Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG II: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA VIỆT NAM KHI KÍ KẾT HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VỚI EU (EVFTA)

CHƯƠNG II: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA VIỆT NAM KHI KÍ KẾT HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VỚI EU (EVFTA)

Tải bản đầy đủ - 0trang

Các lĩnh vực cụ thể

 Thương mại hàng hóa



Đối với xuất khẩu của Việt Nam, ngay khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa

bỏ thuế nhập khẩu đối với khoảng 85,6% số dòng thuế, tương đương 70,3% kim

ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU. Sau 07 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu

lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99,2% số dòng thuế, tương đương 99,7%

kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Đối với khoảng 0,3% kim ngạch xuất khẩu còn

lại, EU cam kết dành cho Việt Nam hạn ngạch thuế quan với thuế nhập khẩu trong

hạn ngạch là 0%.

Đối với các nhóm hàng quan trọng, cam kết của EU như sau:

-



-



-



Dệt may, giày dép và thủy sản (trừ cá ngừ đóng hộp và cá viên): EU sẽ xóa bỏ hồn

tồn thuế nhập khẩu cho các sản phẩm của Việt Nam trong vòng 7 năm kể từ khi

Hiệp định có hiệu lực. Với cá ngừ đóng hộp, EU đồng ý dành cho Việt Nam một

lượng hạn ngạch thuế quan thỏa đáng.

Gạo: EU dành cho Việt Nam một lượng hạn ngạch đáng kể đối với gạo xay xát, gạo

chưa xay xát và gạo thơm. Gạo nhập khẩu theo hạn ngạch này được miễn thuế hoàn

toàn. Riêng gạo tấm, thuế nhập khẩu sẽ được xóa bỏ theo lộ trình. Đối với sản phẩm

từ gạo, EU sẽ đưa thuế nhập khẩu về 0% trong vòng 7 năm.

Mật ong: EU sẽ xóa bỏ thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực và khơng áp dụng hạn

ngạch thuế quan.

Tồn bộ các sản phẩm rau củ quả, rau củ quả chế biến, nước hoa quả khác, túi xách,

vali, sản phẩm nhựa, sản phẩm gốm sứ thủy tinh: về cơ bản sẽ được xóa bỏ thuế

quan ngay khi Hiệp định có hiệu lực.

Đối với xuất khẩu của EU, cam kết của Việt Nam đối với các mặt hàng chính

là:



-



-



Ơ tơ, xe máy: Việt Nam cam kết đưa thuế nhập khẩu về 0% sau từ 9 tới 10 năm;

riêng xe máy có dung tích xy-lanh trên 150 cm3 có lộ trình xóa bỏ thuế nhập khẩu

là 7 năm;

Rượu vang, rượu mạnh, bia, thịt lợn và thịt gà: Việt Nam đồng ý xóa bỏ thuế nhập

khẩu trong thời gian tối đa là 10 năm.

Về thuế xuất khẩu, Việt Nam cam kết xóa bỏ phần lớn thuế xuất khẩu sau lộ

trình nhất định; chỉ bảo lưu thuế xuất khẩu đối với một số sản phẩm quan trọng,

trong đó có dầu thơ và than đá.

Các nội dung khác liên quan tới thương mại hàng hóa: Việt Nam và EU cũng

thống nhất các nội dung liên quan tới thủ tục hải quan, SPS, TBT, phòng vệ thương

13



mại, v.v, tạo khuôn khổ pháp lý để hai bên hợp tác, tạo thuận lợi cho xuất khẩu,

nhập khẩu của các doanh nghiệp.

 Thương mại dịch vụ và đầu tư



Cam kết của Việt Nam và EU về thương mại dịch vụ đầu tư nhằm tạo ra một

môi trường đầu tư cởi mở, thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp hai bên.

Cam kết của Việt Nam có đi xa hơn cam kết trong WTO. Cam kết của EU cao hơn

trong cam kết trong WTO và tương đương với mức cam kết cao nhất của EU trong

những Hiệp định FTA gần đây của EU.

