, và đưa ra phần kết luận cho một bài giảng. Dạy

học hợp tác khơng chính thức thường được tổ chức theo hình thức học sinh, sinh viên

dành từ 3 tới 5 phút thảo luận tập trung trước và sau bài giảng và từ 2 tới 3 phút thảo luận

từng cặp đôi trong suốt bài giảng.

Dạy học hợp tác khơng chính thức giúp bạn có thể bảo đảm rằng học sinh thực hiện

những thao tác về trí tuệ như xây dựng, giải thích, tóm tắt tài liệu, biết hợp nhất chúng

dựa vào các khái niệm trong suốt quá trình giảng dạy trực tiếp.

Dạy học hợp tác nhóm cơ sở (Cooperative Base Group): nhóm hợp tác lâu dài,

khơng đồng nhất gồm nhiều thành phần hỗn hợp, số thành viên ổn định và mục đích căn

bản là để các thành viên ủng hộ, giúp đỡ, khuyến khích lẫn nhau nhằm đạt được thành

công trong học tập. Dạy học hợp tác nhóm cơ sở tạo cho học sinh, sinh viên mối quan hệ

mật thiết trong thời gian dài, cho phép các thành viên có điều kiện giúp đỡ, khuyến khích

và trợ giúp nhau trong các nhiệm vụ học tập để đạt được sự tiến bộ.

b) Theo Jerome Feldman – Dong McPhee (2008) thì có bốn kiểu dạy học hợp tác:

 Dạy học hợp tác theo kiểu nhóm điều tra (group investigations): “học sinh làm

việc để hoàn thành một dự án hoặc một tiến trình và dùng các kỹ năng tư duy bậc

cao hơn”.

 Dạy học hợp tác theo kiểu nhóm thành tích (Student achievement teams):

“được dùng để xem xét và mở rộng nội dung cái mà đã được trình bày bởi giáo

viên hướng dẫn”.

 Dạy học hợp tác xử lý theo cặp (Pair processing): “Việc xử lý theo cặp là một

công cụ có giá trị cho một khóa học hợp tác tích cực trong thời gian ngắn”.

 Dạy học hợp tác theo kiểu ghép nhóm (Jigsaw): “ được dùng để tường thuật tài

liệu.” Đây là phương pháp nhằm nâng cao sự ngang hàng (peer to peer) trong việc

dạy và việc học.

c) Theo Arends R.I (2007) thì có bốn cách tiếp cận dạy học hợp tác:

 Phân chia thành tích nhóm học sinh (Student teams achievement divisions):

“trong loại hình dạy học hợp tác này, học sinh trong các nhóm hỗn hợp nhiều

GVHD: ThS Trần Hữu Thi



Tiểu luận Phương Pháp Dạy Học Hợp Tác



thành phần giúp đỡ lẫn nhau bằng việc dùng nhiều loại phương pháp học hợp tác

và hình thức vấn đáp.”

 Ghép nhóm (Jigsaw): Trong mơ hình ghép nhóm, mỗi thành viên nhóm có trách

nhiệm với một bộ phận mình phụ trách về các tài liệu học tập và việc dạy cho bộ

phận đó là một phần nhiệm vụ của các thành viên nhóm.

 Nhóm điều tra (group investigation): học sinh khơng chỉ làm việc cùng nhau mà

còn giúp đỡ cho kế hoạch cả hai chủ đề để học và điều tra các thủ tục được sử

dụng.

 Phương pháp cấu trúc (The structural approach): giới thiệu hai cấu trúc để

giáo viên sử dụng dạy học, đó là: Suy nghĩ – làm việc đôi –chia sẻ (think – pair –

share) và đánh số những cái đầu làm việc với nhau (numbered heads together).

