Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Giáo viên sử dụng các phương pháp, hình thức dạy học tích cực để gây hứng thú học Tiếng Việt cho học sinh.

2 Giáo viên sử dụng các phương pháp, hình thức dạy học tích cực để gây hứng thú học Tiếng Việt cho học sinh.

Tải bản đầy đủ - 0trang

7



- Đoạn văn vừa rồi đọc với giọng như thế nào? Các em cần nhấn giọng ở

những từ ngữ nào? Lời nói nhân vật cần đọc với giọng ra sao?...

- Giọng đoạn đầu hống hách, sau đó bực tức, hằn học, đoạn sau dứt khoát, rõ

ràng, dõng dạc. Giọng tên chúa tàu hống hách, kiêu căng, giọng của bác sĩ điềm

đạm nhưng kiên nghị. Câu nói của bác sĩ cần đọc rõ ràng, quả quyết đầy sức thuyết

phục. Cần chú ý và nhấn giọng ở các động từ có trong đoạn văn: đứng phắt dậy, rút

soạt dao ra, chực đâm, dõng dạc, quả quyết, cất dao, bị treo cổ.... Đây là những từ

ngữ bộc lộ hai tính cách khác biệt, hồn tồn đối nghịch nhau và điều đó đã làm lên

sự chiến thắng của bác sĩ Ly và sự thất bại của tên chúa tàu.

Biện pháp 2: Bồi dưỡng vốn sống và trang bị kiến thức về văn học cho học sinh

Đọc hiểu tác phẩm văn học phụ thuộc rất nhiều vào vốn sống của học sinh

nên muốn bồi dưỡng năng lực trước tiên phải bồi dưỡng vốn sống cho các em. Khi

có vốn sống các em mới có khả năng liên tưởng để tiếp nhận tác phẩm.

Trước hết là vốn trực tiếp của các em thông qua cuộc sống hàng ngày. Giáo

viên cần tổ chức quá trình quan sát, tham quan thực tế để qua đó học sinh sẽ viết

những gì mà học sinh thấy.

- Khi học sinh tham quan, giáo viên đóng vai trò dẫn dắt, gợi mở, tạo nguồn

cảm hứng, khơi dậy suy nghĩ cho học sinh.

- Sau quan sát, làm quen với đối tượng các em cần ghi lại những gì mình

tham quan, quan sát được.

Bên cạnh việc tổ chức quan sát, tham quan chúng ta cần tổ chức các buổi

ngoại khoá về Tiếng Việt, văn học như: Nghe nói chuyện về các nhà thơ, nhà văn,

về các anh hùng liệt sĩ; tổ chức ngâm thơ, đọc thơ, thi đọc diễn cảm, thi kể chuyện,

sưu tầm văn học, thi đóng trò chơi trong phân mơn Tiếng Việt…Từ đó vốn sống

của trẻ cũng được bồi dưỡng một cách gián tiếp.

Đặc biệt khi đọc tác phẩm văn học các em không chỉ được thức tỉnh về mặt

nhận thức mà còn rung động tình cảm, nảy nở những ước mơ tốt đẹp, khơi dậy

năng lực hành động, sức mạnh sáng tạo cũng được nâng lên, bồi dưỡng tâm hồn

cho trẻ. Vì vậy, người giáo viên cần xây dựng cho học sinh hứng thú và thói quen

đọc sách. Đồng thời với việc bồi dưỡng vốn sống của học sinh một việc làm không

thể thiếu được là cần phải trang bị cho đội ngũ giáo viên một số kiến thức cơ bản

về văn học như khái niệm về hình ảnh, chi tiết, tác phẩm, các đặc trưng của ngôn

ngữ nghệ thuật, một số biện pháp tu từ ( nhân hoá, so sánh, điệp từ, điệp ngữ,…)

Biện pháp 3: Vận dụng linh hoạt các phương pháp, hình thức tổ chức dạy

học trong giờ Tập đọc nhằm phát huy tính tích cực của học sinh.

a.Vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học trong giờ Tập đọc:



8



Căn cứ vào các mục đích trên, tơi đã cải tiến để tìm ra phương pháp dạy học

đạt hiệu quả cao, giúp học sinh đọc hiểu nội dung bài một cách dễ hiểu nhất mà phù

hợp với khả năng học tập, nhận thức của lớp mình.

