Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN II: TỔNG QUAN HUYỆN ĐĂK MIL.

PHẦN II: TỔNG QUAN HUYỆN ĐĂK MIL.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Đăk Mil có 10 đơn vị hành chính cấp xã bao gồm 9 xã: Đắk Gằn, Đắk

Lao, Đắk N'Drót, Đắk R'La, Đắk Sắk, Đức Mạnh, Đức Minh, Long Sơn,Thuận

An và thị trấn Đắk Mil.

Diện tích tự nhiên là: 68,299ha, chủ yếu là đất đỏ badan, thích hợp với

cây cà phê, hồ tiêu và nhiều loại cây nông, công nghiệp khác; trong đó đất lâm

nghiệp 25.174 ha, đất nơng nghiệp 36.872 ha, đất chưa sử dụng 2.472 ha.

Dân số trung bình huyện Đăk Mil là 87.000 người, mật độ dân số trung

bình 125 người/km²; so với tỉnh Đăk Nơng, huyện Đăk Mil là một trong những

huyện có mật độ dân số khá cao.

Thành phần dân tộc của huyện Đăk Mil khá đa dạng: có tới 19 dân tộc

anh em, người kinh có 14.314 hộ/64.474 nhân khẩu chiếm 80,08 dân số tồn

huyện, dân tộc thiểu số tại có 1.346 hộ/7.135 khẩu chiếm 8,6% chủ yếu là dân

tộc M’Nơng, còn lại là dân tộc Ê đê (4 hộ/31 khẩu) và Mạ (1hộ/khẩu) dân tộc

thiểu số khác 2.037 hộ/9.400 khẩu là đồng bào dân tộc thiểu số có nguồn gốc từ

các tỉnh miền núi phía bắc như: Tày, Nùng, Dao, H’ Mơng…

Tơn giáo: Tính đến cuối năm 2008, trên địa bàn huyện hiện nay có 3 tơn

giáo chính: Cơng giáo, Phật giáo và Tin lành. Tổng số tín đồ: 48.297 khẩu,

chiếm 57% dân số tồn huyện. Trong đó: Cơng giáo: 38.045 khẩu, Phật giáo:

3.111 khẩu, Tin lành: 7.141 khẩu.

2.2. Kinh tế:

Trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay, kinh tế của huyện phát triển với

nhịp độ tăng trưởng khá. Hệ thống cơ sở hạ tầng như điện, đường, trường, trạm

y tế được quan tâm đầu tư. Đời sống vật chất và tinh thần của đại bộ phận quần

chúng nhân dân được cải thiện đáng kể. Tình hình an ninh chính trị về cơ bản ổn

định, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.

Đăk Mil là huyện có vị trí quan trọng về kinh tế, văn hóa, chính trị, quốc

phòng an ninh của tỉnh Đăk Nông, nhân dân trong huyện giàu truyền thống yêu

5



nước, có tinh thần đồn kết. Nhân dân các dân tộc trên địa bàn huyện quyết tâm

phấn đấu xây dựng huyện ngày càng giàu về kinh tế, tiến bộ về xã hội, mạnh về

chính trị, vững về an ninh - quốc phòng, góp phần xây dựng thành cơng và bảo

vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa.

2.3. Về giao thơng

Đăk Mil là huyện biên giới, có đường biên giới dài 46 km tiếp giáp với

huyện Peachreda, tỉnh Muldunkiri - Vương quốc Cam Pu Chia, có cửa khẩu Đăk

Per thông thương với Campuchia; nằm trên Quốc lộ 14 chạy dọc các tỉnh vùng

Tây Nguyên, cách thành phố Buôn Ma Thuột (tỉnh Đăk Lăk) 60 km, về phía Tây

Nam cách thành phố Hồ Chí Minh 296 km. Ngồi ra Đăk Mil còn có quốc lộ

14C là tuyến giao thơng quan trọng trong khu vực Tây Nguyên và hai tuyến

đường tỉnh lộ ĐT 683, ĐT 682; thông qua các tuyến đường này, Đăk Mil có thể

kết nối với các huyện Cư Jut, Đăk Song, Tuy Đức, Krông Nô trong tỉnh Đăk

Nông. Hệ thống giao thông huyện Đăk Mil bao gồm: 02 tuyến Quốc lộ 14 và

14C, 2 tuyến đường tỉnh ĐT 682 và ĐT 683, 8 tuyến đường huyện; 33 tuyến

đường xã; 35 tuyến đường nội thị và 101 tuyến đường thôn, bon. Mật độ đường:

0,82 km/km2 và 6,92 km/103 dân (nếu khơng tính đường thơn, bon): 0,52

km/km2 và 4,4 km/103 dân).

