Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Lịch sử hình thành cơ sở thực tập

2 Lịch sử hình thành cơ sở thực tập

Tải bản đầy đủ - 0trang

Nam về việc thành lập Trung tâm Nghiên cứu, ứng dụng khoa học tâm lý – giáo

dục Hừng Đông, và sau đó là Giấy chứng nhận Đăng ký hoạt động khoa học và

công nghệ số A – 1328 của Bộ Khoa học và Công nghệ.

Sau một thời gian hoạt động, hiện tại trung tâm đã và đang xây dựng một cơ

sở chẩn đoán, đánh giá, tư vấn, đào tạo và can thiệp chất lượng và hiệu quả nhằm

giúp đỡ trẻ có rối loạn phát triển có thể được học tập, hòa nhập với cộng đồng. Bên

cạnh, trung tâm thực hiện việc xây dựng, kết nối các cơ sở chẩn đoán, đánh giá,

can thiệp khác trên tồn quốc nhằm mục đích hướng tới những điều tốt nhất cho trẻ

khuyết tật Việt Nam nói chung và trẻ có rối loạn phát triển nói riêng. Cho đến

tháng 8/2015, trung tâm Nghiên cứu, ứng dụng Khoa học Tâm lý – Giáo dục Hừng

Đông tiếp nhận đánh giá và tư vấn về rối loạn phát triển khoảng 3 – 4 trẻ/1 tuần,

thực hiện tư vấn tâm lý cho 2 -3 thân chủ/1 tuần, can thiệp sớm cho hơn 10 trẻ, can

thiệp cá nhân tại nhà là 4 trẻ và can thiệp sớm cho trẻ tại trường mầm mon là 12

trẻ, và dạy kỹ năng giao tiếp xã hội cho 15 trẻ từ tuổi thiếu niên đến thanh niên.

Khơng dừng lại ở đó, trung bình mỗi tháng trung tâm tổ chức tập huấn cho phụ

huynh một lần và trung bình hai tháng trung tâm tổ chức đợt đào tạo, tập huấn cho

cá nhân, các tổ chức về chẩn đoán, đánh giá và can thiệp cho trẻ có rối loạn phát

triển.

2. Hệ thống tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ

2.1. Hệ thống tổ chức bộ máy



Hội đồng khoa học Trung tâm hừng Đông:

- PGS. Trần Thị Lệ Thu – Khoa Tâm lý Giáo dục – Trường đại học Sư

Phạm Hà Nội.

- TS. Nguyễn Bá Đạt – Giảng viên Tâm lý học – Trường Đại học Khoa học

Xã Hội và Nhân Văn – Đại học Quốc gia Hà Nội.

- TS. Trần Văn Công – Khoa Các Khoa học Giáo dục – Trường đại học

Giáo Dục – ĐH Quốc gia HN.

- ThS. Đào Nguyễn Tú – Trung tâm Hừng Đông.

- ThS. Vũ Văn Thuấn – Khoa Tâm lý lâm sàng, Bệnh viện Tâm thần Trung

Ương I.

- Nguyễn Phương Hồng Ngọc – Trung tâm Hừng Đông.



2.2.Nhiệm vụ và chức năng của cơ sở thực hành :

Trung tâm Hừng Đông mang trong mình sứ mệnh : “Phát triển tối đa tiềm

năng con người, giảm thiểu những hạn chế và khiếm khuyết. Xây dựng cộng đồng

và xã hội bền vững và hạnh phúc…”. Cùng với đội ngũ cán bộ nhân viên có trình



độ cao, lòng u nghề sự nhiệt huyết đã quyết tâm làm cho sứ mệnh ấy được thực

hiện một cách hiệu quả nhất.

Trung tâm nghiên cứu, ứng dụng khoa học tâm lý – giáo dục Hừng Đơng

gồm có 4 chức năng chính sau đây:

• Nghiên cứu những vấn đề của khoa học tâm lý - giáo dục liên quan đến

những vấn đề lý luận và thực tiễn của các khó khăn tâm lý, các rối loạn phát triển :

- Thực hiện nghiên cứu về các vấn đề của tâm lý học-giáo dục học liên

quan đến các khó khăn tâm lý và các rối loạn phát triển.

