Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
I. Tổng quan tình hình kinh tế Trung Quốc năm 2017

I. Tổng quan tình hình kinh tế Trung Quốc năm 2017

Tải bản đầy đủ - 0trang

dưới 2%. Trong đó, riêng tháng 11, CPI tăng 1,7% so với cùng kỳ năm 2016, tương đương

mức giảm 0,2% so với tháng trước đó. CPI tăng chủ yếu do sự tăng giá của các mặt hàng

phi thực phẩm (tăng 2,5%) và dịch vụ (tăng 3,1%), trong khi giá lương thực trong tháng 11

giảm 1,1% so với cùng kỳ năm 20163. Nhìn chung năm 2017, giá các loại thực phẩm như

nơng sản và trứng biến động ít nhờ thời tiết thuận lợi, góp phần duy trì sự ổn định của CPI.

Biểu đồ 2. Biến động chỉ số CPI và PPI so với cùng kỳ năm trước

trong 11 tháng đầu năm 2017



Nguồn: Cục Thống kê quốc gia Trung Quốc

Chỉ số giá sản xuất (PPI) của Trung Quốc tăng khá mạnh trong năm 2017 do giá thép

tăng trở lại sau chiến dịch cắt giảm sản lượng ngành thép của Chính phủ Trung Quốc. Tính

chung cho 11 tháng đầu năm 2017, PPI tăng trung bình 6,3% so với cùng kỳ năm trước,

trong đó tháng 11 tăng 5,8%. Sự cải thiện PPI được đóng góp bởi sự tăng giá vật liệu sản

xuất trong các ngành như khai khoáng (tăng 21,9%) và sự tăng giá thành phẩm công

nghiệp của các ngành khai thác than (tăng 30,9%), dầu khí (tăng 30%) và luyện kim (tăng

28,9%)4. So với mức giới hạn CPI tăng 3% trong năm 2017 mà Chính phủ Trung Quốc đề

ra, mức tăng CPI 1,5% trong 11 tháng cho thấy lạm phát vẫn đang được kiểm sốt ở mức

ổn định. Trong khi đó, PPI tăng nhờ các chiến dịch cải cách cơng nghiệp, góp phần cải

thiện tình hình việc làm ở Trung Quốc. Sự chuyển biến của PPI cho thấy, kinh tế Trung

Quốc đã có động lực phục hồi và tăng trưởng mạnh hơn trong năm 2017.

Thứ ba, tình hình việc làm tiếp tục được cải thiện. Trong 10 tháng đầu năm 2017,

số việc làm mới được tạo ra ở cả khu vực thành thị và nông thôn là 11.910.000 việc làm,

tăng 230.000 việc làm so với cả năm 2016. Như vậy, cả nước Trung Quốc đã hoàn thành

trước 2 tháng và vượt mục tiêu của Chính phủ đề ra là tạo ra 11 triệu việc làm mới trong

năm 20175. Tỷ lệ thất nghiệp tại khu vực thành thị giảm chỉ còn 3,95% trong Quý III so với

mức trên 4% của năm 2016. Ba quý đầu năm 2017, tỷ lệ thất nghiệp thành thị tại Trung

Quốc lần lượt là 3,97%, 3,95% và 3,95%, mức thấp nhất kể từ năm 20026 (biểu đồ 3).

3



Cục Thống kê quốc gia Trung Quốc (2017), 2017 前 11 前前前前前前前前前前前前 1.7%,

http://www.stats.gov.cn/tjsj/zxfb/201712/t20171209_1561902.html

4

Cục Thống kê quốc gia Trung Quốc (2017), 2017 前 11 前前前前前前前前前前前前前前前 5.8%,

http://www.stats.gov.cn/tjsj/zxfb/201712/t20171209_1561905.html

5

Cục Thống kê quốc gia Trung Quốc (2017), 前前前前前前前前前前前 2017 前 10 前前前前前前前前前前前前前前,

http://www.stats.gov.cn/tjsj/sjjd/201711/t20171114_1553257.html;

Nhân Dân nhật báo (2017), 前前前前前前前前前前前前前前前 前前前前“前前前前”, http://money.people.com.cn/n1/2017/1130/c4287729677573.html

6

Cơ sở dữ liệu Cục Thống kê quốc gia Trung Quốc, http://data.stats.gov.cn/english/easyquery.htm?cn=C01,

http://www.stats.gov.cn/english/Statisticaldata/nsdp/201508/t20150831_1238096.html



4



Biểu đồ 3. Tỷ lệ thất nghiệp thành thị theo quý tại Trung Quốc, 2013 - QIII/2017



Nguồn: Cục Thống kê quốc gia Trung Quốc

Mặc dù chiến dịch cắt giảm sản lượng dư thừa trong ngành thép được dự báo làm

khoảng 1,8 triệu người Trung Quốc mất việc 7, nhưng sự cải thiện việc làm trong 10 tháng

đầu năm 2017 cho thấy các ngành công nghiệp của Trung Quốc đang dần phục hồi trở lại.