Các lĩnh vực mà Việt Nam cam kết thuận lợi cho các nhà đầu tư EU gồm một số

dịch vụ chun mơn, dịch vụ tài chính, dịch vụ viễn thông, dịch vụ vận tải, dịch vụ

phân phối. Hai bên cũng đưa ra cam kết về đối xử quốc gia trong lĩnh vực đầu tư,

đồng thời thảo luận về nội dung giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và nhà nước.

 Mua sắm của Chính phủ



Việt Nam và EU thống nhất các nội dung tương đương với Hiệp định mua sắm của

Chính phủ (GPA) của WTO. Với một số nghĩa vụ như đấu thầu qua mạng, thiết lập

cổng thông tin điện tử để đăng tải thông tin đấu thầu, v.v, Việt Nam có lộ trình để

thực hiện. EU cũng cam kết dành hỗ trợ kỹ thuật cho Việt Nam để thực thi các

nghĩa vụ này.

Việt Nam bảo lưu có thời hạn quyền dành riêng một tỷ lệ nhất định giá trị các gói

thầu cho nhà thầu, hàng hóa, dịch vụ và lao động trong nước.

 Sở hữu trí tuệ



Cam kết về sở hữu trí tuệ gồm cam kết về bản quyền, phát minh, sáng chế, cam kết

liên quan tới dược phẩm và chỉ dẫn địa lý, v.v. Về cơ bản, các cam kết về sở hữu trí

tuệ của Việt Nam là phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành.

Về chỉ dẫn địa lý, khi Hiệp định có hiệu lực, Việt Nam sẽ bảo hộ trên 160 chỉ dẫn

địa lý của EU (bao gồm 28 thành viên) và EU sẽ bảo hộ 39 chỉ dẫn địa lý của Việt

Nam. Các chỉ dẫn địa lý của Việt Nam đều liên quan tới nông sản, thực phẩm, tạo

điều kiện cho một số chủng loại nông sản của Việt Nam xây dựng và khẳng định

thương hiệu của mình tại thị trường EU.

 Các nội dung khác



Hiệp định EVFTA cũng bao gồm các Chương liên quan tới cạnh tranh, doanh

nghiệp nhà nước, phát triển bền vững, hợp tác và xây dựng năng lực, pháp lý-thể

chế. Các nội dung này phù hợp với hệ thống pháp luật của Việt Nam, tạo khuôn khổ

14



pháp lý để hai bên tăng cường hợp tác, thúc đẩy sự phát triển của thương mại và

đầu tư giữa hai Bên.



2.2. Cơ hội và thách thức của Việt Nam khi kí kết Hiệp định Thương mại tự

do Việt Nam-EU (EVFTA)

Với việc Việt Nam tích cực tham gia đàm phán và ký kết các hiệp định FTA đã

mở ra nhiều cơ hội cho cho nền kinh tế nước nhà. Đàm phán Hiệp định Thương mại

Việt Nam – EU, là một trong những đàm phán thương mại tự do quan trọng nhất

của Việt Nam hiện nay, đang đi vào những giai đoạn cuối cùng. Với tính chất là một

FTA thế hệ mới, có phạm vi rộng và mức độ tự do hóa sâu, khi đi vào thực hiện,

EVFTA dự kiến sẽ mang lại những tác động quan trọng đối với hoạt động kinh

doanh thương mại giữa Việt Nam và EU. Tuy nhiên đi liền với đó là các lợi ích suy

đốn từ một hiệp định sẽ khơng đương nhiên trở thành hiện thực, cũng như vậy, các

quyền và nghĩa vụ theo các cam kết không tự nhiên phát huy tác dụng. Cần những

nỗ lực lớn để thực thi các cam kết, hiện thực hóa các lợi ích và xử lý thách thức liên

quan. Như vậy nước ta đang đứng trước khơng ít thách thức đòi hỏi nền kinh tế phải

có nỗ lực vượt bậc để đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất.



