Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 6. Hàm lượng đường khử (mg/g) của các giống cà chua ở nồng độ 125mM sau 15 ngày gây mặn

Hình 6. Hàm lượng đường khử (mg/g) của các giống cà chua ở nồng độ 125mM sau 15 ngày gây mặn

Tải bản đầy đủ - 0trang

nồng độ 125mM sau 15 ngày gây mặn

Từ bảng và biểu đồ trên ta thấy, sau 15 ngày gây mặn hàm lượng đường

khử của các giống cà chua nghiên cứu có xu hướng tăng lên, nhưng chỉ tăng

trong giới hạn nồng độ nhất định là 100mM NaCl và giảm ở mức độ gây mặn

125mM. Hàm lượng đường khử của các giống cà chua ở các độ mặn khác

nhau dao động từ 0,341mg/g – 0,794mg/g lá tươi. Ở nồng độ 75mM, hàm

lượng đường khử đạt giá trị cao nhất ở giống VT3 (0,701mg/g), thấp nhất là

giống XH5 (đạt 0,501mg/g). Hàm lượng đường khử của giống FM20 đạt giá

trị cao nhất so với 3 giống còn lại ở cơng thức đối chứng và các cơng thức thí

nghiệm (0,571mg/g; 0,625mg/g; 0,648mg/g; 0,786mg/g; 0,794mg/g lá tươi ở

các nồng độ mặn lần lượt là 50mM, 75mM, 100mM, 125mM), đồng thời hàm

lượng đường khử tăng khi mức độ gây mặn tăng dần (đạt 109,457% 137,653% và đạt mức cao nhất là 139,054% ở mức độ gây mặn 125mM

NaCl). Ở nồng độ 100mM, hàm lượng đường khử đạt giá trị cao nhất ở giống

FM20 (0,786mg/g), sau đó là giống VT3 (0,711mg/g) và thấp nhất là giống

XH5 (0,512mg/g). Ở nồng độ muối cao (125mM), hàm lượng đường khử của

giống FM20 vẫn tăng cao (đạt 0,794mg/g), trong khi đó ở 3 giống còn lại

giảm. Giống XH5 giảm nhanh nhất chỉ còn 0,341mg/g lá tươi.

Mặc dù ở tất cả các giống cà chua, hàm lượng đường khử tăng khá cao

ở độ mặn 75mM NaCl và 100mM NaCl nhưng đây được xem là “phản ứng

thích nghi”. Cây sử dụng các sản phẩm tích lũy trong lá và sản phẩm của q

trình quang hợp để tăng cường tổng hợp các chất tạo áp suất thẩm thấu cao

giúp chúng vượt qua điều kiện cung cấp nước khó khăn.

Theo Võ Minh Thứ (1999): cây lúa chịu mặn có hàm lượng đường khử cao

để làm tăng áp suất thẩm thấu đảm bảo cho sự hút nước từ mơi trường ngồi

vào cây. Do đó hàm lượng đường khử có vai trò quan trọng đối với thực vật



49



49



sống trên đất mặn, tạo áp suất thẩm thấu cao trong tế bào rễ, vượt qua được

lực giữ nước của các hạt đất và cây hút được nước [32].

Kết quả thí nghiệm của chúng tơi cũng cho thấy, hàm lượng đường

khử của các giống cà chua nghiên cứu tăng khi độ mặn tăng lên 100mM

NaCl và giảm khi tiếp tục tăng độ mặn lên 125mM NaCl. Giống FM20 có

hàm lượng đường khử đạt giá trị cao hơn hẳn (0,786mg/g ở độ mặn

100mM và 0,794mg/g ở độ mặn 125mM) so 3 giống còn lại ở cơng thức

đối chứng và các cơng thức thí nghiệm (độ mặn 50mM NaCl, 75mM,

100mM NaCl và 125mM NaCl), thấp nhất là giống XH5 (đạt 0,512mg/g ở

độ mặn 100mM và 0,341mg/g ở độ mặn 125mM. Điều này cho thấy giống

FM20 có khả năng thích nghi với điều kiện mơi trường có nồng độ muối

cao tốt hơn 3 giống còn lại.