Ví dụ: Bài “ Người ăn xin” TV4, tập 1

Nếu không cho học sinh hiểu nghĩa từ “ lọm khọm” nghĩa là mơ tả dáng vẻ

già yếu, lưng còng chậm chạp thì học sinh khơng thấy hết được hình ảnh ơng lão ăn

xin đáng thương.

Chúng ta biết đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật là giàu hình ảnh, có sức

biểu cảm và đa nghĩa. Vì vậy giáo viên cần giúp học sinh phát hiện ra những từ ngữ

có tính nghệ thuật và đánh giá chúng trong việc biểu đạt nội dung.

Ví dụ: Bài “ Sầu riêng”- TV4, tập 2

Giáo viên cần giúp cho học sinh thấy giá trị của từ “ đam mê”, “ quyến rũ”

trong việc miêu tả hương vị của của trái sầu riêng và thể hiện thái độ, tính cảm của

tác giả trước hương vị đặc biệt của loại trái quý, trái hiếm của miền Nam.

b. Sử dụng có hiệu quả các đồ dùng trực quan

Trực quan là các yếu tố có khả năng tác động đến tất cả các giác quan của

học sinh trong giờ học. Trực quan trong một giờ học có rất nhiều. Chúng ta nói đến

trực quan khơng có nghĩa chỉ là tranh ảnh, vật mẫu mà trực quan bao gồm:

- Tài liệu học tập (văn bản, câu hỏi, hình thức trình bày bài trong sách giáo

khoa) đây là trực quan đầu tiên có tác dụng không nhỏ đối với học sinh.

- Tranh ảnh, vật mẫu có liên quan đến nội dung bài…

- Thiết kế bài giảng điện tử, sử dụng máy chiếu cũng là một trực quan giảng

dạy đạt hiệu quả cao nhưng cần sử dụng một cách hợp lí và nhất là giáo viên cần

khai thác chúng một cách hài hòa, phù hợp với tiến trình bài giảng. Tránh làm dụng

bài giảng điện tử để cho học sinh xem tranh, xem phim ảnh,…

Bản thân người thầy là một trực quan sinh động trong giờ học, nó được thể

hiện qua giọng đọc, cách thể hiện bài giảng (trực quan âm thanh), cách dẫn dắt vào

bài, cử chỉ điệu bộ, thái độ tình cảm khi giảng bài …cách vào bài, chuyển ý hấp

dẫn sẽ lôi kéo người học đến với các tác phẩm văn chương. Ta khơng nói đây là

trực quan song tác dụng mà nó đem lại lớn hơn rất nhiều trực quan hình ảnh mà ta

hay có.

Việc sử dụng đồ dùng trực quan hình ảnh (như tranh ảnh, vật mẫu...) cần

đúng lúc, đúng chỗ, để làm nổi bật những gì giáo viên cần tác động đến học sinh.

c. Vận dụng linh hoạt các hình thức dạy học để kích thích hứng thú học tập

trong giờ học



9



+ Tổ chức làm việc theo cặp, theo nhóm: nhằm tích cực hố hoạt động học

tập của học sinh, tạo cơ hội cho từng cá nhân được luyện tập. Giáo viên cần thực

hiện tốt các yêu cầu sau:

- Xác định sự cần thiết phải tổ chức cho học sinh làm việc theo cặp, nhóm;

tính tốn thời gian, số lần cho hợp lí.

- Xác định rõ mục đích, nhiệm vụ của từng nhóm, cặp. Thực hành luyện tập

trong cặp, nhóm, chia sẻ kinh nghiệm, bày tỏ ý kiến trong nhóm…

- Hình thành ý thức tự giác làm việc tinh thần kỉ luật của các cặp, nhóm…

- Giám sát, động viên giúp đỡ học sinh trong quá trình luyện tập của nhóm,

đơi.

Thực tế ở lớp tơi, tơi đã hình thành cho học sinh nhóm ngay từ khi vào đầu

năm học. Mỗi bàn là một nhóm nhỏ, mỗi tổ là một nhóm lớn, khi đưa ra bài tập

hoặc yêu cầu để học sinh thực hiện, các em đã có thói quen thực hiện theo nhóm

của mình.