2.4. Về lịch sử - Văn hóa

Đăk Mil là huyện được hình thành khá sớm của tỉnh Đăk Lăk từ năm

1936, với diện tích hơn 200.000ha, bao gồm một phần của các huyện Cư Jút,

huyện Krông Nô và huyện Đăk Song hiện nay. Trong cuộc kháng chiến chống

Pháp, Mỹ nhân dân các dân tộc anh em trên địa bàn huyện đã kiên cường cùng

với các tổ chức mặt trận trên cả nước, góp phần vào cơng cuộc giải phóng hồn

tồn đất nước. Tại đây bọn thực dân đã xây dựng nhà ngục nhằm đày ải và tra

tấn các chiến sĩ cách mạng, Nhà ngục Đăk Mil đã từng là nơi giam giữ và cũng

là nơi đấu tranh của những chiến sỹ cách mạng như: Nguyễn Chí Thanh, Trần

6



Hữu Dực, Nguyễn Tạo, Lê Nam Thắng, Trần Văn Quế, Trần Sâm, Trần Văn

Quang… Tháng 5 năm 1965, Mỹ - Ngụy thiết lập trại lực lượng đặc biệt tại

quận Đức Lập (Camp Duc Lap) cách trung tâm quận Đức Lập (tỉnh Quảng Đức

cũ) khoảng 10km về hướng đông, nhằm tăng cường lực lượng và gia tăng các

hoạt động quân sự hòng khống chế một bộ phận quan trọng địa bàn Nam Tây

Nguyên, Đông Nam Bộ và vùng biên giới Campuchia; ngăn chặn chi viện của

miền Bắc vào chiến trường miền Nam qua đường hành lang Bắc – Nam trên địa

bàn tỉnh Quảng Đức.

Để đối phó với âm mưu, thủ đoạn của địch, năm 1968 Bộ chính trị, Bộ Tư

lệnh chiến trường Tây Nguyên xác định cần phải tiêu diệt địch tại chi khu quận

lỵ Đức Lập, mà nồng cốt là cứ điểm quân sự Đăk Săk - một trong số sào huyện

trọng yếu của địch trên mặt trận Tây Nguyên, làm bàn đạp tấn công địch ở miền

Nam. Lúc này, cứ điểm quân sự Đăk Săk là cửa ngõ phái tây nam của Nam Tây

Nguyên, nằm trên trục lộ 14 đi Buôn Ma Thuột, gia Lai, Kon Tum… Xoá sổ căn

cứ Đăk Săk - Đức Lập thì địa bàn Tây Nguyên gần như bị cô lập và thuận lợi

cho chiến trường cách mạng miền Nam.

Thực hiện chủ trương đó, từ năm 1968 đến 1975, ta đã chủ động tấn công

tiêu hao sinh lực địch trên địa bàn Đức Lập - Đăk Săk góp phần làm thất bại các

chiến lược chiến tranh của Mỹ, tạo điều kiện thuận lợi cho tuyến hành lang

huyết mạch của ta trên địa bàn tỉnh Quảng Đức giao thông xuyên suốt. Trong đó,

đáng ghi nhận là trận đánh ngày 9/3/1975 đã số sổ hồn tồn cứ điểm Đăk Săk,

làm tiền đề tiến về giải phóng Bn Ma Thuột (ngày 10/3/1975) mở màn chiến

dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Ngày nay, dấu tích lịch sử Đồi 722 – Đăk Săk là một trong những mốc

son của trang sử đấu tranh giải phóng dân tộc ở tỉnh Đăk Nơng, là nơi để giáo

dục truyền thống yêu nước, ý thức chính trị cho thế hệ trẻ, tri ân công lao và

những hy sinh to lớn của các bậc cha, anh trong sư nghiệp giải phóng dân tộc.

