Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG LOGISTICS CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT TẠI VIỆT NAM

CHƯƠNG 1. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG LOGISTICS CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT TẠI VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 0trang

-



Số luợng doanh nghiệp có tổng chi phí logistics chiếm trên 25% tổng



doanh số bán ra là 50%

-



Nếu tính trung bình tỷ lệ chi phí logistics trong tổng doanh số bán ra của



các doanh

nghiệp được điều tra thì kết quả là khoảng trên 20%.

Với kết quả này chúng ta thấy, chi phí logistics của các doanh nghiệp Việt

Nam còn khá cao so với nhiều nước khác trong khu vực và thế giới, cụ thể như ở

Nhật chi phí trung bình là 5% (2006), Mỹ 8-9% (2006), Indonesia 14% (2006).

Chi phí logistics cao đã làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh và tính cạnh

tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường khu vực và thế giới.



Hình 1. Tỷ trọng chi phí logistics trong tổng doanh thu của doanh nghiệp

Trong tổng chi phí logistics, tỷ trong chi phí logstics đầu vào (inbound logistics

cost), chi phí logistics đầu ra (outbound logistics cost), chi phí kho bãi cũng

tương đối khác nhau (warehousing cost). Cụ thể:



6



Hình 2. Tỷ trọng chi phí logstics đầu vào Hình 3. Tỷ trọng chi phí logstics đầu ra

trong tổng chi phí logistics

trong tổng chi phí logistics



Hình 4. Tỷ trọng chi phí kho bãi trong tổng chi phí logistics

Theo kết quả điều tra, chi phí logistics đầu ra chiếm tỷ trọng lớn nhất

trong tổng chi phí logistics (chiếm 20 - 40%). Chi phí này cao hơn rất nhiều so

với chi phí logistics đầu vào (0 - 20%). Chi phí kho bãi chiếm tỷ trọng nhỏ trong

tổng chi phí logistics.

Như vậy, tỷ trọng chi phí logistics trong tổng doanh thu của doanh nghiệp

(khoảng 20-25%) còn khá cao so với các nước trong khu vực và thế giới.

1.3.



Hoạt động logistics đầu vào

Kết quả điều tra cũng đã chỉ ra rằng hoạt động logistics đầu vào giữa hai



nhóm doanh nghiệp miền Bắc và miền Nam có sự khác nhau nhất định. Cụ thể:



7



Tỷ trọng thu mua



Hình 5. Tỷ trọng thu mua các yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất của các

doanh nghiệp miền Bắc



Hình 6. Tỷ trọng thu mua các yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất của các

doanh nghiệp miền Nam

Theo kết quả điều tra, chúng ta có thể nhận thấy:

-



Thu mua nội vùng chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động logistics đầu



vào đối với các doanh nghiệp phía Nam và phía Bắc. Tuy nhiên, hoạt động thu

mua nội vùng ở các doanh nghiệp Nam phát triển hơn ở phía Bắc.



8



-



Các doanh nghiệp phía Bắc phụ thuộc rất nhiều vào nguồn cung cấp đầu



vào từ nước ngoài (nhập khẩu). Trong khi sự phụ thuộc này đối với các doanh

nghiệp phía Nam là ở mức độ trung bình.

1.4.



Thời gian lưu trữ hàng hóa

Kết quả điều tra thời gian dự trữ đối với các mặt hàng chính của các doanh



nghiệp được thể hiện ở biểu đồ dưới đây:



Hình 7. Thời gian dự trữ trung bình đối với ngun vật liệu đầu vào chính của

doanh nghiệp



9



Hình 8. Thời gian dự trữ trung bình đối với sản phẩm đầu ra chính của doanh

nghiệp

Theo kết quả khảo sát thì 25% số doanh nghiệp được phỏng vấn có thời

gian dự trữ đối với cả nguyên vật liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra là hơn 1

tháng. Trong đó, số lượng doanh nghiệp có thời gian dự trữ 1-3 tháng là chiếm

chủ yếu.

Rõ ràng, thời gian dự trữ đối với các mặt hàng chính trong các doanh

nghiệp hiện nay còn khá cao. Thời gian dự trữ dài đã làm tăng thêm chi phí

logistics, giảm vòng quay của vốn, giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh của các

doanh nghiệp hiện nay của Việt Nam.

1.5.



Các hoạt động logistics đang thuê ngoài.

Các hoạt động logistics đang các doanh nghiệp trên thuê ngoài từ thấp



nhất tăng dần là: logistics ngược, hóa đơn, xử lý đơn hàng, quản lý lưu kho, hoàn

thành sản phẩm theo yêu cầu, vận tải quốc tế, kho bãi, hệ thống thông tin, cước

phí giao nhận hàng hóa và cao nhất là vận tải nội địa.