1.4 Minh họa phương pháp

Khi dạy bài Đường parabol (Hình học 10 nâng cao), giáo viên có thể tổ chức cho học

sinh hoạt động theo nhóm trong một số tình huống học tập, chẳng hạn:

a) Sau khi đưa ra định nghĩa parabol, để củng cố khái niệm này giáo viên có thể phân lớp

thành các nhóm để giải các bài tập sau:

 Bài tập nhóm(1 - 2 – 3) Dùng định nghĩa, hãy lập phương trình parabol có tiêu



điểm F(0;1) có đường chuẩn

 Bài tập nhóm( 4- 5 – 6) Dùng định nghĩa, hãy lập phương trình parabol có tiêu



điểm F(1;-2) có đường chuẩn

Sau khi các nhóm cử đại diện trình bày bài tập nhóm mình, giáo viên u cầu nhóm khác

nhận xét, giáo viên đánh giá kết quả hoạt động của học sinh.

b) Sau khi học phương trình chính tắc của parabol, để củng cố việc viết phương trình

chính tắc có thể tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm giải các bài tập sau:

 Bài tập nhóm( 1 - 2 – 3) Viết phương trình chính tắc của parabol biết tiêu điểm



F(3;0)

 Bài tập nhóm( 4 - 5 – 6) Xác định tiêu điểm và phương trình đường chuẩn của

parabol

Qua phần trình bày của các đại diện nhóm, học sinh biết được cách làm cho các dạng bài

tập khác nhau về phương trình chính tắc của parabol. Điều này khó hồn thành được khi

học sinh làm việc cá nhân trong một khoảng thời gian ngắn.

1.5 Kết luận:

GVHD: ThS Trần Hữu Thi



Tiểu luận Phương Pháp Dạy Học Hợp Tác



* Ưu và nhược điểm của phương pháp dạy học hợp tác

- Ưu điểm:

Dạy học hợp tác theo nhóm khơng những giúp học sinh giải quyết tốt nhiệm vụ

học tập mà còn giúp học sinh hình thành các phẩm chất nhân cách và các kỹ năng xã hội

tốt hơn. Cụ thể là: Học theo nhóm phát huy cao độ vai trò chủ thể, tích cực của mỗi cá

nhân trong việc thực hiện tốt hơn nhiệm vụ được giao; phát triển năng lực cộng tác làm

việc; Phát triển năng lực giao tiếp; tăng cường sự tự tin cho học sinh; phát triển năng

lực phương pháp: thơng qua q trình tự lực làm việc và làm việc nhóm giúp học sinh

rèn luyện phát triển phương pháp làm việc; Dạy học nhóm tạo khả năng dạy học phân

hố: lựa chọn nhóm theo hứng thú chung hay lựa chọn ngẫu nhiên, các đòi hỏi như nhau

hay khác nhau về mức độ khó khăn, các học tập như nhau hay khác nhau nâng cao kết

quả học tập.

-Nhược điểm:

Dạy học hợp tác đòi hỏi thời gian nhiều. Thời gian của một tiết học cũng là một

trở ngại trên con đường đạt được thành công cho công việc hoạt động nhóm. Một q

trình học tập với các giai đoạn dẫn nhập vào một chủ đề, phân công nhiệm vụ, làm việc

nhóm và tiếp theo là sự trình bày kết quả của nhiều nhóm,…những việc đó khó được tổ

chức một cách thoả đáng trong một tiết học. Công việc nhóm khơng phải bao giờ cũng

mang lại kết quả như mong muốn.

Trong các nhóm chưa được luyện tập dễ xảy ra hỗn loạn. Ví dụ, có thể xảy ra

chuyện là một học sinh phụ trách nhóm theo kiểu độc đốn, đa số các thành viên trong

nhóm khơng làm bài mà lại quan tâm đến những việc khác, trong nhóm và giữa các nhóm

phát sinh tình trạng đối địch,... Khi đó, sự trình bày kết quả làm việc sẽ cũng như q

trình làm việc của nhóm sẽ diễn ra theo cách khơng thoả mãn.