+ Tổ chức trò chơi học tập:

- Nội dung trò chơi gắn liền với với bài học, phục vụ cho yêu cầu về kiến

thức, kĩ năng của bài.

- Hình thức tổ chức trò chơi: gọn nhẹ, cách tiến hành đơn giản để tất cả học

sinh đều có khả năng tham gia, luật chơi rõ ràng, chặt chẽ để đảm bảo tính cơng

bằng.

- Chuẩn bị đủ phương tiện, điều kiện trước khi tổ chức trò chơi.

- Tuỳ thuộc vào thời gian, nội dung bài học mà giáo viên tổ chức trò chơi sao

cho phù hợp. Có thể là thi đọc nối tiếp theo tổ (nhóm), thi đọc “truyền điện”, thi

đọc truyện, kịch theo vai, “ thả thơ”….

Ví dụ: Bài “ Nếu chúng mình có phép lạ” - TV4, tập 1

Tổ chức cho học sinh thi học thuộc lòng khổ thơ mình u thích bằng trò chơi “

Thả thơ – truyền điện”

- Lớp chia làm 4 đội chơi theo 4 đơn vị tổ hàng ngày. Mỗi đội chơi cử ra 2 3 bạn tham gia vào trò chơi.

- Cách chơi: Giáo viên cử 1 bạn làm người thả thơ và truyền điện. Bạn đó bắt

đầu đọc: “Nếu chúng mình có phép lạ” và đọc tên đội đọc tiếp đoạn thơ. Khi đội

khởi đầu đọc thuộc lòng khổ thơ mình thuộc có quyền chỉ định đội khác và khổ thơ

mà đội đó sẽ phải đọc. Nếu đội được chỉ định mà khơng đọc thuộc thì chuyển cho

đội khác đọc nhưng số điểm sẽ bị trừ đi một nửa. Cứ như vậy hết lượt 4 đội chơi.

Nếu có thời gian sẽ tổ chức 2 hoặc 3 vòng. Giáo viên có thể làm trọng tài cho trò

chơi và phải là người hoạt náo viên tích cực nhất.



10



- Kết thúc trò chơi, giáo viên tổng kết bình chọn đội thắng cuộc và tuyên

dương. Với những đội còn lại, giáo viên cũng động viên học sinh để khích lệ tinh

thần học tập cho cả lớp.

Biện pháp 4: Nâng cao chất lượng bài soạn và giờ dạy của giáo viên

* Chuẩn bị của giáo viên, học sinh:

Để đọc hiểu tốt một bài văn, bài thơ đòi hỏi phải có sự chuẩn bị kĩ của cả

thầy và trò thì giờ dạy mới có hiệu quả mà người học mới có hứng thú để đọc hiểu

tốt được tác phẩm văn học.

* Chuẩn bị của giáo viên:

- Đọc kĩ tác phẩm, tìm hiểu nội dung, ý nghĩa của tồn tác phẩm. Nếu là

đoạn trích cũng cần phải tìm hiểu nội dung của tồn tác phẩm, nắm rõ vị trí, nội

dung riêng của đoạn trích.

- Xác định khối lượng kiến thức cần cung cấp cho học sinh, cần giáo dục ,

bồi dưỡng học sinh về mặt giá trị nào trong tác phẩm đó.

- Chuẩn bị đầy đủ các đồ dùng trực quan, tư liệu có liên quan đến bài. Đọc kĩ

bài, tìm giọng đọc cho phù hợp với văn bản...

- Thiết kế bài dạy trên máy tính là một hình thức tổ chức dạy học gây hứng

thú cho người học và có hiệu quả cao. Học sinh rất thích thú học tập mà người dạy

có điều kiện đưa ra nhiều tư liệu, hình ảnh và các câu đoạn dài cần hướng dẫn học

sinh luyện đọc. Thiết kế nội dung trên máy sao cho gắn gọn, rõ ràng, nội dung khúc

triết và phục vụ đúng yêu cầu bài dạy.

- Chuẩn bị cách vào bài gây hứng thú cho người học. Có hệ thống câu hỏi

hợp lí cho phần đọc hiểu bài, dẫn dắt chuyển ý sao cho nhẹ nhàng, lôi cuốn. Bản

thân giáo viên phải đọc hiểu, thấy được cái hay, cái đẹp trong mỗi tác phẩm và phải

xây dựng cho mình một tâm lí hứng thú với bài giảng.

