Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
6 Các vùng thể tích liên quan đến xạ trị

6 Các vùng thể tích liên quan đến xạ trị

Tải bản đầy đủ - 0trang

ĐH Bách Khoa Hà Nội



-



Đồ án tốt nghiệp



Thể tích chiếu xạ (irradiation volume – IV).



Hình 2.16. Các vùng thể tích liên quan đến xạ trị

Sau đây chúng ta hãy xét lần lượt xem xét từng loại thể tích trên. [4]

2.6.1 Thể tích khối u thơ (GTV)

Là thể tích thể hiện sự lan rộng của các thế bào ác tính mà có thể sở, nắn hay

nhìn thấy được bằng thăm khám. Thể tích khối u thơ bao gồm cả khối u nguyên

phát, các hạch di căn hay những di căn khác. Thể tích khối u thơ thường đúng với

các phần của sự phát triển ác tính, mà ở đó mật độ tế bào u là lớn nhất.

Hình dạng, kích thước và sự khu trú của thể tích u có thể được xác định bằng

nhiều cách khác nhau như kiểm tra lâm sàng (thăm, khám, sờ nắn, nội soi...) bằng

các kỹ thuật hình ảnh (chụp X-quang, cắt lớp vi tính CT, hay cộng hưởng từ MRI,

siêu âm, PET/CT...).

2.6.2 Thể tích bia lâm sàng (CTV)

Là thể tích tế bào và mơ chứa thể tích khối u thơ, ngồi ra còn bao gồm các

tổ chức rất nhỏ, liên quan phải được xét đến khi cần điều trị triệt để khối u đó.

Kinh nghiệm lâm sàng cho thấy rằng, quanh thể tích khối u thơ thường có

những tổ chức liên quan, nghĩa là nó gồm bản thân các tế bào ác tính, các đám tế

bào nhỏ hay những tổn thương rât nhỏ, rất khó phát hiện. Thể tích bao quanh một

khối u lớn thường có mật độ tế bào u lớn. Gần kề với mép của thể tích khối u và đi

về phía ngoại vi thì mật độ tế bào giảm đi. Thơng thường các mép đường biên này

khoảng 1 cm. Thể tích khối u thô, cùng với giới hạn bao quanh này của các tổ chức



Phùng Quang Tiến – KTHN & VLMT – K54Trang 46



ĐH Bách Khoa Hà Nội



Đồ án tốt nghiệp



liên quan tại chỗ được gọi là thể tích bia lâm sàng (CTV) và phải được tính đến

trong mục đích điều trị triệt căn. Trong thực tế, thường có khơng phải là một, mà

đơi khi hai thể tích cận lâm sàng, gọi là thể tích bia lâm sàng bậc 1 và bậc 2... Cũng

có trường hợp, ta có thể minh họa một khối u nguyên phát và hạch vùng của nó một

cách riêng rẽ.

2.6.3 thể tích bia lập kế hoạch (PTV)

Thể tích bia lập kế hoạch là một khái niệm hình học và được xác định để lựa

chọn kích thước chùm tia cho phù hợp, trong đó cần tính đến hiệu quả cao nhất của

tất cả những thay đổi hình học có thể xảy ra, sao cho đảm bảo rằng liều lượng đã chỉ

định được phân bố tối ưu bên trong thể tích bia lâm sàng.

Để đảm bảo cho tất cả các mô bên trong thể tích bia lâm sàng nhận được liều

lượng đã chỉ định, về nguyên tắc người ta phải lập kế hoạch để chiếu xạ một thể tích

hình học lớn hơn thể tích bia lâm sàng. Một cách lý tưởng thì vị trí, kích thước và

hình dạng của thể tích bia lâm sàng và các chùm tia cần có quan hệ tọa độ cố định

cùng trong một phương và có thể sao chép lại được. Tuy nhiên trong thực tế điều

này khơng thể thực hiện được.

Tùy theo tình trạng lâm sàng (vị trí, kích thước khối u ...) và kỹ thuật đã

chọn, thể tích bia lập kế hoạch cũng có thể trùng với thể tích bia lâm sàng (chẳng

hạn như khối u nhỏ trên da, các khối u tuyến yên...). Và thường kích thước lập kế

hoạch là PTV= CTV+1cm.