Thường khó để đánh giá từng học sinh một cách cơng bằng và một vài em có thể

cảm thấy không thoải mái với việc đánh dựa trên sự nỗ lực của nhóm. Học sinh phải học

cách học trong mơi trường nhóm, nhưng đơi khi khơng dễ cho các em khi mà các em đã

quen với các phương pháp giảng dạy lấy giáo viên làm trung tâm.

Tóm lại, phương pháp dạy học hợp tác đã được nghiên cứu và áp dụng ở các bậc

Đại học, Cao đẳng tại một số nước, đặc biệt là ở nước Mỹ. Phương pháp dạy học này đã

huy động được sự tham gia tích cực của mọi học sinh vào q trình học tập, tăng cường

khả năng tiếp thu kiến thức và kỹ năng của học sinh một cách rõ rệt.

+ Trên thế giới có rất nhiều người nghiên cứu, đề xuất và tổ chức thành công

phương pháp dạy học hợp tác, chúng ta phải kể đến như Quintilian (thế kỉ thứ nhất);

GVHD: ThS Trần Hữu Thi



Tiểu luận Phương Pháp Dạy Học Hợp Tác



Joseph Lancaster vad Andrew Bell (cuối thế kỉ XVIII); hai anh em David và Roger

Johnson; Dewey;…

+ Ở Việt Nam cùng với quá trình hội nhập quốc tế đang phát triển mạnh mẽ thì

đòi hỏi phải có một nền giáo dục, tồn diện sâu sắc, kết hợp hài hòa với các phương pháp

dạy học khác, có thể nói đến những thầy giáo, những nhà nghiên cứu: Nguyễn Bá Kim,

Phan Trọng Ngọ, Nguyễn Hữu Châu, Ngô Thị Thu Dung, Nguyễn Thị Phương Hoa,…

2. Quy trình thực hiện:

• Làm việc chung của cả lớp.

+ Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức.

+ Tổ chức các nhóm làm việc thơng báo thời gian.

+ Hướng dẫn cách làm việc theo nhóm để việc thảo luận đạt hiệu quả. Giáo viên

cần xác định mục đích chỉ dẫn nhiệm vụ cần thực hiện ấn định thời gian, nghĩa là học

sinh, sinh viên phải hiểu ý nghĩa, mục đích việc sắp làm, nắm vững các bước thực hiện và

biết trước thời gian cần thực hiện nhiệm vụ bao lâu.

• Làm việc theo nhóm.

+ Phân cơng trong nhóm.

+ Trao đổi ý kiến, thảo luận trong nhóm.

+ Cử đại diện trình bày kết quả làm việc của nhóm.

Sau khi xác định nhiệm vụ cần thực hiện học sinh thực hiện theo nhiệm vụ cá nhân, sau

đó trao đổi ý kiến thảo luận trong nhóm để rút ra vấn đề chung cuối cùng đại diện nhóm

báo cáo kết quả thảo luận của nhóm mình.

• Thảo luận tổng kết trước lớp.

+ Các nhóm báo cáo kết quả.

+ Thảo luận chung.

+ Giáo viên nhận xét, bổ sung, tổng kết khi thời gian thảo luận kết thúc giáo viên

tổ chức để đại diện các nhóm báo cáo kết quả thảo luận trước lớp, các nhóm khác nhận

xét, bổ sung.

+ Nếu kết quả thảo luận của giữa các nhóm chưa thống nhất, giáo viên đưa vấn

đề ra thảo luận chung cả lớp rồi mới đưa ra đáp án đúng, hoàn chỉnh kiến thức cho học

sinh, sinh viên đồng thời đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của các nhóm.

3.Chọn một nội dung chuyên môn và mô tả kịch bản sư phạm khi dạy học nội dung

này có vận dụng phương pháp dạy học hợp tác

Tên Bài: TẠO VÀ LÀM VIỆC VỚI BẢNG

Mục tiêu bài học:

- Trình bày được các thao tác tạo và hiệu chỉnh bảng biểu.

GVHD: ThS Trần Hữu Thi



Tiểu luận Phương Pháp Dạy Học Hợp Tác



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Phân loại phương pháp dạy học hợp tác

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×