Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 1.6 : Thiết kế đường ống dẫn và van (ví dụ một kênh chi tiết) (2) [3] .

Hình 1.6 : Thiết kế đường ống dẫn và van (ví dụ một kênh chi tiết) (2) [3] .

Tải bản đầy đủ - 0trang

tắc phân tách vật lý thì hệ thống được kết nối với các nguồn điện khác nhau để

tránh trường hơp sai hỏng một bộ phận là sai hỏng cả hệ thống.

Các thiết trao đổi nhiệt – bình ngưng được thiết kế để thực hiện chức năng làm

giảm áp suất bên trong tòa nhà lò theo nguyên tắc là làm ngưng tụ hơi và loại

bỏ nhiệt do tuần hoàn tự nhiên nước làm mát của các bể tải nhiệt khẩn cấp. Các

van của hệ thống JMP được lắp đặt đạt theo yêu cầu về kỹ thuật NP-068-05. Tất

cả các van đều được làm bằng thép không rỉ và các đoạn nối với đường ống thì

được hàn chặt. Các ống được lắp đặt trong hệ thống JMP phải tuân theo các yêu

cầu PNAE G-7-008-89. Tất cả các van đều được làm bằng thép khơng rỉ và các

đoạn nối với đường ống thì được hàn chặt.

Các hệ thống đường ống có thể chịu được áp suất cao theo OST 34-10-416-90:

Các ống trao đổi nhiệt trong các thiết bị trao đổi nhiệt-bình ngưng có thể chịu

đượcáp suất 0.7 MPa và nhiệt độ là 190ºC. Các đường ống ở bên ngồi tòa nhà

lò tới các van cơ lập (isolation valve) có thể chịu được áp suất 1.1 MPa và nhiệt

độ 190ºC. Các đường ống ở bên ngồi tòa nhà lò giữa các van và bể tải nhiệt

khẩn có thể chịu được áp suất 0.23 MPa và nhiệt độ 115ºC.

Tất cả quá trình điều khiển và kiểm sốt các thơng số của hệ thống, cũng như

các hệ thống cảnh báo và báo động khẩn cấp đều được đặt trong phòng điền

khiển chính MCR. Việc giám sát các thơng số của q trình , cũng như cảnh báo

và báo động khẩn cấp sẽ cung cấp các thông tin về hoạt động của hệ thống JMP

khi ở các cơ chế điều khiển khi có sự cố nặng xảy ra sẽ được hiển thị trong

phòng điều khiển khẩn cấp [3] .



1.5.



Hoạt động của hệ thống trong điều kiện thông thường :



Trong trường hợp lò phản ứng hoạt động ổn định thì hệ thống JMP khơng hoạt

động (ngoại trừ sự cố LOCA). Khi ở điều kiện này thì sự sẵn sàng của hệ thống

được đảm bảo về các điều sau:

Page | 19



 Kiểm tra tình trạng các thiết bị.

 Kiểm tra mực nước trong bể tải nhiệt khẩn cấp.

 Hỗ trợ nhiệt độ theo yêu cầu bên trong các bể [3] .



1.6.



Hoạt động của hệ thống trong điều kiện sự cố nặng :



Trong trường hợp xảy ra sự cố nặng hệ thống JMP sẽ hoạt động để làm giảm áp

suất trong lò trong khoảng áp suất thiết kế, đặc biệt hệ thống này hoạt động tự

động không cần tác động của nhân viên vận hành trong khoảng 24 giờ.

Ban đầu , khi sự cố vỡ ống kênh lạnh xảy ra, nước ở trong đường ống có áp suất

là 16,2 MPa và nhiệt độ khoảng 324 độ C sẽ tràn ra ngồi; dẫn tới áp suất bên

trong thùng lò phản ứng giảm xuống. Vì áp suất thiết kế của tòa nhà lò chỉ là 0,5

MPa nên nước đi ra ngồi sẽ chuyển thành hơi quá nhiệt, nhiệt độ trong tòa nhà

lò tăng lên dẫn tới áp suất trong tòa nhà lò tăng lên. Áp suất trong tòa nhà lò

tăng lên sẽ kích thích hệ thống hoạt động. Nhiệt được truyền từ hơi quá nhiệt

bên trong tòa nhà lò vào trong các thiết bị trao đổi nhiệt ở dạng ống, nhờ đó áp

suất và nhiệt độ trong tòa nhà lò giảm xuống mức ban đầu, hơi được ngưng tụ và

điều này thể hiện rõ hiệu năng hoạt động của hệ thống tải nhiệt thụ động nhà lò.