- Nghiên cứu đề xuất mơ hình, phương pháp can thiệp các khó khăn tâm lý

và các rối loạn phát triển.

• Tư vấn và phản biện cho cá nhân và tổ chức về các vấn đề tâm lý - giáo

dục nói chung và các rối loạn phát triển nói riêng.

- Tư vấn, tham vấn cho cá nhân và nhóm về các vấn đề tâm lý, tình cảm,

các mối quan hệ, các khó khăn và rối loạn tâm lý.

- Tư vấn, cố vấn cho cá nhân, nhóm và tổ chức về giáo dục, ni dạy trẻ,

can thiệp trẻ có khó khăn tâm lý, có rối loạn phát triển.

- Tư vấn cho cá nhân, nhóm và tổ chức về các mơ hình, cơ sở, lớp, nhóm,

trung tâm can thiệp cho trẻ có khó khăn tâm lý nói chung và trẻ.

• Thích nghi các trắc nghiệm tâm lý nói chung và trắc nghiệm chẩn đốn,

đánh giá trẻ có rối loạn phát triển nói riêng : Thích nghi trắc nghiệm tâm lý phục

vụ cho cơng cuộc chẩn đốn, đánh giá tại trung tâm.

• Cung cấp dịch vụ tham vấn, trị liệu, can thiệp cho trẻ em và người lớn có

khó khăn tâm lý và rối loạn phát triển; cung cấp dịch vụ bồi dưỡng, hợp tác đào

tạo, hợp tác tập huấn theo nhu cầu của cá nhân và tổ chức nhằm giảm thiểu mặt

hạn chế, phát triển và phát huy tối đa tiềm năng của con người :

- Cung cấp dịch vụ tham vấn và trị liệu cho cá nhân và nhóm về tình cảm,

các mối quan hệ, các khó khăn và rối loạn tâm lý.

- Cung cấp dịch vụ tư vấn về giáo dục, nuôi dạy trẻ em nói chung và trẻ có

khó khăn tâm lý hoặc rối loạn phát triển nói riêng.

- Cung cấp dịch vụ chẩn đoán, đánh giá tâm lý cho trẻ em và người lớn có

khó khăn tâm lý và rối loạn phát triển.



- Cung cấp dịch vụ can thiệp tâm lý theo giờ, trơng giữ và chăm sóc cả

ngày cho trẻ có rối loạn phát triển.

- Cung cấp dịch vụ bồi dưỡng kỹ năng sống, giá trị sống, kỹ năng xã hội

cho trẻ em nói chung và trẻ có khó khăn tâm lý và rối loạn phát triển nói

riêng.

- Cung cấp dịch vụ bồi dưỡng, hợp tác đào tạo, hợp tác tập huấn về

phương pháp nghiên cứu khoa học tâm lý-giáo dục, kiến thức và kỹ năng

làm việc với trẻ em nói chung và với gia đình và trẻ em có khó khăn tâm

lý và rối loạn phát triển.

- Hợp tác với các các nhân và tổ chức khác để hình thành các nhóm, lớp,

cơ sở cung cấp dịch vụ can thiệp và bồi dưỡng cho trẻ em và người lớn

có khó khăn tâm lý, trẻ em có rối loạn phát triển.

- Hợp tác với cá nhân, tổ chức để thực hiện các nghiên cứu về các vấn đề

lý luận và thực tiễn của của khoa học tâm lý, giáo dục, tập trung vào các

khó khăn tâm lý và các rối loạn phát triển.

- Hợp tác chia sẻ chuyên môn, trao đổi kinh nghiệm với các cá nhân và tổ

chức khác.

- Liên kết với các cá nhân và tổ chức khác để hình thành mạng lưới

những cá nhân và tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tâm lý – giáo dục nói

chung và trong lĩnh vực nghiên cứu và can thiệp cho trẻ có rối loạn phát

triển nói riêng.