2.1.4. Biến động hàm lượng axit amin prolin trong lá cây cà chua dưới tác

động của mặn

Khi thực vật sống trong điều kiện thiếu nước, tế bào bị mất nước dẫn

đến các chất hòa tan được tích lũy trong tế bào chất và không bào nhằm

chống lại khả năng mất nước và tăng khả năng giữ nước của nguyên sinh

chất. Để điều chỉnh áp suất thẩm thấu trong tế bào khi đất bị nhiễm mặn, cây

trồng tăng cường tích lũy các chất hữu cơ chuyển hóa từ các loại đường, các

loại axit amin, các loại rượu đa chức hay các ion. Khi cây trồng thiếu nước,

việc tích lũy axit amin prolin có vai trò làm tăng áp suất thẩm thấu của tế bào.

Theo Điêu Mai Hoa và đồng tác giả đã chỉ ra rằng, khi bị hạn hoặc chịu tác

động của stress muối NaCl thì cây đậu xanh có sự tích lũy axitamin

prolin[12], [13], [14]. Theo Đinh Thị Phòng và đồng tác giả khi nghiên cứu

trên đối tượng là cây lúa cũng chỉ ra rằng, khi bị hạn cây lúa cũng có sự tăng

mạnh tích lũy axit amin prolin [28].

Theo He ZhongQun và cộng sự (2010) khi nghiên cứu trên đối tượng

50



50



cây cà chua nhiễm nấm và không nhiễm nấm trồng trong mơi trường mặn

cũng có kết luận: hàm lượng prolin trong lá giảm ở mẫu nhiễm nấm và tăng

cao ở mẫu không nhiễm nấm (tăng trên 200μg/g lá tươi) ở nồng độ NaCl 1%

giai đoạn 10 ngày gây mặn [49].

Prolin là một trong những chất tan tương thích với những điều kiện bất

lợi với cây trồng như ánh sáng, nhiệt độ cao, hạn và mặn. Prolin được tổng

hợp từ glutamic bởi enzim pyrrolin-5-cacboxylat- synthetaza, khơng tích điện

ở pH trung tính một axit amin có khả năng hòa tan mạnh trong nước, giữ

nước và lấy nước cho tế bào, tạo áp suất thẩm thấu cao giúp tế bào hút nước,

phục hồi sức trương. Prolin bảo vệ màng tế bào chống lại ảnh hưởng bất lợi

của sự tập trung cao các ion có hại trong tế bào và nhiệt độ cực đoan. Tốc độ

phân giải prolin phụ thuộc vào mức độ giảm mất nước. Prolin có vai trò quan

trọng trong việc điều hòa áp suất thẩm thấu. Sự tích lũy prolin là một phản

ứng chuyển hóa thơng thường ở thực vật bậc cao trong điều kiện thiếu nước

và stress muối [12], [13], [14]. Protein đóng vai trò như một chất chỉ thị cho

khả năng chịu hạn của thực vật, sự tích lũy prolin là biểu hiện của phản ứng

thích nghi của cây với điều kiện thiếu nước. Sự gia tăng hàm lượng prolin là

một chỉ tiêu quan trọng hàng đầu để đánh giá khả năng chịu mặn của cây

trồng nói chung và cây cà chua nói riêng.

Kết quả nghiên cứu sự biến động hàm lượng prolin của 4 giống cà chua

trong quá trình gây mặn được trình bày ở bảng 4, hình 7 và hình 8.



51



51



Bảng 4. Hàm lượng axit amin prolin trong lá cây cà chua (μg/g lá tươi)



Giống

0

4,70 ± 0,70

5,03a ± 0,68

5,15a ± 0,69

5,26a ± 0,75

a



XH5

VT3

C155

FM20

Giống



0

4,57 ± 0,14

4,92a ± 0,52

5,03b ± 0,38

5,16a ± 0,65

b



XH5

VT3

C155

FM20

Giống

XH5

VT3

C155

FM20



0

5,09 ± 0,54

5,24a ± 0,72

5,32b ± 0,25

5,49a ± 0,44

b



Sau 5 ngày gây mặn

Nồng độ muối NaCl (mM)

50

75

100

a

a

4,73 ± 0,68

4,76 ± 0,71

4,80a ± 0,67

5,04a ± 0,70

5,14a ± 0,67

5,16a ± 0,70

5,19ab ± 0,69 5,25ab ± 0,69 5,28ab ± 0,70

5,32ab ± 0,72 5,41ab ± 0,74 5,42ab ± 0,74

Sau 10 ngày gây mặn

Nồng độ muối NaCl (mM)

50

75

100

b

b

4,62 ± 0,13

4,68 ± 0,16

5,74c ± 0,13

5,01a ± 0,54

5,03a ± 0,54

5,28b ± 0,53

5,10bc ± 0,34

5,24c ± 0,34

5,30c ± 0,31

5,19a ± 0,67

5,21a ± 0,64

5,56b ± 0,64

Sau 15 ngày gây mặn

Nồng độ muối NaCl (mM)