Ngục Đăk Mil cùng với khu di tích lịch sử Đồi 722 - Đăk Săk được cơng

nhận là di tích lịch sử cấp Quốc gia và, Hồ tây Đăk Mil đã tạo nên một điểm

đến du lịch lý tưởng cho du khách vùng tây nguyên nói riêng và du khách cả

7



nước, nước ngồi nói chung. Đến với Đăk Mil ngồi việc được thưởng ngoạn

các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh du khách còn được chứng kiến những

sinh hoạt mang tính văn hóa hết sức đặc sắc: Những lễ hội văn hoá dân gian

như Lễ hội Đâm trâu (ăn trâu), Lễ mừng nhà mới, Lễ mừng mùa, Lễ bỏ mả;

những điệu múa cổ truyền, nhạc cụ dân tộc (cồng chiêng) và kiến trúc cổ truyền

nhà sàn, nhà dài sống chung nhiều thế hệ và bên cạnh đó, du khách còn được

thưởng thức những món ẩm thực mang đặc trưng của vùng Tây nguyên như:

Cơm lam, rượu cần... Đặc biệt, Đăk Mil là một trong những nơi phát hiện ra

đầu tiên hình thức văn hố dân gian “sử thi” và đã được các nhà nghiên cứu

trong và ngoài nước xem như là một thể loại văn học truyền miệng có q trình

văn hố - lịch sử lâu đời đặc trưng của vùng Tây Nguyên, là viên ngọc quý

trong kho tàng văn học và truyện cổ dân gian của Việt Nam được Nhà nước

công nhận. Với những câu chuyện mang đậm nét thần thoại về các hiện tượng

tự nhiên, về đấu tranh chế ngự thiên nhiên, ca ngợi những đức tính tốt đẹp, u

tự do, lòng dũng cảm phản kháng áp bức, bóc lột…

Ngồi ra đồng bào Tày - Nùng - Dao, đã di cư vào sinh sống tại vùng đất

“Long Sơn” đã duy trì Lễ hội Lồng tồng (Lễ hội xuống đồng) được truyền từ

đời này sang đời khác của đồng bào ở các tỉnh miền núi phía Cao Bằng, Lạng

Sơn và một số tỉnh Tây Bắc. Lễ hội Lồng tồng cũng như lễ xuống đồng của

người Kinh đều mang đậm dấu vết tín ngưỡng phồn thực và thành phần lễ hội

sinh động: Chủ lễ vạch một đường cày đầu năm, bắt đầu cho cuộc sống nông

tang, cày bừa, cấy, hái. Chọn ngày lành để thực hiện nhằm cầu mưa thuận, gió

hồ, dân khang, vật thịnh. Sau nghi thức dâng hương kính cáo các vị thần, dân

làng cử ra một người mắc ách vào con trâu mộng vạch một luống cày đầu năm

mở đầu cho cuộc sống nhà nông. Bên cạnh phần lễ, phần hội của lễ hội Xuống

đồng đã thực sự tạo nên sự rộn ràng, náo nức, đơng vui. Đó là các làn điệu dân

ca, dân vũ, trò chơi, trò diễn, thể hiện được đậm chất dân gian truyền thống

nhưng vẫn toát lên sự khỏe khoắn, hiện đại.

Đã thành tập tục, sau những ngày vui xuân chấm dứt, một mùa đồng áng

lại bắt đầu, các bản người Tày - Nùng - Dao của xã Long Sơn lại nhộn nhịp

8



chuẩn bị lễ hội Lồng tồng. Từ vài ngày trước hội, các cụ cao niên trong xã đã tổ

chức họp bàn, phân công công việc chuẩn bị cho lễ hội…

2.5. Khí hậu và thủy văn

Địa hình Đăk Mil có độ cao trung bình 500m so với mặt nước biển, vùng

phía bắc huyện từ 400–600 m và phia nam huyện từ 700–900 m, phần lớn địa

hình có dạng đồi lượn sóng nối liền nhau bị chia cắt bởi nhiều sông suối nhỏ và

các hợp thuỷ, xen kẻ là các thung lũng nhỏ, bằng, thấp. Có hai dạng chính hình

dốc lượn sóng nhẹ: Có độ dốc từ 0-150, phân bố chủ yếu ở phía Đơng và khu

vực trung tâm của huyện, chiếm khoảng 74,6% diện tích tự nhiên và địa hình

dốc chia cắt mạnh: Có độ dố > 150, phân bố ở phía Tây Bắc và phía Tây Nam

của huyện chiếm khồng 25,4% diện tích tự nhiên.

Đăk Mil là khu vực chuyển tiếp giữa hai tiểu vùng khí hậu Đăk Lăk và

Đăk Nơng, chế độ khí hậu mang đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa

cận xích đạo, mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 4 đến hết tháng 11,

tập trung trên 90% lượng mưa cả năm; mùa khô từ tháng 12 đến hết tháng 3 năm

sau, lượng mưa không đáng kể. Nhiệt độ bình qn 22,30C, ẩm độ khơng khí

bình qn năm là 85%, tổng tích ơn 7.2000C, lượng mưa bình qn 2.513mm.