2.2.1. Cơ hội từ hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA)

 Về xuất khẩu, hiệp định này sẽ xóa bỏ gần như tồn bộ thuế quan trong thương mại



hàng hóa giữa hai nền kinh tế, lên tới trên 99% thuế quan theo EVFTA. Với rất ít số

dòng thuế còn lại, hai bên dành cho nhau hạn ngạch thuế quan hoặc cắt giảm thuế

quan một phần thì các doanh nghiệp sẽ có nhiều cơ hội tăng khả năng cạnh tranh về

giá của hàng hóa khi nhập khẩu vào thị trường EU. Nhờ đó sẽ mở rộng thị trường

cho hàng hóa xuất khẩu, đặc biệt là những mặt hàng có thế mạnh của hai bên như:

dệt may, giày dép, nông thủy sản, đồ gỗ của Việt Nam và máy móc, thiết bị, ơ tơ xe

máy, một số loại nông sản của EU… Đối với xuất khẩu của Việt Nam, ngay khi

Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với khoảng 85,6% số dòng

thuế, tương đương 70,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU. Sau 7 năm

kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99,2% số

dòng thuế, tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Đối với khoảng

0,3% kim ngạch xuất khẩu còn lại, EU cam kết dành cho Việt Nam hạn ngạch thuế

quan với thuế nhập khẩu trong hạn ngạch là 0%.



15



Thuế xuất khẩu một số mặt hàng sang EU khi FTA có hiệu lực

FTA



MFN



GSP



Dệt may



0% sau 7 năm



0-12%



0-8,5%



Giày dép



0% sau 7 năm



3-17%



0-13,5%



Thủy sản



0% sau 7 năm



0-26%



0-22,5%



Cà phê chế biến



0% sau 7 năm



0-12,5%



-



-



-



0% nhưng bị áp

hạn ngạch



Gạo



- Gạo hương:

30.000 tấn

- Gạo xay xát:

25.000 tấn

Gạo

30.000 tấn



Tỏi



sữa:



0% nhưng bị áp

10,4%

hạn ngạch



-



Đường

16%

+ 50,7 12,5% + 50,7

- Đường fructoza tinh khiết

0% nhưng bị áp

EUR/100 kg

EUR/100 kg

về mặt hóa học

hạn ngạch

12,8%

- Đường mantoza tinh

khiết về mặt hóa học

Nguồn: EU/Bộ Cơng Thương

FTA: thuế sau khi FTA có hiệu

MFN: thuế tối huệ quốc

GSP: thuế ưu đãi phổ cập

 Về nhập khẩu, các doanh nghiệp Việt Nam cũng sẽ được lợi từ nguồn hàng hóa,

-



nguyên liệu nhập khẩu với chất lượng tốt và ổn định với mức giá hợp lý hơn từ EU.

Đặc biệt, các doanh nghiệp sẽ có cơ hội được tiếp cận với nguồn máy móc, thiết bị,

cơng nghệ/kỹ thuật cao từ các nước EU, qua đó để nâng cao năng suất và cải thiện

chất lượng sản phẩm của mình. Đồng thời, hàng hóa của EU xuất khẩu sang Việt

Nam sẽ tăng lên, tạo sự cạnh tranh trong thị trường nội địa. Điều này có lợi cho

16



người tiêu dùng Việt Nam khi được sử dụng các sản phẩm có chất lượng tốt với giá

cả cạnh tranh.

 Về Đầu tư: Môi trường đầu tư mở hơn và thuận lợi hơn, triển vọng xuất khẩu hấp



dẫn hơn sẽ thu hút đầu tư FDI từ EU vào Việt Nam nhiều hơn. Trong lĩnh vực đầu

tư, các cam kết nhằm đảm bảo một môi trường đầu tư, kinh doanh cởi mở, thơng

thống hơn trong Hiệp định EVFTA sẽ giúp thúc đẩy luồng vốn đầu tư chất lượng

cao của EU và cả các đối tác khác vào Việt Nam. Không chỉ đầu tư của EU vào các

lĩnh sản xuất hàng công nghệ cao tăng lên, EVFTA cũng sẽ thúc đẩy dòng vốn FDI

của EU vào những lĩnh vực dịch vụ chất lượng cao, mà nền kinh tế Việt Nam đang

rất cần, như: dịch vụ tài chính - ngân hàng - bảo hiểm, năng lượng, viễn thông, cảng

biển và vận tải biển nhờ giảm bớt các điều kiện đối với các nhà cung cấp dịch vụ

của EU. Với quy mô và tiềm năng phát triển đầu tư của EU, nước ta có cơ hội trở

thành địa bàn trung chuyển, kết nối cho hoạt động thương mại và đầu tư của EU

trong khu vực. Điều này sẽ thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển

đổi mơ hình tăng trưởng theo hướng tích cực của Việt Nam. Tự do hóa thương mại

sẽ giúp tăng nguồn thu nhập quốc gia (nguồn thu từ hàng hóa nhập khẩu lớn hơn

nguồn chi từ sự giảm thuế), cán cân thương mại được cân bằng (tăng trưởng đương

500 triệu USD hàng năm do xuất khẩu tăng, thấp nhất là 4% so với dương 3,1%

nhập khẩu), và từ đó giúp thúc đẩy tăng trưởng GDP một cách đáng kể (2,7% năm).

 Về tiêu chuẩn lao động: trong số 8 FTA mà Việt Nam đã tham gia, thì đây là FTA



đầu tiên có các điều khoản về lao động và cơng đồn. EVFTA ký kết sẽ mở ra một

giai đoạn mới trong việc thúc đẩy, nâng cao các tiêu chuẩn lao động ở Việt Nam

phù hợp các tiêu chuẩn lao động quốc tế. Người lao động sẽ tăng cơ hội việc làm và

tiền lương do thu hút đầu tư nước ngoài lớn và xuất khẩu hàng hóa tăng.

 Cơ hội tiếp cận cơng nghệ: Hợp tác về khoa học kỹ thuật chủ yếu là về tiêu chuẩn



kỹ thuật và kiểm sốt chất lượng, chuyển giao bí quyết cơng nghệ, phổ biến thơng

tin chun mơn. Trong đó bên phía EU sẽ hỗ trợ nhiều hơn về cơng nghệ kỹ thuật

cho Việt Nam. Các nước thanh vieen EU sở hữu những công nghệ kỹ thuật cao hiện

đại của thế giới, chính nhờ thế mà các doanh Việt Nam cũng có cơ hội tiếp cận các

cơng nghệ sản xuất quy mô lớn, chất lượng cao tiên tiến từ các nước EU.

 Cơ sở hạ tầng: Để đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật cao và hội nhập phát triển trong



quan hệ thương mại với EU. Việt Nam cần đầu tư cải tiến cơ sở hạ tầng, để có thể

đáp ứng yêu cầu về sản xuất chế biến, hệ thống giao thông, cảng biển...đều phải đáp

ứng được nhu cầu trung chuyển hàng hóa cũng như các yêu cầu khác.



17



 Về Môi trường kinh doanh: Với việc thực thi các cam kết trong EVFTA về các



vấn đề thể chế, chính sách pháp luật sau đường biên giới, môi trường kinh doanh và

chính sách, pháp luật Việt Nam sẽ có những thay đổi, cải thiện theo hướng minh

bạch hơn, thuận lợi và phù hợp hơn với thông lệ quốc tế.

Hiện nay, nhiều các công ty của EU chọn Việt Nam, coi đây là địa điểm đầu tư

tốt. Các công ty của Việt Nam thường thiếu bí quyết, cơng nghệ và vốn - những yếu

tố rất sẵn có ở các cơng ty của EU với tiềm lực quốc tế lớn mạnh. Mặt khác, chi phí

lao động của EU khá cao nên khơng cạnh tranh được trên trường quốc tế. Trong khi

đó, cơ cấu chi phí của các cơng ty Việt Nam khá hấp dẫn, các lợi thế của Việt Nam

khá đa dạng, chất lượng lao động cũng như việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tốt hơn

so với những nước khác trong khu vực. Do vậy, hợp tác giữa EU và Việt Nam là

một quan hệ mang lại nhiều lợi ích, giúp các công ty của Việt Nam tiếp cận tri thức,

phương thức sản xuất hiện đại của phương Tây và tăng khả năng cạnh tranh trên thị

trường.