Mặt khác, nhiệt được truyền từ tòa nhà lò vào trong ống sẽ làm cho nhiệt độ của

nước bên trong ống tăng lên, cơ chế đối lưu tự nhiên sẽ xảy ra : nước nóng sẽ

chuyển động lên trên dồn nước lạnh ở phía trên đi xuống. Q trình cứ thế tiếp

diễn trong vòng 24 giờ.

Hệ thống này được thiết kế hoạt động trong 24 giờ bởi vì nước trong các bộ trao

đổi nhiệt hấp thụ nhiệt từ tòa nhà lò sẽ tăng nhiệt độ dẫn tới tăng áp suất trong

bể, đến một mức nào đó sẽ vượt quá áp suất thiết kế của các bộ trao đổi nhiệt, vì

thế người ta phải thiết kế thêm các van an tồn (safety valve) để phòng ngừa

trường hợp quá áp trong các bộ trao đổi nhiệt. Nhiệt độ nước trong hệ thống tải

nhiệt sẽ tăng lên tới một mức nào đó sẽ chuyển thành hơi. Hơi này sẽ đi qua van

Page | 20



an toàn và xả ra ngoài khí quyển (Ultimate Heat Sink). Do đó lượng nước trong

bể tải nhiệt sẽ dần dần giảm xuống. Sau 24 giờ hệ thống sẽ được cấp nước thêm

từ các hệ thống cấp nước di động bên ngoài (mobile equipment) và các bể chứa

nước dự trữ để hệ thống JMP vẫn tiếp tục hoạt động.

Như trong hình 1.7 biểu diễn sự ảnh hưởng của hệ thống JMP đối với áp suất

bên trong tòa nhà lò khi có sự cố nặng xảy ra (vết vỡ có kích thước danh định

346 mm) [3] .



Hình 1.7 : Ảnh hưởng của hệ thống JMP tới áp suất và nhiệt độ bên trong tồ

nhà lò [3] .

Đường 1 trong hình 1.7 mơ tả nhiệt độ và áp suất bên trong tòa nhà lò khi khơng

có đóng góp của hệ thống tải nhiệt thụ động JMP.

Đường 2 trong hình 1.7 mơ tả nhiệt độ và áp suất bên trong tòa nhà lò khi có sự

đóng góp của hệ thống tải nhiệt thụ động JMP [3] .

Nhìn vào 2 hình vẽ trên ta thấy rằng nhiệt độ và áp suất trong tòa nhà lò khi có

hệ thống tải nhiệt thụ động sẽ thấp hơn so với khi khơng có hệ thống này. Điều

này thể hiện rất rõ hiệu năng hoạt động của hệ thống.

Page | 21



Một số vấn đề cần lưu ý :

 Hệ thống gọi là thụ động bởi vì nước bên trong bể tải nhiệt chuyển động

theo cơ chế đối lưu tự nhiên : Nước nóng chuyển động lên trên dồn nước

lạnh ở phía trên đi xuống. Mặt khác, các thiết bị và bể được đặt trên cao

nhằm mục đích sử dụng trọng lực để hoạt động và không cần đến nguồn

năng lượng khác. Nếu đặt bể tải nhiệt ở phía dưới thiết bị trao đổi nhiệt,

đối lưu tự nhiên sẽ không xảy ra.

 Thiết kế thiết bị trao đổi nhiệt :

Lượng nhiệt trao đổi được tính theo cơng thức :

Q = U A ΔT

Trong đó Q là lượng nhiệt truyền được, U là hệ số truyền nhiệt, A là diện tích

trao đổi nhiệt, ΔT là độ chênh nhiệt độ trung bình.

Ở đây ta thiết kế nhiều ống trao đổi nhiệt thay vì một ống vì như thế sẽ làm tăng

diện tích trao đổi nhiệt, qua đó làm tăng lượng nhiệt tải đi từ tòa nhà lò.



Page | 22



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 1.6 : Thiết kế đường ống dẫn và van (ví dụ một kênh chi tiết) (2) [3] .

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×