* Chuẩn bị của học sinh:

- Đọc trước bài và tập trả lời câu hỏi cuối bài theo hướng dẫn của giáo viên.

- Tìm hiểu các sự kiện xung quanh tác giả, tác phẩm hoặc tìm đọc tác phẩm.

* Ví dụ: Khi học bài: “Dế Mèn bênh vực kẻ yếu” - TV4/1- Tôi hướng dẫn

học sinh đọc trước bài ở nhà và tập trả lời các câu hỏi cuối bài. Tìm đọc tác phẩm

“Dế Mèn phiêu lưu kí” của nhà văn Tơ Hồi.

Biện pháp 5: Tổ chức các hoạt động ngồi giờ lên lớp, ngoại khố nhằm hỗ

trợ việc học phân môn Tập đọc

a. Tổ chức cho học sinh đọc truyện, xem tư liệu,…

Qua sách vở vốn sống của trẻ cũng được nâng lên vì các kinh nghiệm của đời

sống, những thành tựu khoa học, văn học, kinh tế cũng như tâm tư tình cảm của các



11



thế hệ đi trước hay hiện thực phần lớn đều được phản ánh trên các trang sách. Đọc

nhiều sẽ tăng khả năng tiếp nhận lên nhiều, từ đây các em tìm hiểu và đánh giá

được cuộc sống, thực hiện mối quan hệ tự nhiên và xã hội. Đối với học sinh, đa số

ham đọc sách và nhất là truyện. Chính vì vậy, tạo điều kiện cho các em đọc truyện

vừa thoả mãn được nhu cầu đọc của các em, vừa giúp các em có thêm kiến thức,

hiểu biết phục vụ cho các bài học .

Ngay từ đầu năm học, tôi đã xây dựng tủ sách của lớp, tổ chức cho các em

đọc vào giờ ra chơi (2 buổi/tuần).

Trong các giờ đọc truyện ở thư viện, giáo viên đến cùng học sinh, hướng các

em tìm các tác phẩm văn học nổi tiếng để đọc. Tôi thường giới thiệu qua nội dung

câu chuyện để gây hứng thú cho học sinh đọc.

Giáo viên thường xuyên tư vấn với cán bộ thư viện về các đầu sách có liên

quan để cán bộ Thư viện có thể tham mưu với BGH nhà trường đặt mua các đầu

truyện, các đầu báo hay cho học sinh đến thư viện đọc hoặc mượn.

b. Tham gia các hoạt động ngoại khóa: tham quan, du lịch

Các hoạt động ngoại khóa như: nghe nói chuyện về các nhà thơ, nhà văn, về

các anh hùng liệt sĩ; tổ chức ngâm thơ, đọc thơ, thi đọc diễn cảm, thi kể chuyện,

sưu tầm văn học, thi đóng vai trong phân mơn Tiếng Việt… Từ đó vốn sống của trẻ

cũng được bồi dưỡng một cách gián tiếp.

Đây là một trong những biện pháp không sử dụng trực tiếp trong các giờ học

nhưng chúng mang lại một hiệu quả rất lớn góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học

phân môn Tập đọc cho học sinh.

4. Đo lường:

Bài kiểm tra trước tác động là bài kiểm tra Giữa học kì 1 môn Tiếng Việt , do

trường Tiểu học Vạn Hưng 1 ra đề.

Bài kiểm tra sau tác động là bài kiểm tra tương tự bài thi cuối học kì 1.

* Tiến hành kiểm tra và chấm bài:

Sau khi thực hiện dạy xong các bài học trên, chúng tôi tiến hành kiểm tra 1

tiết (nội dung kiểm tra trình bày ở phần phụ lục).

Sau đó 2 cơ giáo tiến hành chấm bài theo đáp án đã xây dựng.

