Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b. Hoạt độ enzim peroxydaza trong lá cây cà chua [26]

b. Hoạt độ enzim peroxydaza trong lá cây cà chua [26]

Tải bản đầy đủ - 0trang

Phương pháp này dựa vào sự xác định tốc độ oxy hóa benzidin dưới tác

dụng của enzim có trong mơ thực vật, để hình thành sản phẩm có màu xanh

với nồng độ khác nhau. Đo cường độ màu trên máy quang phổ.

Dung dịch cần thiết:

+ Dung dịch đệm axetat: Lấy 2,3ml axit axetic kết tinh cho vào bình

định mức 200ml. Rót vào một ít nước và thêm 5,45g axetat natri. Sau đó dinh

nước cất lên thể tích đến vạch 200ml.

+ Dung dịch benzidin trong dung dịch axetat: Rót 100ml nước cất vào

bình định mức 200ml. Thêm 2,3ml axit axetic và 180mg benzidin sau đó đun

nóng trong bình cách thủy, nhiệt độ < 60 oC cho nóng dần, sau đó để nguội và

thêm vào bình 5,45g axetat natri. Thêm nước cất đưa thể tích đến vạch 200ml

Phương pháp tiến hành:

Cân 500mg lá, cắt nhỏ và cho vào cối sứ nghiền với dung dịch đệm

axetat có pH = 4,7. Chuyển dịch nghiền vào bình định mức dung tích 50ml và

dùng dung dịch đệm axetat tăng thể tích đến vạch. Để đứng yên trong 10 phút

(trong thời gian này lắc định kỳ). Trong thời gian đó peroxydaza chuyển vào

dung dịch. Sau đó lọc hoặc li tâm trong 10 phút với vận tốc 3000 vòng/phút.

Dùng chất lỏng trong suốt bên trên để xác định hoạt tính của enzim.

Lấy 1,5ml dung dịch chiết cho vào cuvet có độ dày 1cm, thêm 1,5ml

dung dịch benzidin trong dung dịch đệm axetat; 1,5ml nước cất. Chỉnh máy

đo ở màng lọc ánh sáng đỏ (660nm). Thêm 1,5ml H 2O2 3% vào cuvet. Lập tức

bấm đồng hồ bấm giây. Dưới tác dụng của peroxydaza benzidin bị oxy hóa

thành phức chất màu xanh.

Sau 15 giây đọc giá trị mật độ quang (E) trên máy.

Tính kết quả:

Hoạt độ peroxydaza được tính theo cơng thức:

U=



(U/g/15 giây)



Trong đó:

38



38



U: Hoạt độ của enzim/1 gam thực vật/15 giây

E: Độ dập tắt (mật độ quang) đọc trên máy

a: Tổng dịch chiết ban đầu

b: Độ pha loãng dịch chiết trong cốc (cuvet)

d: Độ dày cuvet (1cm)

t: Thời gian (15 giây)

p: Khối lượng mẫu (g)

3.3.3. Một số chỉ tiêu sinh trưởng của cây cà chua trồng trong điều kiện mặn

Trồng cây trong dung dịnh thủy canh sau 15 ngày thì tiến hành thu rễ,

thân lá để tiến hành xác định các chỉ tiêu về sinh trưởng [25]

3.3.3.1. Đo chiều cao thân

Tiến hành đo chiều cao thân hai ngày một lần lúc bắt đầu gây mặn,

chiều cao thân được xác định bằng thước có độ chính xác đến milimet. Đo

chiều cao của thân tính từ cổ rễ đến đỉnh sinh trưởng của thân.

3.3.3.2. Đo chiều dài rễ

Sau 15 ngày gây mặn, tiến hành thu rễ. Cách lấy rễ: xả nước vào lỗ ở

đáy rọ nhựa để giá thể dần dần tách khỏi rễ, sau đó rửa sạch rễ, thấm khơ và

tiến hành đo chiều dài rễ tính từ cổ rễ đến chóp rễ dài nhất, sau đó cân khối

lượng rễ.

3.3.3.3. Xác định khối lượng tươi tồn cây

Ở mỗi cơng thức thí nghiệm của từng giống cà chua lấy các cây ra khỏi

rọ nhựa. Dùng nước cất rửa sạch hết thành phần của giá thể bám vào cây. Cắt

riêng từng bộ phận rễ, thân, lá cây để xác định khối lượng tươi.