2.2.2. Thách thức từ hiệp định thương mại Việt Nam – EU (EVFTA)

Với EVFTA, cơ hội mở ra rất lớn nhưng các doanh nghiệp Việt Nam cũng sẽ

gặp phải khơng ít thách thức. Được thống nhất là một FTA thế hệ mới, EVFTA chắc

chắn sẽ có mức độ cam kết mở cửa sâu, và với diện các vấn đề được điều chỉnh đa

dạng, bao trùm nhiều lĩnh vực cả thương mại và phi thương mại, cả truyền thống

lẫn hiện đại. Việc thực thi các cam kết của EVFTA tại Việt Nam, vì vậy, sẽ trải rộng

trên nhiều khía cạnh, liên quan tới nhiều lĩnh vực, đòi hỏi các biện pháp khác nhau,

với số lượng các chủ thể liên quan lớn.

Trong bối cảnh đó, việc thiết lập và duy trì một (các) thiết chế nhằm bảo đảm

thực thi đồng bộ và hiệu quả các cam kết tương lai trong EVFTA đứng trước những

thách thức lớn, trong đó đặc biệt là:

 Thách thức trong thiết lập và vận hành hiệu quả các thiết chế theo yêu cầu



“cứng” của EVFTA: Trong các FTA giữa EU và đối tác ký thời gian gần đây, có

thể thấy có một số thiết chế phải thiết lập trên thực tế đã được quy định cứng (về

mơ hình, chức năng, lộ trình..) ngay trong nội dung cam kết FTA mà EU cũng như

các đối tác liên quan bắt buộc phải triển khai trong q trình thực thi cam kết. Các

thiết chế này có thể là thiết chế chung (do hai Bên thống nhất thành lập và thực

hiện), cũng có thể là thiết chế riêng mà mỗi Bên tự triển khai theo yêu cầu/mô hình

như trong cam kết.



18



Việc hình thành những tổ chức/thiết chế này, đặc biệt là những thiết chế riêng

do mỗi Bên tự tổ chức, đòi hỏi những thay đổi, bổ sung về bộ máy, cơ chế vận hành,

năng lực của cán bộ phụ trách…Trong điều kiện cụ thể về nhân lực, vật lực của Việt

Nam, những yêu cầu này không dễ dàng thực hiện.

 Các yêu cầu về quy tắc xuất xứ có thể khó đáp ứng: Thơng thường hàng hóa



muốn được hưởng ưu đãi thuế quan theo FTA thì nguyên liệu phải đáp ứng được

một tỷ lệ về hàm lượng nội khối nhất định (nguyên liệu có xuất xứ tại EU và/hoặc

Việt Nam). Đây là một thách thức lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam bởi

nguồn nguyên liệu cho sản xuất hàng xuất khẩu hiện nay chủ yếu được nhập khẩu

từ Trung Quốc hoặc ASEAN.

 Các rào cản TBT, SPS và yêu cầu của khách hàng: Tiêu chuẩn do EU áp đặt nằm



trong số các tiêu chuẩn khắt khe và khó đạt được nhất với chi phí cao nhất trên thế

giới. Các quy định nghiêm ngặt về môi trường và phúc lợi động vật (SPS) luôn là

thách thức đối với các nước đang phát triển nói chung và với Việt Nam nói riêng.

Với một số ngành là thế mạnh xuất khẩu của mình, EU sẽ đòi hỏi cắt giảm các hàng

rào phi thuế quan, trước hết là loại bỏ các hình thức trợ giá từ phía Chính phủ Việt

Nam. Do đó, doanh nghiệp Việt Nam phải tuân thủ các điều khoản quy định về vệ

sinh, môi trường, lao động và quy trình cơng nghệ. Điều này sẽ khiến cho các doanh

nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam khó đáp ứng được yêu cầu do năng lực kỹ thuật và

tài chính hạn chế, sản phẩm khơng đủ tiêu chuẩn để bán ra trên thị trường. Trong

khi đó, các doanh nghiệp EU lại rất có kinh nghiệm, có uy tín và lợi thế cả về cơng

nghệ lẫn quản lý, lại có thể thành lập được các nhà máy sản xuất nguyên phụ liệu

hoặc tự thành lập ngành công nghiệp phụ trợ của riêng mình, thì bối cảnh này khiến

nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam, cho dù chỉ sản xuất cho thị trường

nội địa, cũng sẽ đối mặt với nguy cơ buộc phải thu hẹp sản xuất, hoặc phá sản.