10



Hình 9. Các hoạt động logistics đang được thuê ngoài



Hoạt động logistics



Tỷ lệ doanh nghiệp lựa chọn (%)

0%



1-25% 26-



51-



50%



75%



>75% Tổng



Vận tải nội địa



6%



36%



19%



13%



26%



100%



Cước phí giao nhận hàng hóa



11%



50%



18%



9%



14%



100%



Hệ thống thơng tin



17%



51%



19%



6%



8%



100%



Kho bãi



18%



49%



16%



7%



9%



100%



Vận tải quốc tế



23%



25%



16%



8%



28%



100%



Hồn thành sản phẩm theo yêu cầu



23%



36%



21%



9%



11%



100%



Quản lý lưu kho



24%



51%



14%



5%



7%



100%



Xử lý đơn hàng



27%



51%



13%



5%



4%



100%



Hóa đơn



30%



38%



17%



8%



7%



100%



Logistics ngược



40%



32%



16%



5%



7%



100%



(Product customization)



Nguồn: Nhóm nghiên cứu logistics Trường đại học Ngoại thương

1.6.



Mức độ ứng dụng CNTT

Về tình hình ứng dụng công nghệ cho hoạt động logistics trong doanh



nghiệp:

Các công nghệ được sử dụng nhiều nhất bởi các doanh nghiệp bao gồm: điện

thoại/ tin nhắn SMS (49% số doanh nghiệp trả lời luôn sử dụng), thư điện tử/fax,

website, mạng nội bộ, mã số mã vạch. Được sử dụng ít hơn bao gồm các công

nghệ trao đổi dữ liệu điện tử EDI, RFID (cơng nghệ nhận dạng bằng sóng radio),

11



ERP (hệ thống quản trị doanh nghiệp tích hợp) và các cơng nghệ khác. Trong đó,

Cơng nghệ có tỷ lệ chưa bao giờ được sử dụng nhiều nhất là RFID và ERP.



Hình 10. Mức độ sử dụng CNTT phục vụ sản xuất, kinh doanh (% DN lựa chọn)

1.7.



Nhu cầu quan trọng nhất với doanh nghiệp trong tương lai về dịch vụ

logistics.

Về nhu cầu đối với hoạt động logistics trong tương lai: 21,4% số công ty được

hỏi muốn lựa chọn thêm các nhà cung cấp logistics mới;14,48% mong muốn cải

thiện dịch vụ khách hàng. Ngoài ra những nhu cầu về phát triển hệ thống thông

tin, nguồn nhân lực và tận dụng giải pháp di động cũng được chú ý với tỷ lệ lần

lượt là 13,62%; 13,81% và 12,38%. Những nhu cầu còn lại như hồn thiện cấu

trúc phân phối hay tăng tính minh bạch trong chuỗi cung ứng cũng được chú ý

nhưng với mức độ khơng cao.



12



Hình 11. Nhu cầu quan trọng nhất đối với DN trong tương lai về hoạt động

logistics (% DN lựa chọn)

Nguồn: Nhóm nghiên cứu logistics Trường đại học Ngoại thương

1.8.



Các giải pháp cắt giảm chi phí

Về các giải pháp để giảm chi phí logistics cho doanh nghiệp Việt Nam:



trong số các đơn vị được hỏi về giải pháp giảm chi phí logistics thì hơn 64% cho

rằng nâng cao hiểu biết về tầm quan trọng của giảm chi phí là giải pháp cần thiết

và hiệu quả nhất, và chỉ 22% chấp nhận rằng Việc đào tạo để tăng cường trình độ

chun mơn của cán bộ có thể giảm đáng kể chi phí logistics cho doanh nghiệp.



13



Hình 12. Các giải pháp cắt giảm chi phí logistics (theo đánh giá của các DN sản

xuất, kinh doanh: % DN lựa chọn)

Nguồn: Nhóm nghiên cứu logistics Trường đại học Ngoại thương

1.9.

Kết luận

Qua nghiên cứu này, có thể khẳng định rằng sự phát triển của hoạt động

logistics hiện nay trong các doanh nghiệp Việt Nam còn rất nhiều hạn chế. Điều

này đã lý giải phần nào tính cạnh tranh về sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp

Việt Nam còn thấp và tụt hậu so với thế giới.

1.2.



Những khó khăn mà các doanh nghiệp sản xuất phải đối mặt khi sử

dụng dịch vụ Logistics.

Ngành sản xuất ln đóng một vai trò đặc biệt đối với nền kinh tế của một



quốc gia. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự hỗ trợ đắc lực của

cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới, khối lượng hàng hóa và sản

phẩm vật chất được sản xuất ra ngày càng nhiều. Do khoảng cách trong các lĩnh

vực cạnh tranh truyền thống như chất lượng hàng hóa hay giá cả ngày càng thu

hẹp, các nhà sản xuất đã chuyển sang cạnh tranh về quản lý hàng tồn kho, tốc độ

giao hàng, hợp lý hóa q trình lưu chuyển nguyên nhiên vật liệu và bán thành

phẩm, … trong cả hệ thống quản lý phân phối vật chất của doanh nghiệp. Do đó

việc lựa chọn dịch vụ thuê ngồi(outsorcing) hoặc tự mình phát triển nghiệp vụ

14



Logistics vơ cùng được chú trọng. Tuy nhiên với một nước đang phát triển và

còn nhiều thiếu sót trong ngành dịch vụ này như Việt Nam, thì các doanh nghiệp

sản xuất vẫn đang gặp phải rất nhiều khó khăn.