2.6.4



Các tổ chức nguy cấp (OAR)

Các tổ chức nguy cấp là các mô và tạng lành, nơi mà độ nhạy cảm tia xạ của



chúng có thể ảnh hưởng đến việc lập kế hoạch điều trị và liều lượng được chỉ định.

2.6.5 Thể tích điều trị (TV)

Thể tích điều trị là một thể tích được bao quanh bởi một đường đồng liều

trên bề mặt, đã được các kỹ sư vật lý và bác sĩ lựa chọn rõ sao cho đạt được mục

đích điều trị.

Một cách lý tưởng, liều lượng chỉ phân bố trên thể tích bia lập kế hoạch. Tuy

nhiên, do những hạn chế của kỹ thuật điều trị mà mục đích này rất khó thực hiện



Phùng Quang Tiến – KTHN & VLMT – K54Trang 47



ĐH Bách Khoa Hà Nội



Đồ án tốt nghiệp



được một cách hoàn chỉnh. Điều này dẫn đến việc phải xác định một thể tích điều

trị. Khi một liều lượng tối thiểu đối với một thể tích bia lập kế hoạch đã được lựa

chọn một cách thích hợp thì trong một số trường hợp, thể tích điều trị gần trùng với

thể tích bia lập kế hoạch. Nhưng trong một số trường hợp, thể tích điều trị thường

lớn hơn nhiều so với thể tích bia lập kế hoạch.

2.6.6 Thể tích chiếu xạ

Thể tích chiếu xạ là một thể tích mà các mơ nhận được một liều lượng được

coi là có nghĩa trong việc liên quan đến tổng liều chịu đựng của các mơ lành.

Việc so sánh các thể tích điều trị và thể tích chiếu xạ đối với những phân bố

chùm tia khác nhau có thể được sử dụng để lựa chọn như một phần của quá trình lập

kế hoạch điều trị. [2]



Phùng Quang Tiến – KTHN & VLMT – K54Trang 48



ĐH Bách Khoa Hà Nội



Đồ án tốt nghiệp



CHƯƠNG 3

QUY TRÌNH XẠ TRỊ

3.1



Mở đầu

Việc đạt được những kết quả tối ưu trong điều trị tia xạ phụ thuộc vào sự



phân bố liều lượng đồng đều tại vùng thể tích khối u đã được xác định rõ, đồng thời

giảm tối thiểu liều lượng tại các tổ chức lành bao quanh. Để đạt được mục đích này,

đòi hỏi mức độ chính xác cao trong việc phân bố liều lượng hợp lý khi điều trị một

bệnh (ung thư) cụ thể nào đó. Giải quyết được nhiệm vụ đó thì vai trò của mỗi cơng

việc trong quy trình xạ trị đều hết sức quan trọng.

Kết quả điều trị đòi hỏi sự tham gia của một nhóm các chuyên gia trong khoa

điều trị. Các bác sĩ xạ trị chịu trách nhiệm về những khía cạnh y tế như chẩn đoán

lâm sàng, chỉ định kỹ thuật và lựa chọn phương pháp điều trị... Các vấn đề kỹ thuật

tia xạ như vị trí, tư thế cố định bệnh nhân, lập kế hoạch xạ trị tia xạ và phân bố liều

lượng cụ thể trên bệnh nhân được dựa vào các kỹ thuật viên và kỹ sư vật lý. Trong

chương này sẽ nghiên cứu các cơng việc trong quy trình xạ trị như định vị khối u,

chụp ảnh cắt lớp, lập kế hoạch xạ, kiểm tra kế hoạch và điều trị. [5]

3.2



Những công việc trước khi tiến hành mô phỏng

Để điều trị một bệnh nhân nào đó, bước quan trọng cần được tiến hành trước



khi bệnh nhân được đưa đến phòng mơ phỏng là việc xác định chính xác thể tích

cần được điều trị. Chỉ sau khi xác định được thể tích bia thì kế hoạch điều trị bao

gồm việc sử dụng các biện pháp an toàn nhất, hiệu quả nhất, thích hợp nhất nhằm

tối ưu hóa kết quả điều trị mới có thể thực hiện được. Thể tích bia thường được xác

định như một vùng thể tích bao gồm khối u và những tổ chức nào đó được coi là tế

bào u. Việc phác họa thể tích bia được dựa trên sự phân loại bệnh và những thông

tin chẩn đốn sẵn có như phim X-quang, CT, MRI, kết quả sinh thiết, giải phẫu...