2.3. GIỚI THIỆU LỚP CAN THIỆP VIỆT - BUN

Tại trường mầm non Việt Bun, Trung tâm Hừng Đông cung cấp các dịch vụ:

đánh giá, tư vấn và định hướng cho trẻ có vấn đề, khó khăn và rối loạn phát triển

(RLPT) như trẻ chậm nói, rối loạn phổ tự kỷ, rối loạn tăng động giảm chú ý,

khuyết tật trí tuệ; tập huấn cho phụ huynh cách ni dạy và can thiệp cho con có

rối loạn phát triển; tập huấn, đào tạo cho các nhà chuyên môn, cán bộ can thiệp về

kiến thức, kỹ năng sàng lọc, đánh giá, lên chương trình và can thiệp; can thiệp sớm

(theo giờ, theo buổi và cả ngày); can thiệp nhóm (dạy kỹ năng giao tiếp, ứng xử,

tiền tiểu học, kỹ năng chơi...); can thiệp hòa nhập (hỗ trợ trẻ học tại lớp cùng các

bạn).

I. Nguyên tắc làm việc



1. Mọi trẻ đều có tiềm năng học và tiến bộ, miễn là trẻ được can thiệp đúng

hướng và đúng cách.

2. Chúng tơi cung cấp mọi dịch vụ có thể, phù hợp với khả năng của gia

đình, nhằm phát triển và phát huy tối đa tiềm năng của mỗi trẻ.

3. Trẻ là trung tâm của chương trình can thiệp và gia đình là trung tâm của

nhóm can thiệp, cụ thể là gia đình sẽ tham gia tích cực vào các hoạt động can thiệp,

từ việc đánh giá, lên chương trình và trực tiếp can thiệp. Gia đình sẽ được tư vấn

và tập huấn cách thức làm việc với con ở nhà.

4. Mọi can thiệp và giáo dục của chúng tôi dành cho trẻ được dựa trên các

thành tựu nghiên cứu khoa học mới nhất, dựa trên các giáo trình và chương trình

can thiệp có độ tin cậy, đã được nghiên cứu và sử dụng trên thế giới.

II. Các dịch vụ được cung cấp cho trẻ và gia đình tham gia lớp

1. Can thiệp cá nhân (một cơ một trò theo giáo trình chi tiết)

2. Can thiệp theo nhóm (dạy kỹ năng giao tiếp, ứng xử, tiền tiểu học, kỹ

năng chơi...)

3. Can thiệp hòa nhập (cho trẻ vào lớp với các bạn bình thường)

4. Điều hòa cảm giác, vận động (với những trẻ có các vấn đề về cảm giác,

tăng hoạt động, các vấn đề hành vi)

5. Hoạt động vui chơi ngoài trời vào sáng thứ 7 hàng tuần (có thể ở trong

khuôn viên trường hoặc tại công viên, vườn hoa… tùy điều kiện thời tiết)

III. Quy trình làm việc với mỗi trẻ tham gia lớp

Để đạt kết quả can thiệp tốt nhất, mỗi trẻ và gia đình sẽ trải qua các bước

sau:

1. Mọi trẻ tham gia lớp can thiệp sẽ được đánh giá, chẩn đoán, định hướng

và tư vấn một cách kỹ lưỡng bởi các tiến sĩ, thạc sĩ tâm lý lâm sàng được đào tạo

bài bản và nhiều kinh nghiệm, sử dụng quy trình và các trắc nghiệm chẩn đốn

mới, hiện đại và có độ tin cậy cao.

2. Sau khi được đánh giá xác định vấn đề, trẻ sẽ được định hướng can thiệp

bao gồm: giáo trình can thiệp, phương pháp và kỹ thuật can thiệp cho giáo viên và

cho gia đình.

3. Giáo viên sẽ lên chương trình can thiệp chi tiết và cụ thể cho từng trẻ một,

đồng thời với sự thảo luận và đồng thuận của gia đình.

4. Trẻ được thực hiện chương trình can thiệp như gia đình và giáo viên đã

thống nhất. Mỗi trẻ sẽ có một kế hoạch can thiệp riêng và cụ thể, bao gồm hai loại

kế hoạch: (1) Mục tiêu trọng tâm mà trẻ cần đạt được trong vòng 6 tháng, (2) Sau

đó chia nhỏ từng tháng cụ thể, trong từng tháng có các tuần và các ngày. Sau mỗi



ngày học giáo viên có nhận xét vào để xem trong từng buổi học trẻ đã làm được gì

và chưa làm được gì.