3.3.3.4. Xác định khối lượng khơ tồn cây

39



39



Sau khi xác định được khối lượng tươi, sấy khô ở nhiệt độ 120 0C–

1250C trong thời gian 20 phút, tiếp tục sấy ở 105 0C trong 3 giờ được khối

lượng khô.

3.3.3.5. Đếm số lượng lá chết trên cây

Đếm số lượng lá chết ở ngày thứ 5, 10, 15 xử lý mặn.

3.3.4. Phương pháp xử lý thống kê số liệu

Các kết quả nghiên cứu được xử lý bằng phần mềm SPSS, đánh giá

tính khác biệt theo phương pháp Duncan.



40



40



PHẦN II. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

2.1. Các chỉ tiêu sinh lý, hóa sinh của cây cà chua

2.1.1. Ảnh hưởng của mặn đến hàm lượng nước liên kết trong lá cây cà chua

Trong cây tồn tại hai dạng nước là nước tự do và nước liên kết. Nước tự

do chiếm một lượng lớn trong thực vật. Đây là dạng nước có khả năng di

chuyển trong cây nên đóng vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất ở

thực vật. Nước liên kết trong cây làm ổn định hệ keo chất nguyên sinh, duy trì

hoạt động trao đổi chất của tế bào trong các điều kiện bất lợi. Nước liên kết

khơng còn những tính chất thơng thường như bốc hơi ở 100 oC, đóng băng ở

0oC và cũng khơng tham gia vào các phản ứng hóa học… Cách chúng bảo vệ

cho keo là làm cho nguyên sinh chất khỏi kết dính vào nhau, vì vậy có vai trò

quyết định khả năng chống chịu của cây. Trong cây, hàm lượng nước liên kết

có tương quan thuận với tính chống chịu. Kết quả xác định hàm lượng nước

liên kết trong lá cà chua dưới ảnh hưởng của các nồng độ muối NaCl khác

nhau được trình bày ở bảng 1.



41



41



Bảng 1. Hàm lượng nước liên kết trong lá cây cà chua (g/g lá tươi)

Giống

XH5

VT3

C155

FM20



0

0,156 ± 0,007

0,238a ± 0,006

0,175a ± 0,006

0,261a ± 0,010

a



Giống



0

XH5 0,213 ± 0,004

VT3 0,272a ± 0,006

C155 0,235a ± 0,005

FM20 0,302a ± 0,005

a



Giống

XH5

VT3

C155

FM20



0

0,245 ± 0,005

0,347a ± 0,005

0,294a ± 0,005

0,398a ± 0,007

a



Sau 5 ngày gây mặn

Nồng độ muối NaCl (mM)

50

75

100

a

a

0,157 ± 0,005 0,159 ± 0,006 0,163a ± 0,008

0,245ab ± 0,007 0,250ab ± 0,005 0,253b ± 0,005

0,179a ± 0,007 0,181a ± 0,007 0,185a ± 0,004

0,268a ± 0,008 0,274a ± 0,007 0,276a ± 0,011

Sau 10 ngày gây mặn

Nồng độ muối NaCl (mM)

50

75

100

a

b

0,216 ± 0,006 0,226 ± 0,005 0,247c ± 0,004

0,276a ± 0,004 0,289b ± 0,006 0,307c ± 0,005

0,241a ± 0,005 0,287b ± 0,005 0,306c ± 0,007

0,311a ± 0,005 0,378b ± 0,004 0,398c ± 0,006

Sau 15 ngày gây mặn

Nồng độ muối NaCl (mM)