Trên thực tế, do những hạn chế về cả về năng lực và nguồn lực, Việt Nam

hầu như chưa ban hành được thêm các hàng rào TBT, SPS nào, trong khi đó việc

thực thi tại biên giới nhằm kiểm sốt hàng hóa nhập khẩu với các hàng rào TBT,

SPS tối thiểu đã có hầu như khơng hiệu quả. Hàng hóa bn lậu, có chât lượng kém

vẫn nhập khẩu tràn lan, cạnh tranh khơng lành mạnh với hàng hóa nội địa cũng như

gây ảnh hưởng đáng kể tới sản xuất, tiêu dùng trong nước.Vì vậy, dù có được hưởng

lợi về thuế quan thì hàng hóa của Việt Nam cũng phải hồn thiện rất nhiều về chất

lượng để có thể vượt qua được các rào cản này.

 Nguy cơ về các biện pháp phòng vệ thương mại: Thơng thường khi rào cản thuế



quan khơng còn là cơng cụ hữu hiệu để bảo vệ nữa, doanh nghiệp ở thị trường nhập

khẩu có xu hướng sử dụng nhiều hơn các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ

19



cấp hay tự vệ để bảo vệ ngành sản xuất nội địa, và sử dụng các công cụ phòng vệ

thương mại, chất lượng vệ sinh an tồn thực phẩm. Vì thế, EVFTA có thể đặt ra cho

Việt Nam những yêu cầu chặt chẽ hơn trong vấn đề bán phá giá, trợ cấp và sử dụng

các công cụ phòng vệ thương mại.Theo quy định của WTO, để thực hiện được

quyền yêu cầu sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại (chống bán phá giá,

chống trợ cấp, tự vệ) vốn rất có ý nghĩa trong việc bảo vệ các ngành sản xuất nội

địa trước các hành vi cạnh tranh không lành mạnh hoặc tăng trưởng thương mại đột

biến gây thiệt hại, các ngành sản xuất nội địa phải có thơng tin về diễn tiến nhập

khẩu, khối lượng/số lượng, kim ngạch nhập khẩu, giá nhập khẩu… của hàng hóa

liên quan. Trong khi đó, ở Việt Nam, những thơng tin này lại là thông tin mà chỉ cơ

quan hải quan có và khơng cho phép cơng chúng tiếp cận. Hệ quả là sau 8 năm gia

nhập WTO, sau 10 năm kể từ ngày quyền sử dụng các cơng cụ phòng vệ thương

mại được ghi nhận trong pháp luật nội địa, ở Việt Nam mới chỉ có 03 vụ điều tra

phòng vệ thương mại.

 Sức ép cạnh tranh từ hàng hóa và dịch vụ của EU: Mở cửa thị trường Việt Nam



cho hàng hóa, dịch vụ từ EU đồng nghĩa với việc doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải

cạnh tranh khó khăn hơn ngay tại thị trường nội địa. Trên thực tế, đây là một thách

thức rất lớn, bởi các doanh nghiệp EU có lợi thế hơn hẳn các doanh nghiệp Việt

Nam về năng lực cạnh tranh, kinh nghiệm thị trường cũng như khả năng tận dụng

các FTA. Tuy nhiên, cam kết mở cửa của Việt Nam là có lộ trình, đặc biệt đối với

những nhóm sản phẩm nhạy cảm, do đó EVFTA cũng là cơ hội, sức ép hợp lý để

các doanh nghiệp Việt Nam điều chỉnh, thay đổi phương thức kinh doanh và nâng

cao năng lực cạnh tranh của mình.