Điều kiện khí hậu nói trên thichs hợp với nhiều loại cây trồng vật ni vùng

nhiệt đới có giá trị cao.

Chế độ nhiệt: Nhiệt độ cao nhất trong năm: 340C. Nhiệt độ thấp nhất trong

năm: 19,30C. Nhiệt độ trung bình hàng năm: 22,30C.

Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.700-1.800mm. Lượng

mưa cao nhất (tháng 9): 297,2mm. Lượng mưa thấp nhất (tháng 1): 1,00mm. Số

ngày mưa trung bình hàng năm: 170 ngày.

Chế độ ẩm: Độ ẩm bình quân hàng năm: 85%. Độ bốc hơi: Mùa mưa chỉ

số độ ẩm k=1,0-1,5, mùa khơ k=0,5.

9



Chế độ gió: Hướng gió thịnh theo hai hướng gió chính: Gió Tây – Nam

xuất hiện vào các tháng mùa mưa, tốc độ trung bình 1,97 m/s. Gió Đơng - Bắc

xuất hiện vào các tháng mùa khơ, tốc độ trung bình 2,24 m/s.

Thuỷ Văn: hệ thống nước mặt khá phong phú, mật động sơng suối bình

qn 0,35-0,40lm/ km² và là nơi bắt nguồn của hai hệ thống sơng suối chính là

hệ thống dầu nguồn sơng Sêrêpơkvà hệ thống đầu nguồn sông Đồng Nai, tuy

nhiên nguồn nước mặt phân bổ khơng đều: Khu vực phía Nam và Tây Nam của

huyện có nguồn nước khá phong phú với hệ thống sông suối, hồ đập khá dày đặc

như Hồ Tây, Đăk Săk, hồ Đăk Per…và hệ thống đầu nguồn sông Sêrêpôk; Bao

gồm các suối Đăk Ken, suối Đăk Sor và suối Đăk Mâm chiếm 75% lưu vực trên

lãnh thổ huyện. Khu vực phía Bắc và Đồng Bắc nguồn nước khá khan hiếm, khu

vực này mật độ sông suối thấp, hệ thống hồ đập ít vì vậy thường thiếu nước mùa

khơ làm ảnh hưởng đến cây trồng. Nguồn nước ngầm: Nước ngầm trên địa bàn

huyện Đăk Mil tương đối phong phú, nhưng chủ yếu vận động tàng trữ trong tạo

thành phun trào basalt, được coi là đơn vị chứa nước có triển vọng hơn cả. Tuy

nhiên do mức độ đất đồng nhất theo diện tích và chiều sâu khá lơn nên cần lưu ý

khi giải quyết những vấn đề cụ thể. Đặc biệt ở khu vực này có hiện tượng mất

nước (nước tầng trên chảy xuống tầng dưới) nên khi khai thác cần phải nghiên

cứu cụ thể để đề xuất các chỉ tiêu hợp lý nhằm khống chế đến mức thấp nhất

việc làm ô nhiễm môi trường nước ngầm.

Cũng theo kết quả phân tích, đánh giá thì chất lượng nguồn nước ngầm

hầu hết đảm bảo cho ăn uống sinh hoạt (nước có tổng độ khống nhỏ, thuộc loại

siêu nhạt; m<0,2g/l, nồng độ các vi nguyên tố nhỏ và đều năm trong giới hạn

cho phép). Đây là yếu tố thuận lợi trong việc cung cấp nước sạch nông thôn và

cũng cần chú ý đến cơng tác tun truyền để người dân có ý thức trong việc bảo

vệ nguồn nước.



10



2.6. Tài nguyên thiên nhiên

Kết quả điều tra của Phân viện điều tra quy hoạch và thiết kế - Bộ Nông

nghiệp cho thấy: Đăk Mil là huyện có diện tích đất khá phong phú và màu mỡ

(phần lớn là đất Basalt) thuận tiện cho việc phát triển các loại cây cơng nghiệp

nhiệt đới có giá trị cao.

Huyện Đăk Mil nằm trong vùng hội tụ của hai luồng thực vật với hai loại

hình rừng:

• Rùng nửa rụng lá: Điển hình là Bằng lăng (Lagerstromea.Sp), Căm xe

(Xylia Dlarfriformis), Dầu (Dipterocarpu.Sp), Gáo vàng…phân bố ở các

vùng ẩm, tầng đất sâu. Loại rừng này có khả năng tái sinh kém, hầu hết

phục hồi sau khi bị phá làm rẫy là loại cây tái sinh ưu sáng mọc nhanh.