50

75

100

b

b

5,14 ± 0,52

5,21 ± 0,54

7,71c ± 0,52

5,25a ± 0,73

5,55b ± 0,74

6,14c ± 0,73

5,39b ± 0,23

5,43b ± 0,21

8,45c ± 0,22

5,52a ± 0,42

5,56a ± 0,43

6,43b ± 0,42



125

4,67a ± 0,67

5,19a ± 0,69

5,34b ± 0,67

5,46b ± 0,74



125

4,21a ± 0,16

5,00a ± 0,50

4,78a ± 0,35

6,25c ± 0,64



125

4,27a ± 0,52

5,30a ± 0,72

4,54a ± 0,23

8,18c ± 0,43



Ghi chú: So sánh trong cùng một hàng giữa các công thức của một giống ở cùng

một giai đoạn gây mặn, các chữ cái khác nhau a, b, c, d thể hiện sự sai khác có ý

nghĩa với độ tin cậy 95%



Hình 7. Hàm lượng axit amin prolin trong lá cây cà chua ở nồng độ 100mM

sau 15 ngày gây mặn (μg/g lá tươi)



Hình 8. Hàm lượng axit amin prolin trong lá cây cà chua ở nồng độ

NaCl 125mM sau 15 ngày gây mặn (μg/g lá tươi)

Nghiên cứu đã cho thấy trong điều kiện bình thường giống C155 và

52



52



giống FM20 là 2 giống có hàm lượng prolin cao hơn giống XH5 và giống

VT3. Đây cũng là yếu tố giúp cho 2 giống C155 và FM20 chịu mặn tốt hơn

hai giống còn lại.

Sau 5 ngày gây mặn, hàm lượng prolin ở các nồng độ từ 0 – 125mM của

các giống chưa thấy có sự sai khác cỏ vẻ thời gian tác động của mặn ngắn chưa

đủ gây nên những biến đổi rõ rệt trong cây. Tuy nhiên, sau 10 ngày gây mặn,

hàm lượng prolin đã có sự thay đổi rõ rệt giữa cơng thức thí nghiệm và đối

chứng. Hàm lượng prolin của cả 4 giống đạt giá trị cao nhất ở mức độ gây mặn

100mM NaCl, giống XH5 đạt giá trị cao nhất (5,74μg/g) so với đối chứng, có

thể do ở thời điểm này giống XH5 đã thể hiện rõ phản ứng thích nghi với điều

kiện mặn. Khi tăng lên đến mức độ gây mặn 125mM NaCl thì hàm lượng prolin

ở giống XH5 giảm xuống thấp nhất (đạt 4,21μg/g) so với đối chứng, trong khi

đó hàm lượng prolin ở giống FM20 lại tăng cao (6,25μg/g) so với đối chứng thể

hiện sự thích nghi với độ mặn cao.

Ngày gây mặn thứ 15, hàm lượng prolin vẫn có sự sai khác rõ rệt. Khi

tăng độ mặn lên 100mM NaCl, hàm lượng prolin đạt giá trị cao nhất ở giống

C155 (8,45μg/g) và giảm ở độ mặn 125mM, thấp nhất là giống XH5

(4,27μg/g). Riêng giống FM20 thì ở cả 3 độ mặn 50mM NaCl, 75mM,

100mM NaCl hàm lượng prolin cũng khơng có sự sai khác rõ rệt ở lơ thí

nghiệm so với lơ đối chứng, có thể ở các độ mặn đó giống FM20 chưa thể

hiện rõ phản ứng thích nghi với điều kiện mặn. Nhưng khi tăng độ mặn lên

125mM NaCl, giống FM20 đã có sự thay đổi mạnh mẽ hàm lượng prolin.

Hàm lượng prolin ở giống FM20 tăng rất cao ở lơ thí nghiệm (đạt 8,18mg/g

so với đối chứng). Có thể ở mơi trường có nồng độ muối cao đã ảnh hưởng

mạnh mẽ đến tốc độ tích lũy prolin trong tế bào thực vật.

Tóm lại trong 4 giống cà chua nghiên cứu, chỉ có giống FM20 có hàm

lượng prolin duy trì ở mức cao nhất so với đối chứng ở mơi trường có nồng

53



53



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 6. Hàm lượng đường khử (mg/g) của các giống cà chua ở nồng độ 125mM sau 15 ngày gây mặn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×