Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 4. Hàm lượng diệp lục tổng số của các giống cà chua ở nồng độ 125mM sau 15 ngày gây mặn

Hình 4. Hàm lượng diệp lục tổng số của các giống cà chua ở nồng độ 125mM sau 15 ngày gây mặn

Tải bản đầy đủ - 0trang

nghiệm của các giống chưa thấy có sự sai khác, do thời gian tác động của

mặn chưa đủ để gây ra sự thay đổi rõ rệt trong cây.

Sau 10 ngày gây mặn, hàm lượng diệp lục giữa các công thức thí

nghiệm của các giống đã thay đổi rõ rệt. Ở 3 giống XH5, C155 và FM20, hàm

lượng diệp lục của các giống tăng cao nhất ở độ mặn 75mM NaCl, sau đó

giảm dần khi tăng độ mặn lên 100mM NaCl và 125mM NaCl. Đặc biệt, ở

giống XH5, hàm lượng diệp lục tăng cao hơn hẳn so với các giống còn lại.

Hàm lượng diệp lục của giống XH5 tăng từ 2,11 mg/g ở độ mặn 50mM NaCl;

2,26mg/g ở độ mặn 75mM NaCl. Sau đó lại giảm đột ngột xuống 1,86mg/g ở

độ mặn 100mM NaCl và 1,72mg/g ở độ mặn 125mM NaCl. Có thể ở giai

đoạn này các độ mặn thí nghiệm đã làm ảnh hưởng đến quá trình quang hợp

và tổng hợp diệp lục của cây. Ở độ mặn 125mM, hàm lượng diệp lục tổng số

của giống XH5 đạt giá trị thấp nhất (1,72mg/g) và cao nhất là giống VT3

(3,52 mg/g), sau đó là giống FM20 ( đạt 3,71mg/g).

Sau 15 ngày gây mặn, hàm lượng diệp lục giữa các công thức thí

nghiệm của các giống có sự phân hóa rõ rệt. Ở giống VT3, hàm lượng diệp

lục tổng số tăng so với công thức đối chứng ở độ mặn 100mM NaCl và đạt

giá trị cao nhất 6,53mg/g, sau đó giảm khi độ mặn là 125mM NaCl

(4,97mg/g) nhưng vẫn đạt giá trị cao hơn các giống còn lại. Trong khi đó, ở 3

giống còn lại hàm lượng diệp lục tổng số vẫn tăng ở độ mặn NaCl thấp và

giảm dần khi độ mặn tăng lên. Giống XH5 có hàm lượng diệp lục tổng số

thấp nhất ở tất cả các độ mặn thí nghiệm, đối chứng và đạt giá trị thấp nhất ở

độ mặn 125mM NaCl (1,50mg/g). Giống VT3 có hàm lượng diệp lục tổng số

cao nhất ở độ mặn 100mM NaCl (6,53mg/g). Điều này có thể giải thích là khi

nồng độ muối không quá cao, lượng nước tự do trong cây giảm thấp nên tỷ lệ

hàm lượng diệp lục trên khối lượng tươi của lá cao hơn cơng thức đối chứng.

46



46



Còn khi cây sống ở mơi trường có nồng độ muối cao, thời gian gây mặn sâu,

hàm lượng diệp lục tổng số của lá cây giảm. Có thể do khi cây sống trong

điều kiện mặn cao thì cây rất khó hút được nước từ môi trường dẫn đến hiện

tượng cây thiếu nước, ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp diệp lục và phá hủy

diệp lục gây nên hiện tượng hàm lượng diệp lục tổng số giảm.

Như vậy, từ kết quả thí nghiệm chúng tôi đưa ra nhận xét như sau: Khi

gây mặn sâu (10 ngày hoặc 15 ngày), ở các độ mặn NaCl 100mM và 125

mM, hàm lượng diệp lục của các giống có xu hướng giảm dần. Sau 15 ngày

gây mặn, hàm lượng diệp lục trong lá cà chua giảm ít nhất ở giống VT3

(4,97mg/g), sau đó đến giống FM20 (3,39mg/g) và giảm nhiều nhất là giống

XH5 (1,50mg/g).

2.1.3. Ảnh hưởng của mặn đến hàm lượng đường khử trong lá cây cà chua

Ở thực vật đường tập trung ở thành tế bào, mô nâng đỡ, mô dự trữ.

Đường khử là yếu tố làm tăng áp suất thẩm thấu đảm bảo cho sự hút nước từ

mơi trường ngồi vào cây. Do đó, có vai trò tích cực trong việc điều chỉnh áp

suất thẩm thấu của cây trong môi trường thiếu nước (đất bị nhiễm mặn, hạn,

…). Khi cây trồng gặp hạn, mặn sẽ có sự gia tăng hàm lượng đường tan trong

tế bào lá, làm áp suất thẩm thấu tăng lên, do đó tăng khả năng hút nước và giữ

nước của tế bào. Ngồi ra đường khử còn là ngun liệu của q trình hơ hấp

tạo ra năng lượng ATP cho q trình sinh lý của cây và là nguồn cung cấp sản

phẩm cho q trình hơ hấp.