• Rừng khộp: Gồm các loại cây họ dầu chiếm ưu thế (Dipterocarpaceae)

như các chi: Dipterocarpus; Shorea; pentamea; Xylia, Hopea;

Terminalia…loại rừng này có đặc điểm là cây tái sinh mạnh chịu được

điều kiện khắc nghiệt như khơ hạn, lửa rừng…và có thể tồn tại trên vùng

lập địa xấu.

Tài nguyên khoáng sản của Đăk Mil qua các tài liệu điều tra nghiên cứu,

có hai loại khống sản chính:

• Đá xây dựng: Mở đá bazan đã được thăm dò và khai thác tại xã Đăk R’la

là mở Đơ Ry, chất lượng đá có hàm lượng SO 3 nhỏ, các thành phần khác

đều đạt TCVN, tính chất cơ lý tốt có thể sử dụng làm đá xây dựng với các

sản phẩm đá chẻ; đá hộc; đá rải đường; bê tông nhựa; bê tông xi măng.

Trữ lượng mở Đô ru là 4,5 triệu m3, sản lượng khai thác bình qn

40.000m3 - 50.000m3 /năm. Ngồi ra, hiện còn 4 mở quy mơ nhỏ đang

được khai thác tại các xã Đăk Lao (02 mỏ), Đăk N’Drot (01 mỏ) và Đức

Mạnh (01 mỏ).



11



• Mỏ Bauxit từ Thuận An kéo đến Đăk R’la: Hiện đã được khoanh vùng và

đang tiến hành thăm dò tìm kiếm và đánh giá sơ bộ về trữ lượng và chất

lượng quặng.

• Ngồi ra, qua thăm dò đã phát hiện trên địa bàn xã Đăk Găn có mở đá quý

(Opan – Caxeđoan) với địa tầng chứa quặng tồn tại trong tầng Bazan,

đang tiến hành thăm dò tìm kiếm và đánh giá sơ bộ về trữ lượng và chất

lượng quặng.



12



PHẦN III: NỘI DUNG THỰC TẬP

3.1. Địa điểm thực tập:

Dưới sự chỉ đạo của Trạm chăn nuôi và thú y huyện Đăk Mil nhóm em chia

thành 2 nhóm:

• Nhóm em được thực tập ở các xã: Thuận An, Đức Minh.

• Nhóm kia được thực tập ở xã : Đắk R'La, Đắk Gằn, Đắk N'Drót.

3.2. Thời gian thực tập:

Thời gian thực tập từ: 4/10/2016-14/10/2016.











Ngày 4/10/2016: ổn định chỗ ở.

Ngày 5-8/10/2016: Xã Thuận An ở các thôn: Thuận Thành, Thuận Hòa.

Ngày 9 /10/2016: nghỉ do khơng liên hệ được với trưởng thôn.

Ngày 10-14/10/2016: Xã Đức Minh ở các thôn: Mỹ Yên, Xuân Thành,



Bon Jun Yuh, Xã Đức Mạnh ở các thơn : Đức Trung, Đức Thắng.

• Tất cả các ngày 4h sáng đi lò mổ.

3.3. Nội dung thực tập:

• Thực hành tiêm gia súc.

• Rèn luyện tay nghề và nâng cao chun mơn.

• Tham gia kiểm sốt giết mổ.



13



PHẦN IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Công tác thú y

Căn cứ vào kế hoạch nhiệm vụ cơng tác phòng chống dịch bệnh gia súc

năm 2016 trên địa bàn xã và sự thông báo của chi cục thú y về việc tiêm phòng

cho gia súc.

Đợt thực tập bắt đầu từ ngày 04/10/2016. Trong quá trình thực tập giáo

trình đuợc sự hướng dẫn của trạm chăn nuôi và thú y huyện Đăk Mil cũng như

cán bộ thú y xã Đức Mạnh, em đã tiêm:

• Lở mồm long móng trên trâu bò: lọ 50ml, liều 2ml/con, tiêm bắp

• Tụ huyết trùng trâu bò: lọ 20ml, liều 2ml/con, tiêm bắp.

• Dịch tả lợn: đơng khơ 10 liều, liều 1ml/con, tiêm dưới da.

• Tụ huyết trùng lợn: 10 liều, liều 2ml/con, tiêm dưới da.



14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN II: TỔNG QUAN HUYỆN ĐĂK MIL.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×