3.3



Tư thế bệnh nhân

Việc xác định được tư thế bệnh nhân ổn định và tái tạo được là bước đầu tiên



của chức năng được bắt đầu mô phỏng. Điều quan trọng của bước này đã được nhấn



Phùng Quang Tiến – KTHN & VLMT – K54Trang 49



ĐH Bách Khoa Hà Nội



Đồ án tốt nghiệp



mạnh từ lâu. Một điều được thừa nhận chung là nếu tư thế bệnh nhân khơng được

duy trì và lặp lại từ ngày này qua ngày khác trong suốt quá trình điều trị thì sẽ gây

ra kết quả hoặc là liều lượng thiếu đồng đều trên tồn bộ thể tích u, hoặc là tia xạ

trên cả vùng khơng cần điều trị- đó là các tế bào lành. Tư thế bệnh nhân cần phù

hợp với sự chiếu xạ của các trường chiếu ban đầu và những trường chiếu bổ sung

sau này. Tư thế bệnh nhân được cố định tốt sẽ loại trừ được những cấu trúc nội tạng

thay đổi bên trong bệnh nhân khi vị trí điều trị có thể thay đổi. Tư thế bệnh nhân

nằm ngửa, hai tay xuôi về bên cạnh được dùng nhiều hơn cả vì bệnh nhân được nằm

nghỉ, thư giãn nhất trên giường máy và ít có xu hướng dịch chuyển hay thay đổi. Tư

thế này cũng dễ dàng thực hiện và lặp lại trong suốt quá trình điều trị. Người ta

thường sử dụng loại giường giống với giường điều trị, vì vậy giảm được sự sai khác

thao tác bệnh nhân, giảm được sai số khi đo chiều cao đồng tâm trên mặt giường.

Một đèn laser dọc hoặc giữa cơ thể được sử dụng để định vị bệnh nhân theo trục

dọc của chùm tia và hệ laser đối diện, song song xác định sự đồng tâm trên mặt bàn

điều trị.

Các tư thế điều trị với hai cánh tay đặt trên đầu thường ít sử dụng, trừ khi

thật cần thiết. Tư thế này dường như ít thoải mái cho bệnh nhân và dễ bị cử động.

Nó cũng gây ra khó khăn cho nhân viên mô phỏng trong việc mô tả một cách chính

xác. Nếu như tư thế này buộc phải áp dụng thì người ta dùng thêm một số dụng cụ

phụ nhằm đảm bảo vị trí điều trị được chính xác. Để hạn chế cử động của bệnh

nhân, một dụng cụ cố định thường được sử dụng để định vị 2 điểm trên thành ngực

bệnh nhân luôn ở 1 mặt phẳng. Những điểm này được đánh dấu và vị trí của chúng

được mô tả phù hợp với các vết đánh dấu trên phần xương sao cho có thể sử dụng

được trước mỗi lần điều trị và khẳng định được là bệnh nhân luôn ở một tư thế

không bị thay đổi so với sự mô tả trên mô phỏng ban đầu.

Việc sử dụng túi xốp đã được cải thiện đáng kể để cố định tư thế bệnh nhân

và lặp lại tư thế đó trong quá trình điều trị. Túi này dễ dàng chế tạo bằng cách trộn

một số chất xốp đổ vào cái túi chất dẻo. Khi tiến hành mô phỏng, bệnh nhân được

đặt trên túi xốp này, túi được làm phồng lên nhờ phản ứng của chất hóa học bên



Phùng Quang Tiến – KTHN & VLMT – K54Trang 50



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

6 Các vùng thể tích liên quan đến xạ trị

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×