Số việc làm mới tạo ra là thành quả của chủ trương đổi mới phương thức kinh doanh và cải

cách cơ cấu trong các ngành công nghiệp thâm dụng lao động ở Trung Quốc. Trong bối

cảnh kinh tế Trung Quốc được duy trì ở trạng thái ổn định hơn là tăng trưởng mạnh mẽ thì

sự cải thiện trong tình hình việc làm thực sự là điểm sáng lớn nhất trong năm 2017.

2. Kinh tế đối ngoại

Hoạt động kinh tế đối ngoại cũng có những chuyển biến tích cực.

Thứ nhất, thương mại Trung Quốc khởi sắc trở lại. Sau 5 năm không đạt mục tiêu

tăng trưởng, thương mại Trung Quốc trong 10 tháng đầu năm 2017 đã cho thấy những cải

thiện tích cực. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 10 tháng đầu năm đạt 3307,2 tỷ đô la Mỹ

(USD), tăng 11,6% so với cùng kỳ năm 2016, trong đó xuất khẩu tăng 7,4%; nhập khẩu

tăng 17,2%8. Đây là mức tăng trưởng thương mại cao nhất trong 6 năm trở lại đây của

Trung Quốc, đặc biệt là sau sự sụt giảm nghiêm trọng vào các năm 2015 và 2016.

Biểu đồ 4. Kim ngạch xuất nhập khẩu và tăng trưởng kim ngạch thương mại Trung

Quốc trong 10 tháng đầu năm giai đoạn 2013 - 2017



Nguồn: Cục Thống kê quốc gia Trung Quốc

7



Nhân Dân nhật báo (2017), 前前“前前前”前“前前前前前前”前前前前前前前前, http://finance.people.com.cn/n1/2016/0627/c100428479762.html

8

Cơ sở dữ liệu Cục Thống kê quốc gia Trung Quốc, http://data.stats.gov.cn/english/easyquery.htm?cn=A01



5



Sự khởi sắc của thương mại Trung Quốc là nhờ vào sự phục hồi kim ngạch xuất nhập

khẩu tại các thị trường truyền thống và sự tăng trưởng mạnh mẽ trong thương mại với một

số quốc gia dọc theo “Vành đai và Con đường”. Trong 3 quý đầu năm 2017, xuất nhập

khẩu của Trung Quốc sang Mỹ, Nhật Bản và Liên minh châu Âu lần lượt tăng 16,4%,

18,7% và 14,9%, chiếm 3,8% tổng kim ngạch thương mại của Trung Quốc. Trong khi đó,

xuất nhập khẩu cùng kỳ sang Nga, Ba Lan và Kazakhstan (các quốc gia nằm trên “Vành

đai kinh tế con đường tơ lụa”) đạt mức tăng trưởng lần lượt là 27,7%, 24,8% và 41,1% 9.

Mặt hàng xuất khẩu chủ chốt của Trung Quốc vẫn là các loại hàng hóa truyền thống như cơ

khí và điện (tăng 13%, chiếm 57,7% tổng giá trị xuất khẩu) và các sản phẩm thâm dụng lao

động như ô tô, tàu và điện thoại di động (tăng 9,4%; chiếm 20,7% tổng giá trị xuất khẩu).

Trong khi đó, Trung Quốc chủ yếu nhập ngun liệu thơ như quặng sắt (tăng 7,1%), dầu

thơ (tăng 12,2%) và khí đốt tự nhiên (tăng 22,3%)10.

Sự tăng trưởng mạnh mẽ của thương mại Trung Quốc trong 10 tháng đầu năm là nhờ

vào bốn yếu tố chính. Thứ nhất, thị trường tồn cầu đang trên đà hồi phục, dẫn tới nhu cầu

hàng hóa và dịch vụ gia tăng. Thứ hai, kinh tế Trung Quốc dần ổn định và phục hồi đã tạo

động lực cho nhập khẩu tăng trưởng. Thứ ba, các chính sách kích thích thương mại của Bộ

Tài chính Trung Quốc đã bắt đầu phát huy tác dụng. Và cuối cùng, những tiến bộ trong

phương thức vận hành của doanh nghiệp theo hướng thâm dụng công nghệ và chú trọng

vào cải tiến chất lượng sản phẩm cũng giúp tăng cường khả năng cạnh tranh của hàng hóa

Trung Quốc trên thị trường thế giới, từ đó thúc đẩy xuất khẩu.

Thứ hai, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Trung Quốc tăng trưởng ổn định.