 Thách thức trong thiết lập cơ chế bảo đảm thực hiện đồng bộ các nghĩa vụ cụ



thể theo cam kết: Một phần lớn các cam kết (cả về tiếp cận thị trường và về quy

tắc) trong các FTA thế hệ mới như EVFTA đòi hỏi việc điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung

pháp luật nội địa trong những lĩnh vực liên quan cho phù hợp.Thơng thường thì các

Bên của FTA được chủ động lựa chọn cách thức thích hợp để triển khai các hoạt

động này mà khơng có bất kỳ ràng buộc nào về mặt thiết chế. Mặc dù vậy, kinh

nghiệm từ thực thi WTO của Việt Nam thời gian qua cho thấy, để đảm bảo việc

triển khai thực thi các nghĩa vụ theo cam kết một cách đồng bộ (thống nhất về cách

hiểu giữa các Bộ ngành, địa phương) và có hiệu quả (tránh trường hợp thực thi “bề

mặt” – chỉ sửa đổi cho phù hợp với cam kết về hình thức trong khi khơng sửa đổi

các quy định có liên quan, khiến cam kết khơng có ý nghĩa thực tiễn hoặc khơng thể

triển khai hiệu quả).



20



Do đó, để thực thi hiệu quả các cam kết trong EVFTA tương lai, ít nhất là từ góc

độ các nghĩa vụ bắt buộc, cần thiết phải thiết lập một cơ chế chung, thống nhất, ở

cấp Chính phủ với các mục tiêu như rà soát hệ thống pháp luật, để điều chỉnh đồng

bộ pháp luật, kiểm soát tiến độ, hiệu quả điều chỉnh pháp luật theo cam kết …Cách

thức vận hành của thiết chế này cũng cần được thiết kế phù hợp để đảm bảo khả

năng chỉ đạo thống nhất việc thực thi trên thực tế.

 Thách thức trong tư vấn, hướng dẫn, giải quyết vướng mắc trong quá trình



thực thi các cam kết: Trong q trình thực thi các cam kết, ln xảy ra các tình

huống liên quan tới việc giải thích cam kết, áp dụng cam kết, gắn trực tiếp với

quyền và lợi ích của các tổ chức, cá nhân liên quan. Với một nước đang phát triển,

mới hội nhập và chưa có nhiều kinh nghiệm trong thực thi các cam kết như Việt

Nam, hiện tượng này càng phổ biến hơn. Mặc dù vậy, ở Việt Nam chưa có bất kỳ

một đầu mối hay thiết chế nào chính thức thực hiện việc tư vấn, hướng dẫn, giải

quyết vướng mắc cho các tổ chức, cá nhân (phần lớn là doanh nghiệp) trong những

trường hợp như vậy.

Tham gia các FTA song phương hay FTA khu vực, trên thực tế, đều nhằm mục

tiêu cuối cùng là tăng cường hội nhập kinh tế, mang lại lợi ích thiết thực nhất cho

các quốc gia, doanh nghiệp và các bên liên quan. Từ đó, mục tiêu này đòi hỏi Việt

Nam phải cải cách quản lý ở cấp độ quốc gia nhằm tăng vị thế đàm phán. Cải cách

quản lý được nhận định là đóng vai trò quan trọng trong quá trình cải cách cơ cấu

kinh tế, nhân tố cần thiết để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế dài hạn nhằm thu lợi ích kinh

tế tồn diện thơng qua trao đổi thương mại và đầu tư với EU.

Cuối cùng, việc ký kết FTA Việt Nam - EU cũng tạo ra nguy cơ các doanh

nghiệp Việt Nam bị thơn tính, cũng như tăng nguy cơ khiến Việt Nam rơi vào “bẫy

tự do hóa thương mại” nếu kinh tế trong nước khơng có những cải cách sâu rộng.



21



CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP ĐỂ VIỆT NAM TẬN DỤNG TỐT CƠ

HỘI KHI KÍ KẾT HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VỚI EU (EVFTA)

Trên cơ sở phân tích những cơ hội và thách thức đến từ EVFTA, để có thể tận

dụng tốt nhất Hiệp định này, Nhà nước, cũng như các doanh nghiệp cần thực hiện

một số giải pháp sau:



3.1. Về phía Nhà nước

Để giảm chi phí tuân thủ các tiêu chuẩn (SPS và TBT) của EU, Việt Nam cần

chủ động ký kết các thỏa thuận công nhận chung và thỏa thuận tương đương trong

từng trường hợp cụ thể với EU. Việc đạt được các thỏa thuận như vậy, đặc biệt

trong những lĩnh vực mà hàng xuất khẩu của Việt Nam có cơ hội tiếp cận thực sự

hoặc còn ở dạng tiềm năng vào thị trường EU, sẽ mang lại cho các nhà sản xuất,

xuất khẩu và kinh doanh Việt Nam những lợi thế so sánh lớn, được ưu tiên tiếp cận

thị trường, những lợi thế này có thể tương đương hoặc thậm chí lớn hơn những

nhượng bộ thuế quan trong FTA.