5. Việc can thiệp của giáo viên cho mỗi trẻ sẽ được giám sát về thời gian, kỹ

thuật, tính cam kết và sự đầu tư dành cho trẻ.

6. Hàng tháng sẽ có buổi trao đổi giữa người giám sát, giáo viên với phụ

huynh (tất cả phụ huynh hoặc riêng lẻ từng người một) về chương trình can thiệp,

những nhận xét, góp ý, phản hồi… về quá trình can thiệp cho trẻ và sự cam kết của

gia đình.

7. Đánh giá lại tồn bộ kỹ năng của trẻ 6 tháng một lần, cùng với phụ huynh

định hướng can thiệp cho 6 tháng tiếp theo.



PHẦN II

CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN



1.MÔ TẢ CA

Bé là con 1 trong gia đình. Bố 26 tuổi, mẹ 25 tuổi khi sinh bé. Bố làm du

lịch, mẹ làm kế toán. Họ hàng hai bên gia đình có bác của mẹ 4 tuổi mới biết nói.

Bố mẹ khơng gặp khó khăn gì trong việc có con.

Trong q trình mang thai mẹ bé hay bị căng thẳng, khơng vui vẻ, hay khóc

do stress chuyện nhà chồng và chồng. Cháu sinh thường, đủ tuần. Bố mẹ cháu đã li

hôn, bố đã lập gia đình mới. Cháu sống với mẹ, ơng bà ngoại. Cháu ít được quan

tâm, được cho xem tivi nhiều. Khi ăn, cháu phải được cho xem quảng cáo hoặc

xem Ipad thì mới được.

Bé phát triển chậm hơn so với các trẻ khác, 5 tháng biết lẫy, 17 tháng biết đi.

Trong giai đoạn 10 tháng cháu bị viêm phổi phải nằm viện mất gần 1 tháng sau đó

lại lên sởi, bị cách ly 1 tuần. Từ 14 tháng, cháu đã bi bô nói và làm theo những gì

mẹ dạy sau đó khơng nói gì thêm, khơng nghe lời mẹ dạy. Cháu cũng không theo

mẹ, hay đi lại linh tinh. Giai đoạn 22 tháng, mẹ bắt đầu nhận thấy cháu có dấu hiệu

nghi tự kỷ, nên cố tìm cách nói chuyện và dạy bảo cháu nhiều hơn, nhờ đó cháu

cũng có những biểu hiện tích cực hơn.



Khi gọi tên, nếu là mẹ, cháu sẽ quay lại nhanh hơn, nếu là ông bà hoặc cô

giáo phải 2 – 3 lần cháu mới quay lại. Cháu ít nhìn mắt người khác, mẹ nói chuyện

hoặc chơi cùng cháu mới nhìn. Cháu cũng khơng biết chỉ ngón tay khi được yêu

cầu, không chủ động gọi người lớn ra chơi cùng.

Cháu có thể ngồi chơi cùng, chạy theo các anh chị nhưng không chạm tay

hay sờ vào. Khi thấy các trẻ quen, cháu cũng có chạy lại và nhìn.

Cháu đã nói được “ bà “, “ mẹ “ , “ đi “ , “ nhanh “ , “ ạ “. Cháu có nói đúng

tình huống nhưng chưa đúng mục đích. Cháu cũng phát ra những âm thanh vơ

nghĩa hay lặp lại. Thỉnh thoảng, cháu đi kiễng chân hoặc chạy vòng quanh.

Cháu đã đi học mẫu giáo được gần 2 tháng. Giáo viên nhận xét cháu có

những biểu hiện tích cực hơn so với lúc bắt đầu đi học, bắt đầu biết chơi với các

bạn, nhưng vẫn chậm hơn so với các bạn.

Gia đình chưa cho cháu đi đánh giá và can thiệp ở bất cứ đâu. Sau đó, gia

đình cho cháu tới đánh giá tại Trung tâm Hừng Đông, và hiện tại cháu đang học tập

tại Trung tâm Hừng Đông.



HỒ SƠ THÂN CHỦ

1.

2.

3.

4.

5.