10 tháng đầu năm 2017, tổng số dự án FDI đăng ký tại Trung Quốc đạt 26174 dự án, tăng

15,9% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng trưởng dự án ấn tượng nhất trong vòng

năm năm trở lại đây, từ năm 2012 đến 2017, cho thấy Trung Quốc vẫn tiếp tục là một điểm

đến hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài.

Biểu đồ 5. Tăng trưởng số dự án FDI và tổng vốn FDI thực tế tại Trung Quốc trong

10 tháng đầu năm giai đoạn 2013 - 2017



Nguồn: Cục Thống kê quốc gia Trung Quốc

9



Số liệu công bố tại Hội nghị xuất nhập khẩu 3 q đầu năm 2017 của Văn phòng Thơng tin Chính phủ Trung Quốc.

Nguồn tham khảo: Bài viết “前前前前 2017 前前前前前前前前前前前前前前前”, http://www.gov.cn/xinwen/201710/13/content_5231501.htm#1

10

Chính phủ Trung Quốc (2017), “前前前前 2017 前前前前前前前前前前前前前前前”, http://www.gov.cn/xinwen/201710/13/content_5231501.htm#1



6



Tổng vốn đầu tư tính bằng USD đạt 1011,2 tỷ USD, giảm 2,7% so với cùng kỳ năm

trước. Tuy nhiên, nếu tính bằng đồng NDT, tổng số vốn FDI vào Trung Quốc trong 10

tháng đầu năm 2017 đạt 6787 tỷ NDT, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm 2016 11. Sự khác biệt

này là do đồng USD đã lên giá đáng kể so với đồng NDT sau các đợt tăng lãi suất của Cục

Dự trữ Liên bang Mỹ, trong bối cảnh kinh tế Mỹ đang trên đà tăng trưởng trở lại.

Trong khi kinh tế thế giới vẫn còn nhiều bất ổn và cạnh tranh để thu hút đầu tư ngày

càng khốc liệt do chủ nghĩa bảo hộ gia tăng, sự ổn định trong đầu tư nước ngồi vào Trung

Quốc có thể được coi là một dấu hiệu tích cực. Để tăng cường thu hút đầu tư, trong năm

2017, Trung Quốc đã tăng cường cải thiện môi trường kinh doanh và đẩy mạnh việc

chuyển đổi sang các lĩnh vực mang lại giá trị gia tăng cao. Trong 10 tháng đầu năm 2017,

tổng số vốn FDI đầu tư vào các ngành công nghiệp chế tạo sử dụng công nghệ cao của

Trung Quốc đã tăng 22,9%, trong khi tổng vốn đầu tư vào các ngành dịch vụ công nghệ

cao tăng 20% so với cùng kỳ năm 201612.

Về cơ bản, trong 11 tháng đầu năm 2017, Trung Quốc đã giữ vững được tốc độ tăng

trưởng kinh tế và duy trì tình hình thương mại, đầu tư ổn định. Giá cả được kiểm soát ở

mức tăng vừa phải, trong khi tình trạng thất nghiệp được cải thiện đáng kể. Bên cạnh đó,

Trung Quốc còn đạt được thành cơng bước đầu trong việc kiểm sốt tình trạng dư thừa

năng lực sản xuất ở một số ngành công nghiệp nặng và đẩy mạnh hợp tác kinh tế với các

quốc gia nằm dọc theo “Vành đai và Con đường”. Tuy giữ vững được đà tăng trưởng

tương đối ổn định trong bối cảnh nền kinh tế đang đối mặt với nhiều thách thức, kinh tế

Trung Quốc vẫn còn tiềm ẩn nhiều rủi ro và bất ổn, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính.

Những rủi ro này đến từ chính mơ hình tăng trưởng kinh tế thiếu bền vững trước đây, mà

trong quá trình đổi mới phương thức tăng trưởng mới bộc lộ ra và đe dọa trực tiếp đến sự

ổn định của nền kinh tế.



II.



Những khó khăn của nền kinh tế Trung Quốc trong năm 2017



1. Dư nợ tăng cao

Nợ của Trung Quốc từ lâu đã không phải một vấn đề mới lạ. Tính đến hết Quý I năm

2017, tổng nợ của Chính phủ, các hộ gia đình và doanh nghiệp Trung Quốc đã lên tới hơn

28.800 tỷ USD, tương đương 258% GDP. Trong đó khoản lớn nhất là nợ của các doanh

nghiệp (vào khoảng 17.000 tỷ USD), đặc biệt là những tập đoàn nhà nước hoạt động trong

nhiều ngành từ thép, xây dựng đến bất động sản 13. Như vậy, so với tỷ lệ nợ/GDP ở mức