IV. Phân tích dữ liệu và bàn luận kết quả

Bảng 5: So sánh điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động

Lớp đối chứng



Lớp thực nghiệm



Điểm trung bình



7,5



8,96



Độ lệch chuẩn



1,303



1,248



12



Giá trị p của T-test



0,0001



Chênh lệch giá trị TB chuẩn (SMD)



1,12



Qua hình ảnh trên đã chứng minh rằng kết quả 2 lớp trước tác động là tương

đương. Sau khi kiểm chứng chênh lệch điểm trung bình bằng T- Test cho kết quả p

= 0,0001, cho thấy sự chênh lệch giữa điểm trung bình lớp thực nghiệm và lớp đối

chứng rất có ý nghĩa, tức là chênh lệch kết quả điểm trung bình lớp thực nghiệm

cao hơn điểm trung bình lớp đối chứng là khơng ngẫu nhiên mà do kết quả của tác

động. Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD = (8,96 – 7,5): 1,303=1,12

Theo bảng tiêu chí Cohen, chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD = 1,12

cho thấy mức độ ảnh hưởng của việc áp dụng phương pháp tích cực vào dạy học

mơn tập đọc có ảnh hưởng là rất lớn.

Giả thuyết của đề tài: Nâng cao chất lượng phân môn tập đọc thông qua biện

pháp rèn kỹ năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4B, trường tiểu học Vạn Hưng 1

đã được kiểm chứng



10

8.96



9

8

7



7.5

6.69



6.46



6

5

4

3

2

1

0



KT trước tác động



Nhóm thực nghiệm



KT sau tác động



Nhóm đối chứng



Biểu đồ so sánh điểm trung bình trước tác động và sau tác động của

nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng



13



- Kết quả kiểm tra kiến thức sau tác động của lớp thực nghiệm là điểm trung

bình = 8,96 ; kết quả kiểm tra kiến thức tương ứng của lớp đối chứng là điểm trung

bình = 7,5 . Độ chênh lệch điểm số giữa hai lớp là 1,46; Điều đó cho thấy điểm

trung bình của hai lớp đối chứng và thực nghiệm đã có sự khác biệt rõ rệt, lớp được

tác động có điểm trung bình cao hơn lớp đối chứng.

- Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn của hai bài kiểm tra là SMD = 1,12 .

Điều này có nghĩa mức độ ảnh hưởng của tác động là rất lớn. Phép kiểm chứng TTest điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động của hai lớp là p= 0,0001 < 0.05. Kết

quả này khẳng định sự chênh lệch điểm trung bình của hai lớp khơng phải là ngẫu

nhiên mà là do tác động, nghiêng về lớp thực nghiệm.

-Từ việc áp dụng kĩ thuật “ Khăn trải bàn” vào giảng dạy đã nâng cao chất

lượng học môn luyện từ và câu ở lớp 4B và học sinh khối 4 của Trường tiểu học

Vạn Hưng 1 nói chung, đồng thời nhờ có sự tìm tòi kiến thức đã giúp các em có

được vốn từ phong phú. Các em tự tin hơn trong sử dụng vốn từ, vận dụng tốt trong

việc viết đoạn văn.

V. Kết luận và khuyến nghị

1. Kết luận

Đề tài là cơ sở để giáo viên nghiên cứu và thực hiện trong giảng dạy môn

Tiếng Việt. Giúp giáo viên từng lúc san bằng trình độ học sinh trong lớp học;

Giúp học sinh tự tin hơn trong học tập để các em hoàn thành nhiệm vụ học

tập và tiếp tục học tập ở các lớp cao hơn;

Trong quá trình giảng dạy, người giáo viên tổ chức và hướng dẫn hoạt động

cụ thể của học sinh. Thông qua ngôn ngữ đọc, và hành động làm mẫu của giáo

viên. Vì vậy người giáo viên cần sử dụng bài đọc và các câu hỏi trong SGK để rèn

luyện kỹ năng đọc, viết và luyện phát âm chuẩn, diễn đạt ý gãy gọn, cho các em.