-



Họ tên thân chủ: HBT

Ngày sinh: 05/4/2013

Giới tính: Nữ

Họ tên mẹ: VTM

Hồn cảnh gia đình:

Bé là con 1 trong gia đình. Bố 26 tuổi, mẹ 25 tuổi khi sinh bé. Bố làm du

lịch, mẹ làm kế tốn. Hiện tại bố mẹ cháu đã li hơn, cháu T sống cùng với

mẹ, cùng với sự chăm sóc của ông bà ngoại.

6. Tình trạng sức khỏe:

- Thể chất: cơ thể cháu khỏe mạnh, nhanh nhẹn, hoạt bát.

- Tinh thần: cháu ngoan, hay vui vẻ, hợp tác, khi được làm điều gì đó làm

cháu thích thú.

7. Nhu cầu:

- Bé cần trị liệu âm ngữ và trị liệu hành vi.

- Cần can thiệp tích cực ngay và càng nhiều càng tốt

- Bé cũng cần được dạy giao tiếp và kỹ năng chơi, kỹ năng tự lập trong

môi trường tự nhiên và theo 1 cách dạy tự nhiên chủ yếu tập trung vào

việc lấy hứng thú của trẻ làm trung tâm, chờ đợi phản hồi khi trẻ có nhu

cầu giao tiếp, và hỗ trợ trẻ từ ít đến nhiều để kích thích giao tiếp và tương

tác xã hội cho trẻ.

8. Phỏng đoán vấn đề của thân chủ

- Những thông tin thu được từ đánh giá cho thấy bé đang gặp các vấn đề

sau: trễ hơn các lĩnh vực về phát triển, giao tiếp xã hội bất thường và

kém, hành vi định hình lặp lại. Bé phù hợp với tiêu chí chẩn đốn của rối

loạn phổ tự kỷ và trễ về phát triển.

9. Người chăm sóc:

- Người chăm sóc cháu hiện tại chủ yếu là mẹ, và có sự giúp đỡ từ phía

ơng bà ngoại của cháu.

10. Các hoạt động hỗ trợ trước đây

- Trước khi vào Trung tâm Hừng Đông, cháu chưa từng được hỗ trợ điều

trị tại bất cứ đâu.



Bước 1. Tiếp cận và bước đầu xác định vấn đề của thân chủ

Để tìm được thân chủ có thể hỗ trợ phù hợp và theo lịch sắp xếp của Trung

tâm, tôi đã có 2 tuần để tiếp cận tìm hiểu và làm quen với các trẻ trong trung tâm.

Thời gian đầu tơi cũng đã có một số lựa chọn sau khi làm việc với Kiểm huấn viên

tôi đã lựa chọn cho mình một thân chủ phù hợp để có thể hỗ trợ. Thân chủ tôi lựa

chọn là em HBT, sinh năm 2013, em vào Trung tâm từ tháng 5, năm 2015.

Theo những thông tin thu được từ đánh giá cho thấy T đang gặp các vấn đề

sau: trễ hơn ở các lĩnh vực phát triển: giao tiếp, tương tác bất thường: khơng có kết

nối với xung quanh: hành vi sở thích định hình lặp lại. T phù hợp với chuẩn đốn

của rối loạn Phổ tự kỷ (Autism Spectrum Disorder) mức độ nặng và Trễ về phát

triển (Developmental Delay).

Tôi đã tiếp cận và thiết lập mối quan hệ với cháu, bằng cách nói chuyện chơi

trò chơi, và hỗ trợ cháu trong các hoạt động sinh hoạt tại trung tâm. Do T còn nhỏ

và chưa nhận thức được nhiều nên tôi đã cho mẹ T biết về mục đích tơi tới trung

tâm để hỗ trợ cháu, và sẽ làm việc với cháu trong thơi gian 2 tháng.

Nhận diện vấn đề:

Qua quan sát và lắng nghe Kiểm huấn viên – Giáo viên phụ trách em T chia

sẻ, em T đang gặp phải những vấn đề gì, và những khó khăn vướng mắc như thế

nào. Tình trạng em hiện nay đang tiến triển ra sao, từ đó, chị Kiểm huấn viên đã

hướng dẫn tơi nên đưa ra những mục tiêu nào để có thể hỗ tiếp cận để có thể hỗ trợ

cháu thuận lợi trong quá trình làm việc.