Bên cạnh đó, Nhà nước cần giúp doanh nghiệp nâng cao nhận thức trong việc

đối phó với những rào cản phi thuế quan, hoặc đàm phán lại với đối tác nhập khẩu

để họ hỗ trợ các doanh nghiệp vượt qua rào cản. Ví dụ, thị trường EU đưa ra những

tiêu chuẩn mới về hóa chất sử dụng trong các mặt hàng nhập khẩu từ Việt Nam,

nhưng EU cũng sẵn sàng hợp tác với Việt Nam để giúp doanh nghiệp nắm bắt

những điểm mới này.

Từ đó, nhóm kiến nghị một số giải pháp sau:

Thứ nhất, cần phải hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường theo các chuẩn mực

quốc tế. Hồn thiện khn khổ pháp lý và hệ thống luật pháp; Hoàn thiện và đồng

bộ hóa các thị trường trong nước; Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo mơi

trường thuận lợi và thơng thống cho các hoạt động này theo hướng thị trường, phù

hợp với các cam kết quốc tế và Hiệp định EVFTA.

Thứ hai, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hoàn thiện tái cấu trúc

và chuyển đổi mơ hình tăng trưởng tại các khu vực kinh tế trọng điểm trong cả

nước. Đồng thời, đẩy mạnh tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, thị trường tài chính,

ngân hàng; Tập trung nguồn lực, cơ chế chính sách nhằm phát triển công nghiệp

phụ trợ…



22



Thứ ba, Việt Nam cần phải định hướng xây dựng ngành kinh tế mũi nhọn, tiếp

tục tập trung vào các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang thị trường EU

như các mặt hàng nông sản, thủy sản,… nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng các

tiêu chuẩn về chất lượng của thị trường EU, từ đó nhằm tận dụng cơ hội của FTA

với EU.

Thứ tư, hoàn thiện cơ chế quản lý và giám sát các hoạt động xuất nhập khẩu

hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, bảo hộ quyền sở hữu trsi tuệ mà Việt Nam đã cam kết

trong hiệp định.

Thứ năm, Chính phủ cần hỗ trợ DN bằng các giải pháp sau: Xây dựng hệ

thống kế toán quản trị cho các DN Việt Nam và khuyến khích các DN áp dụng; tăng

cường năng lực cạnh tranh, tạo điều kiện hỗ trợ hợp lý nhằm gia tăng vai trò của các

DN; Bồi dưỡng khả năng kinh doanh quốc tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc

tế của các DN, đặc biệt là các DNVVN Việt Nam.



3.2.



Về phía doanh nghiệp



Như đã nói ở trên, mục tiêu và danh mục đàm phán Hiệp định EVFTA không

dừng lại ở các lĩnh vực truyền thống, như: thương mại hàng hóa, dịch vụ…, mà còn

mở rộng thêm nhiều lĩnh vực khác, gồm: sở hữu trí tuệ, mua sắm công, phát triển

bền vững… Do vậy, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động cập nhật

thông tin về các cơ hội thị trường mà EVFTA mang lại, đặc biệt là thông tin về ưu

đãi thuế liên quan đến hàm lượng giá trị gia tăng nội địa của các hàng hóa, dịch vụ

và các hàng rào kỹ thuật khác. Từ đó, đóng góp ý kiến trong q trình đàm phán

Hiệp định EVFTA để đảm bảo được lợi ích chính đáng.

Điều quan trọng không kém nữa là, doanh nghiệp phải nỗ lực đổi mới thiết bị

công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm… để khẳng định vị trí trên sân nhà và tận

dụng các cơ hội vươn ra thị trường EU.



23



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG II: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA VIỆT NAM KHI KÍ KẾT HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VỚI EU (EVFTA)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×