Kết quả xác định hàm lượng đường khử được thể hiện ở bảng 3, hình 5

và hình 6.



47



47



Bảng 3. Hàm lượng đường khử trong lá cây cà chua sau 15 ngày gây mặn

(mg/g lá tươi)

Giống



XH5



VT3



C155



FM20



Nồng độ muối NaCl

(mM)

0

50

75

100

125

0

50

75



Hàm lượng đường

khử

0,448a ± 0,042

0,463a ± 0,031

0,501a ± 0,022

0,512a ± 0,013

0,341b ± 0,032

0,534b ± 0,011

0,551c ± 0,013

0,701d ± 0,025



100

125

0

50

75

100

125

0

50

75

100

125



0,711e ± 0,010

0,443a ± 0,015

0,415b ± 0,037

0,428c ± 0,024

0,508d ± 0,016

0,523e ± 0,013

0,368a ± 0,010

0,571a ± 0,027

0,625b ± 0,005

0,648c ± 0,043

0,786d ± 0,030

0,794e ± 0,026



% so với đối chứng

100,000

103,348

111,830

114,286

76,116

100,000

103,184

131,273

133,146

82,959

100,000

103,133

122,410

126,024

88,675

100,000

109,457

113,485

137,653

139,054



Ghi chú: So sánh trong cùng một cột giữa các công thức của một giống, các chữ cái

khác nhau a, b, c, d thể hiện sự sai khác có ý nghĩa với độ tin cậy 95%



Hình 5. Hàm lượng đường khử (mg/g) của các giống cà chua ở

nồng độ 100mM sau 15 ngày gây mặn



Hình 6. Hàm lượng đường khử (mg/g) của các giống cà chua ở

48



48



nồng độ 125mM sau 15 ngày gây mặn

Từ bảng và biểu đồ trên ta thấy, sau 15 ngày gây mặn hàm lượng đường

khử của các giống cà chua nghiên cứu có xu hướng tăng lên, nhưng chỉ tăng

trong giới hạn nồng độ nhất định là 100mM NaCl và giảm ở mức độ gây mặn

125mM. Hàm lượng đường khử của các giống cà chua ở các độ mặn khác

nhau dao động từ 0,341mg/g – 0,794mg/g lá tươi. Ở nồng độ 75mM, hàm

lượng đường khử đạt giá trị cao nhất ở giống VT3 (0,701mg/g), thấp nhất là

giống XH5 (đạt 0,501mg/g). Hàm lượng đường khử của giống FM20 đạt giá

trị cao nhất so với 3 giống còn lại ở cơng thức đối chứng và các cơng thức thí

nghiệm (0,571mg/g; 0,625mg/g; 0,648mg/g; 0,786mg/g; 0,794mg/g lá tươi ở

các nồng độ mặn lần lượt là 50mM, 75mM, 100mM, 125mM), đồng thời hàm

lượng đường khử tăng khi mức độ gây mặn tăng dần (đạt 109,457% 137,653% và đạt mức cao nhất là 139,054% ở mức độ gây mặn 125mM

NaCl). Ở nồng độ 100mM, hàm lượng đường khử đạt giá trị cao nhất ở giống

FM20 (0,786mg/g), sau đó là giống VT3 (0,711mg/g) và thấp nhất là giống

XH5 (0,512mg/g). Ở nồng độ muối cao (125mM), hàm lượng đường khử của

giống FM20 vẫn tăng cao (đạt 0,794mg/g), trong khi đó ở 3 giống còn lại

giảm. Giống XH5 giảm nhanh nhất chỉ còn 0,341mg/g lá tươi.

Mặc dù ở tất cả các giống cà chua, hàm lượng đường khử tăng khá cao

ở độ mặn 75mM NaCl và 100mM NaCl nhưng đây được xem là “phản ứng

thích nghi”. Cây sử dụng các sản phẩm tích lũy trong lá và sản phẩm của quá

trình quang hợp để tăng cường tổng hợp các chất tạo áp suất thẩm thấu cao

giúp chúng vượt qua điều kiện cung cấp nước khó khăn.

Theo Võ Minh Thứ (1999): cây lúa chịu mặn có hàm lượng đường khử cao

để làm tăng áp suất thẩm thấu đảm bảo cho sự hút nước từ mơi trường ngồi

vào cây. Do đó hàm lượng đường khử có vai trò quan trọng đối với thực vật



49



49



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 4. Hàm lượng diệp lục tổng số của các giống cà chua ở nồng độ 125mM sau 15 ngày gây mặn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×