Cháu T rất ngoan và lễ phép, cháu cũng đã có những thay đổi tiến bộ từ khi

đi học tại Trung tâm, tuy nhiên hiện tại cháu cũng đang còn gặp phải một số khó

khăn sau:

- Về mặt ngôn ngữ, tiếp nhận: việc thực hiện yêu cầu của T đơi khi vẫn

còn cần phải nhắc nhở hỗ trợ nhiều.

- Về mặt ngôn ngữ diễn đạt: T chưa bật rõ âm “U” và âm “E” khi giáo viên

yêu cầu. Cháu chưa thể nói đúng tên con vật khi giáo viên yêu cầu. Các

con vật nói chưa thực sự rõ ràng và hầu như cần hỗ trợ nhiều về khẩu

miệng.

- Về mặt nhận thức: T chưa thể nhận biết trong hầu hết các tình huống giáo

viên hỏi. Đơi lúc còn tỏ ra bướng và khơng chịu hợp tác cùng với giáo

viên.

- Bắt chước và tương tác xã hội: Chơi tương tác của con còn hạn chế ít tập

trung, vẫn cần sự hỗ trợ từ giáo viên. Khả năng chơi búng bi còn hạn chế,

chưa thể phối hợp tay mắt và lấy lực bật tay cho viên bi di chuyển. Tuy

nhiên việc bật âm vẫn chưa thể đẩy hơi ra nhiều.



- Vận động thô: T đôi khi mất tập trung, cười tự do, khơng có chủ đích.

Đơi khi ít tập trung, và chạy nhảy quanh phòng.

- Vận động tinh: T chưa thực sự chủ động hồn tồn, đơi khi cần Giáo viên

nhắc nhở nhiều. T chưa chủ động nối chấm theo đường thẳng đứng.

- Về khả năng tự phục vụ: T chưa thể chủ động đi vệ sinh, cần hỗ trợ nhiều

từ giáo viên.

- Hỗ trợ lớp nhóm: T đơi lúc cười, chạy nhảy tự do. Hay chú ý đến các

hoạt động khi chơi cùng bạn. Đôi lúc hay ra khỏi chỗ và chạy nhảy quanh

phòng, nhưng khi được nhắc nhở thì cháu lại về chỗ, ngồi ngoan.

Bé được gia đình đưa đến đánh giá với lý do trong giai đoạn 14 tháng tuổi,

bé đã bắt đầu biết nói một số từ, làm một số hành động nhưng sau một thời gian

cháu khơng nói bất cứ điều gì và làm theo lời mẹ. Cháu chậm nói, khơng đặc biệt

thích một cái gì, khơng biết chỉ trỏ điều gì, khơng có sự tập trung vào việc gì ngồi

xem tivi, Ipad.

Từ những thơng tin đó, tơi đã cơ bản nhận diện được vấn đề của cháu T.

Bước 2. Tìm hiểu, phân tích thông tin về thân chủ

Áp dụng các kiến thức đã được học và kinh nghiệm của những lần thực hành

môn học trước tôi tiến hành thu thập sâu hơn những thông tin về T để xác định

những vấn đề T đang gặp phải và những nhu cầu cần được hỗ trợ để có những trợ

giúp phù dành cho T.

Sau quá trình đọc hồ sơ của T tại trung tâm, tơi có tìm hiểu, ghi chép, trò

chuyện… thơng qua Kiểm huấn viên – Giáo viên hướng dẫn T, tôi đã cùng bàn bạc

với Kiểm huấn viên và xác định được vấn đề của thân chủ đang gặp phải.

1) Chơi tương tác còn hạn chế

2) Ít tập chung, và chưa chủ động

3) Ngôn ngữ tiếp nhận đôi khi vẫn cần nhắc nhở nhiều

Bước 3. Phân tích nguyên nhân, xác định vấn đề ưu tiên

Để tìm hiểu rõ hơn về nguyên nhân của vấn đề, tôi đã vẽ lại sơ đồ thể hiện

mối quan hệ với các thành viên trong gia đình thân chủ:

Sơ đồ phả hệ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Lịch sử hình thành cơ sở thực tập

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x