2.1.



Chi phí logistics q cao

Doanh nghiệp sản xuất của Viêt Nam hiện nay đang gặp phải nhiều khó



khăn. Điển hình là chi phí logistics q cao, đang là vấn đề chung mà mọi doanh

nghiệp sản xuất phải chịu.

Theo số liệu thống kê của Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt

Nam (VLA), số lượng doanh nghiệp (DN) logistics trong nước tăng mạnh, từ

700 DN năm 2005 lên khoảng 3.000 DN vào thời điểm này, trong đó có khoảng

30 DN cung cấp dịch vụ logistics xuyên quốc gia đang hoạt động tại Việt Nam.

Các DN cung cấp dịch vụ logistics có vốn đầu tư nước ngồi và các DN cung

cấp dịch vụ xuyên quốc gia đang là một bộ phận quan trọng trong phát triển thị

trường logistics Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới ngày càng

sâu rộng.

Ngân hàng Thế giới (WB) đánh giá, năm 2016 ngành dịch vụ logistics của

Việt Nam xếp hạng thứ 64/160 quốc gia, đứng thứ tư trong khu vực ASEAN (sau

Singapore, Thái Lan và Malaysia). Mặc dù vậy, chi phí logistics ở nước ta còn ở

mức cao, trong đó tổng chi phí logistics của Việt Nam năm 2016 là 41,26 tỷ

USD, tương đương 20,8% GDP (trong khi các nước phát triển chỉ từ 9 đến 14%),

nhưng đóng góp từ ngành dịch vụ logistics vào GDP chỉ khoảng 2-3%. Theo

phản ánh của các DN, chi phí như vận chuyển, dịch vụ logistics cho một

container hàng linh kiện điện tử bằng đường biển từ Singapore và Hồng Kông

(Trung Quốc) tới Việt Nam là khoảng 160USD, nhưng vận chuyển đường bộ từ

15



Hải Phòng về Hà Nội, chi phí tới hơn 220USD/container cho quãng đường

100km.

Một khảo sát của Ngân hàng Thế giới cho thấy chi phí logistics chiếm rất

lớn trong giá thành của nhiều ngành hàng tại Việt Nam. Đơn cử với ngành thủy

sản chi phí này chiếm hơn 12%, đồ gỗ chiếm 23%, rau quả 29,5% và ngành gạo

chiếm đến gần 30% trong giá thành.

Chi phí logistics tại Việt Nam cao hơn Thái Lan 6%, Malaysia 12%, còn

so với Singapore thì cao hơn tới ba lần. Chi phí logistics quá cao đã gián tiếp làm

giảm sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế. Đáng chú ý,

trong chi phí logistics thì chi phí vận tải chiếm q lớn, lên tới gần 60%.

2.2.



Khó khăn trong việc chọn đối tác Logistics tối ưu

Khó khăn này đến từ sự thiếu đồng bộ, tính cạnh tranh khơng cao và tính



chưa hồn thiện, cụ thể là chi phí dịch vụ chưa cạnh tranh tốt, chất lượng cung

cấp một số dịch vụ chưa cao; hạn chế về quy mô và vốn, về kinh nghiệm và trình

độ quản lý cũng như trình độ nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu hoạt động

quốc tế của phần lớn các công ty Logistics tại Việt Nam.

Nghiên cứu của Hiệp hội Các nhà giao nhận vận tải Việt Nam cho thấy,

các doanh nghiệp logistics trong nước chỉ đáp ứng 25% nhu cầu thị trường. Bên

cạnh đó, hầu như không nhà cung cấp dịch vụ logistics nào cung cấp được dịch

vụ vận chuyển xuyên suốt toàn lãnh thổ Việt Nam kết nối với thị trường quốc tế

với chi phí cạnh tranh, mà phải qua các nhà cung cấp dịch vụ của từng chặng.

Trong khi đó, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã giành được khoảng

70% thị trường nhờ tính chuyên nghiệp, mạng lưới rộng khắp và ứng dụng công

nghệ thông tin hiện đại. Theo thống kê cho thấy các công ty logistics Việt Nam

mới chỉ hoạt động trong phạm vi nội địa hay một vài nước trong khu vực, và chủ

yếu làm đại lý hoặc đảm nhận từng công đoạn cho các doanh nghiệp logistics

16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG LOGISTICS CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT TẠI VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×