50

75

100

a

b

0,251 ± 0,007 0,263 ± 0,008 0,602d ± 0,004

0,358b ± 0,005 0,401c ± 0,007 0,698e ± 0,004

0,302b ± 0,005 0,412c ± 0,007 0,492e ± 0,006

0,460b ± 0,005 0,611c ± 0,008 0,625c ± 0,006



125

0,160a ± 0,004

0,247ab ± 0,005

0,176a ± 0,006

0,280a ± 0,005

125

0,228b ± 0,005

0,301c ± 0,006

0,290b ± 0,006

0,402c ± 0,006

125

0,293c ± 0,004

0,644d ± 0,005

0,430d ± 0,005

1,296d ± 0,005



Ghi chú: So sánh trong cùng một hàng giữa các công thức của một giống ở cùng

một giai đoạn gây mặn, các chữ cái khác nhau a, b,c, d thể hiện sự sai có ý nghĩa

với độ tin cậy 95%



Qua bảng 1, chúng ta nhận thấy, sau 5 ngày gây mặn, ở các nồng độ từ

0 – 125mM NaCl, nhưng thời gian tác động của mặn ngắn (5 ngày), hàm

lượng nước liên kết của các giống cà chua chưa thấy có sự sai khác.

Sau 10 ngày gây mặn, hàm lượng nước liên kết ở cơng thức thí nghiệm

giữa các giống đã có sự sai khác rõ rệt, dao động từ 0,213g/g – 0,402g/g. Hàm

lượng nước liên kết tăng dần khi độ mặn NaCl tăng, nhưng chỉ tăng trong một

giới hạn nhất định. Ở 3 giống XH5, VT3 và C155, hàm lượng nước liên kết

đạt giá trị cao nhất ở độ mặn 100mM và có xu hướng giảm ở độ mặn 125mM.

Giống XH5 có hàm lượng nước liên kết tăng ít nhất so với các giống còn lại

(đạt 2,247g/g). Riêng đối với giống FM20, hàm lượng nước liên kết tỉ lệ

thuận với mức độ gây mặn, đạt giá trị cao nhất ở độ mặn 125mM (0,402g/g)

42



42



còn giống XH5 lại giảm xuống thấp nhất còn 0,228g/g.

Sau 15 ngày gây mặn, hàm lượng nước liên kết giữa các cơng thức thí

nghiệm và đối chứng của các giống tăng nhanh rõ rệt. Ở các giống XH5, VT3

và C155, hàm lượng nước liên kết tăng khi độ mặn tăng lên 100mM NaCl. Ở

giống XH5, hàm lượng nước liên kết tăng nhanh từ 0,263g/g ở độ mặn 75mM

đến 0,602g/g lá tươi ở độ mặn 100mM, sau đó hàm lượng nước liên kết lại

giảm đột ngột xuống 0,293g/g lá tươi ở độ mặn 125mM. Riêng ở giống

FM20, khi độ mặn tăng thì hàm lượng nước liên kết tăng từ 0,460g/g lá tươi ở

độ mặn 50mM NaCl lên dần dần là 0,611g/g lá tươi; 0,625g/g lá tươi lần lượt

ở độ mặn 75mM, 100mM và đat giá trị cao nhất ở độ mặn 125mM NaCl (đạt

1,296g/g lá tươi). Khi môi trường có nồng độ muối thấp, cơ chế giữ nước của

lá mới bắt đầu hoạt động làm lượng nước liên kết keo tăng lên. Do đó, cơ chế

giữ nước của lá càng hoạt động tốt, lượng nước tự do vẫn bay hơi nên ở độ

mặn cao hàm lượng nước liên kết càng tăng cao.

Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Halit về ảnh hưởng của

nồng độ muối đến cây bầu cũng kết luận rằng: hàm lượng nước liên kết của

cây bầu tăng khi nồng độ muối của mơi trường tăng [46].

Như vậy qua q trình nghiên cứu xác định hàm lượng nước liên kết

trong lá cây cà chua, chúng tôi đưa ra nhận xét như sau: trong điều kiện gây

mặn, hàm lượng nước liên kết của các giống cà chua có xu hướng tăng dần

khi độ mặn cao nhưng chỉ tăng trong một giới hạn nhất định. Sau 15 ngày gây

mặn, ở nồng độ NaCl 100mM và 125mM, sinh trưởng của các giống cà chua

đã có sự phân biệt rõ rệt về hàm lượng nước liên kết trong lá. Những giống có

hàm lượng nước liên kết trong lá cao là một trong những chỉ tiêu sinh lý được

sử dụng để đánh giá khả năng chịu mặn của cây như giống VT3 và FM20.

2.1.2. Ảnh hưởng của mặn đến hàm lượng diệp lục tổng số trong lá cây

cà chua

43



43



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b. Hoạt độ enzim peroxydaza trong lá cây cà chua [26]

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×