Đặc biệt là tìm tòi các bài tập có liên quan tới chủ đề và phù hợp với đối tượng học

sinh, nhắc lại nhiều lần vấn đề khó, đưa ra ví dụ và giải thích. Ra bài tập ở lớp và ở

nhà, giành đủ thời gian rèn luyện kỹ năng đọc, viết. Hướng dẫn cách sử dụng tài

liệu và đồ dùng học tập để học sinh hứng thú tự giác học tập và tham gia các hoạt

động khác;

Muốn nâng cao chất lượng hiệu quả của các giờ dạy Tập đọc để học sinh đọc

đúng đọc hay. Bước đầu cảm thụ được cái hay, cái đẹp trong bài văn, bài thơ thì

khâu luyện đọc - rèn đọc đúng có vai trò rất quan trọng. Học sinh có đọc đúng mới

hiểu đúng nội dung, mới diễn tả được cảm xúc của mình. Để làm tốt việc rèn đọc

cho học sinh lớp 4 trong phân môn Tập đọc người giáo viên phải làm tốt những

việc sau:

Mỗi giáo viên phải mẫu mực trong lời nói, việc làm, say sưa yêu nghề, mến

trẻ, ln bám trường, bám lớp;



14



Phải ln nghiên cứu tìm hiểu về nội dung kiến thức, phương pháp bộ môn,

nắm chắc hệ thống chương trình. Người giáo viên phải thường xuyên tự bồi dưỡng

nâng cao trình độ, ln cập nhật những thông tin, những đổi mới về phương pháp

giảng dạy;

Giáo viên phải nhận thức đúng vai trò chức năng ở phân mơn Tập đọc. Trước

hết giáo viên phải rèn cho mình đọc đúng, đọc hay, đọc diễn cảm mọi bài Tập đọc

trong cấp học nói chung, các bài tập đọc lớp 4 nói riêng. Phải đầu tư thời gian cho

khâu chuẩn bị bài, xây dựng tổ chức các hoạt động cho học sinh trên lớp học ;

Giáo viên phải kiên trì, thường xuyên rèn cho học sinh theo các bước:

+ Luyện cho học sinh phát âm đúng các phụ âm khó đọc hay lẫn lộn;

+ Luyện đọc đúng các cụm từ, ngắt nghỉ đúng câu;

+ Ngắt nghỉ đúng ở các câu văn, khổ thơ;

+ Luyện đọc mức độ từ thấp đến cao;

+ Luyện cho học sinh biết lên giọng, hạ giọng, nhấn giọng ở câu văn, thể

hiện tính cách nhân vật hoặc giọng vui, buồn trong các văn bản với giọng đọc, ngữ

điệu, tốc độ đọc, âm sắc, nhằm diễn tả đúng nội dung bài;

+ Đối với những học sinh đọc sai, rèn dứt điểm ở tiết đọc và tiết luyện đọc ở

buổi chiều;

+ Nhiều học sinh được tham gia luyện đọc;

+ Ln động viên khích lệ gây hứng thú học tập, đọc đối với học sinh yếu

kém, phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh;

+ Vận dụng phương pháp giảng dạy phù hợp với đối tượng học sinh lớp

mình. Cử chỉ giáo viên, lời nói ngắn gọn dễ hiểu hướng học sinh thao tác tư duy

chủ động;

+ Học sinh phải chuẩn bị bài thật tốt ở nhà, đọc nhiều lần đối với học sinh

yếu kém trước khi đến lớp;

+ Phối hợp nhịp nhàng về chương trình môn Tập đọc với các phân môn học

khác như: Tập làm văn, kể chuyện...;

+Thường xuyên thăm lớp, dự giờ đồng nghiệp để học tập, trao đổi rút kinh

nghiệm;

Cần chú ý những học sinh cá biệt vì các em chậm chạp hơn so với các bạn

trong lớp, giáo viên nên hướng dẫn cho em nhiều hơn hoặc chỉ định bạn học giỏi

giúp đỡ em nhiều hơn để em thực hiện được như các bạn. Hướng dẫn các em thực

hành thường xuyên nhất là đối với học sinh yếu.

2. Khuyến nghị



15



Với học sinh:

- Một số học sinh còn đọc ngọng đọc vẫn chưa được hay lắm, bản thân cần

phải học hỏi, rèn luyện nhiều hơn.

Với giáo viên:

- Nâng cao tinh thần trách nhiệm, lương tâm nghề nghiệp;

- Tăng cường dự giờ đồng nghiệp, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ;

- Luôn nghiên cứu tìm hiểu về nội dung, kiến thức, phương pháp bộ mơn,

nắm chắc hệ thống chương trình;

- Ln ln khuyến khích, động viên gây hứng thú học tập đối với học sinh

yếu kém, phát huy tính tích cực chủ động , sáng tạo cuả học sinh;

- Vận dụng phương pháp giảng dạy phù hợp với đối tượng học sinh lớp

mình. Cử chỉ giáo viên, lời nói ngắn gọn dễ hiểu hướng học sinh thao tác tư duy

chủ động.