141,3% (tương đương khoảng 4.907 tỷ USD) vào năm 2008, nợ của Trung Quốc đã tăng

gấp gần 6 lần14 (Biểu đồ 6). Tình trạng này càng kéo dài, kinh tế Trung Quốc càng nhiều

rủi ro. Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), vì núi nợ này mà tăng trưởng GDP Trung Quốc có



11



Cục Xúc tiến Thương mại Trung Quốc (2017), 2017 前 1-10 前前前前前前前前前前前前前,

http://www.fdi.gov.cn/1800000121_33_9641_0_7.html

12

Nhân Dân nhật báo (2017), 前前前前前前前 前前前前前前前前前前前前, http://finance.people.com.cn/n1/2017/1121/c100429657839.html

13

Kevin Hamlin (2017), Can Xi Jinping defuse China’s debt bomb?, https://www.bloomberg.com/news/articles/2017-0801/can-xi-jinping-defuse-china-s-debt-bomb

14

Tính tốn theo số liệu của Reuters (2017), http://fingfx.thomsonreuters.com/gfx/rngs/CHINA-DEBTGRAPHIC/0100315H2LG/



7



thể giảm từ mức 6,9% của 6 tháng đầu năm 2017 xuống chỉ còn 5% vào năm 2021. Trong

kịch bản tệ hơn, con số này sẽ giảm xuống 3% nếu khủng hoảng tài chính xảy ra15.

Biểu đồ 6. Tỷ lệ nợ/GDP và nợ doanh nghiệp/GDP tại Trung Quốc, 2008 - QI/2017



Nguồn: Reuters

Nguyên nhân chính gây ra khối nợ khổng lồ của Trung Quốc chính là do mơ hình

phát triển kinh tế của nước này. Sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, Trung Quốc

đưa ra biện pháp khôi phục và phát triển kinh tế dựa vào đầu tư trong nước. Do đặt mục

tiêu tăng trưởng lên hàng đầu, Chính phủ Trung Quốc đã nới lỏng các điều kiện vay vốn

cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các tập đoàn Nhà nước trong lĩnh vực cơng nghiệp nặng.

Việc sử dụng đòn bẩy tài chính tràn lan đã giúp các công ty Trung Quốc mở rộng và phát

triển rất nhanh. Hoạt động sản xuất cũng theo đó mà được thúc đẩy, mang lại tốc độ tăng

trưởng vượt bậc cho Trung Quốc. Tuy nhiên, khi tài sản của các công ty Trung Quốc được

tài trợ chủ yếu bằng vay nợ, rủi ro mất khả năng thanh toán cũng rất lớn. Tốc độ tăng

trưởng nợ trung bình của Trung Quốc trong vòng sáu năm qua đạt gần 13%, trong khi tăng

trưởng GDP trung bình chỉ đạt 7,67%16. Theo IMF, tỷ lệ nợ/GDP của Trung Quốc có thể

vượt qua mức 300% vào năm 2022, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tăng trưởng trong trung

hạn của nước này17.

Vấn đề nợ nần từ lâu đã là một chủ đề quen thuộc khi nói đến các rủi ro bên trong

nền kinh tế Trung Quốc. Tuy nhiên, cho đến năm 2017, khi nước này bị cả hai cơ quan xếp

hạng tín dụng Moody’s và Standard & Poor’s hạ mức xếp hạng (trong khi Fitch đã hạ xếp

hạng tín dụng Trung Quốc từ năm 2013)18 thì việc giải quyết khối nợ khổng lồ mới thực sự

được Chính phủ Trung Quốc chú trọng. Vì vậy, bước sang năm 2018, đặc biệt là trong bối

cảnh Ban Chấp hành Trung ương mới được thành lập sau Đại hội XIX của Đảng Cộng sản

Trung Quốc, rất có thể Chính phủ nước này sẽ đưa ra các động thái cứng rắn và nghiêm túc

hơn để giải quyết gánh nặng nợ hiện nay.



15



Kevin Hamlin (2017), Can Xi Jinping defuse China’s debt bomb?, https://www.bloomberg.com/news/articles/2017-0801/can-xi-jinping-defuse-china-s-debt-bomb.

16

Tính tốn từ số liệu tăng trưởng GDP Trung Quốc hằng năm của Ngân hàng Thế giới,

https://data.worldbank.org/indicator/NY.GDP.MKTP.KD.ZG?locations=CN

17

IMF (2017), China’s economic outlook in six charts, https://www.imf.org/en/News/Articles/2017/08/09/NA081517China-Economic-Outlook-in-Six-Charts

18

Reuters (2017), S&P downgrades China’s rating, citing increasing economic, financial risks,

https://www.reuters.com/article/us-china-economy-rating-downgrade/sp-downgrades-chinas-rating-citing-increasingeconomic-financial-risks-idUSKCN1BW19N



8



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

I. Tổng quan tình hình kinh tế Trung Quốc năm 2017

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×