Với nhà trường

- Tạo mọi điều kiện tốt nhất để giáo viên có thể sử dụng tốt các đồ dùng sẵn

có;

- Hằng năm tổ chức phong trào thi kể chuyện, ngâm thơ, đọc diễn cảm cho

giáo viên, học sinh trong toàn trường;

- Chỉ đạo thực hiện các nội dung sinh hoạt chuyên môn, thường xuyên mở

các chuyên đề môn Tập đọc để nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên.

Chắc hẳn rằng đây chưa phải là đề tài hay nhất nhưng tôi hy vọng nó sẽ giúp

cho giáo viên một số kinh nghiệm, để giáo viên và học sinh nâng cao hơn chất

lượng dạy và đọc ở phân môn Tập đọc;

Tuy nhiên trong q trình thực hiện đề tài rất khó tránh khỏi thiếu sót. Tơi rất

mong sự đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp, đồng chí, để đề tài của tơi được

hoàn thiện.

HIỆU TRƯỞNG



Vạn Hưng, ngày 10 tháng 3 năm 2018

Người viết



Phùng Thị Thu Nguyệt



16



TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lê Phương Nga., & Đặng Kim Nga. (2007). Giáo trình phương pháp dạy

học Tiếng Việt (Giáo trình đào tạo GV hệ cao đẳng tiểu học). Hà Nội. Nhà xuất bản

Giáo dục

2. Nguyễn Minh Thuyết., Trần Mạnh Hưởng., Lê Phương Nga., & Trần

Hoàng Túy. (2010). Sách giáo viên Tiếng Việt 2, tập 1, tập 2. Hồ Chí Minh. Nhà

xuất bản Giáo dục.

3. Nguyễn Minh Thuyết., Trần Mạnh Hưởng., Lê Phương Nga., & Trần

Hoàng Túy. (2010). Sách giáo khoa Tiếng Việt 2, tập 1, tập 2. Hồ Chí Minh. Nhà

xuất bản Giáo dục.

4. Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học – PGS.TS Nguyễn Quang

Ninh.

5. Tiếng Việt thực hành - PGS.TS Nguyễn Quang Ninh.

6. Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng.



17



PHỤ LỤC

I. Kế hoạch bài học (Dạy lớp thực nghiệm)

Thứ hai ngày 13 tháng 11 năm 2017

TẬP ĐỌC (Tiết 21): ÔNG TRẠNG THẢ DIỀU

I. MỤC TIÊU

- Biết đọc bài văn với giọng kể chậm rãi; bước đầu biết đọc diễn cảm đoạn văn.

- Hiểu ND: Ca ngợi chú bé Nguyễn Hiền thông minh, có ý chí vượt khó nên đã đỗ

Trạng Ngun khi mới 13 tuổi ( trả lời được các câu hỏi trong SGK ).

II. ĐỒ DÙNG DẠY - HỌC

 Tranh minh hoạ bài tập đọc.

 Bảng phụ ghi sẵn nội dung cần hướng dẫn luyện đọc.

III. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC

1. Ổn định tổ chức(1’ )

2. Kiểm tra bài cũ

 Không kiểm tra bài cũ

3. Bài mới: (30’)

HOẠT ĐỘNG

HOẠT ĐỘNG

CỦA GIÁO VIÊN

CỦA HỌC SINH

- GV giới thiệu chủ điểm - HS lắng nghe

(3’)

- HS mơ tả

-Hãy mơ tả những gì em

nhìn thấy trong tranh minh

hoạ.



- Lắng nghe

- HS trả lời



- Giới thiệu bài (2’ )

-Treo tranh minh hoạ và

hỏi: Bức tranh vẽ cảnh gì?

-Câu chuyện ơng trạng thả

diều học hơm nay sẽ nói về

ý chí của một cậu bé đã



- Lắng nghe



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Giáo viên sử dụng các phương pháp, hình thức dạy học tích cực để gây hứng thú học Tiếng Việt cho học sinh.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×