Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Tải bản đầy đủ - 0trang

nên nhóm tuổi từ 31 tuổi - 50 tuổi chiếm 50 % và cơ cấu nhóm tuổi của các nơng hộ là

khá đồng đều.

Bảng 4.2. Cơ Cấu Nhóm Tuổi

Nhóm tuổi



Số lượng (hộ)



Tỷ lệ



Từ 31 - 40 tuổi



13



22%



Từ 41 - 50 tuổi



17



28%



Từ 51 - 60 tuổi



17



28%



Từ 61 - 70 tuổi



11



19%



Trên 70 tuổi



2



3%



Tổng



60



100%

Nguồn: Điều Tra và Tổng Hợp.



b) Trình độ học vấn

Hình 4.1. Đặc Điểm Trình Độ Học Vấn



Nguồn: Điều Tra và Tổng Hợp.

Qua biểu đồ trên ta thấy trình độ học vấn nơng dân ở An Chấn chưa cao.Tỷ lệ

người có trình độ cấp III chiếm tỷ lệ thấp (8 %). Tỷ lệ nông dân học cấp 1 chiếm đa số

(49 %). Ở đây vẫn còn số người khơng được đi học hầu hết là những người lớn tuổi do

khơng có điều kiện để đi học. Tuy nhiên, trình độ học vấn của người nơng dân đang

dần được nâng cao góp phần nâng cao chất lượng lao động tại đây. Đồng thời trình độ



học vấn cũng là yếu tố ảnh hưởng đến về nhận thức cũng như năng suất lao động của

họ.

4.2. Mô tả đặc điểm hệ thống thuỷ lợi ở địa phương

HTX nông nghiệp An Chấn là một HTX cấp xã nằm cuối phía nam huyện Tuy

An, cách trung tâm huyện 18 km. Đây là xã nằm ở cuối huyện nên hệ thống thủy lợi ở

An Chấn không lấy nước từ các cơng trình thủy lợi của huyện Tuy An mà được hưởng

lợi từ nguồn nước của hệ thống thủy nông Đồng Cam. Đồng thời là một trong ba xã

nằm cuối nguồn nên vấn đề nước tưới phục vụ nông nghiệp nơi đây thường khơng chủ

động được.

Diện tích đất nơng nghiệp được phục vụ nước thuỷ lợi là 77 ha (trước năm 2009

là 84 ha). Nước từ hệ thống thuỷ lợi phục vụ chủ yếu cho cây lúa, còn rau màu là chỉ

sử dụng nước trời và nguồn nước từ giếng đào. Nông dân ở đây sản xuất theo mô hình

2 vụ lúa, một vụ dưa. Lúa Đơng Xn (vụ 3) trồng từ tháng 1 đến tháng 3 dương lịch;

tháng 4, tháng 5 dương lịch trồng dưa; lúa Hè ThuKC2

(vụ 8) trồng từ cuối tháng 5 đến

tháng 8 dương lịch .

Hồ Quang (200ha)



Phú Vang



San Thọ



KC1



Cơng trình đầu mối cung cấp nước phục vụ cho nông nghiệp ở An Chấn là từ

N3



N1



N5



Chùa Sao

Định

Hồnơng Đồng Cam

trạm bơm điệnHồ

Phú

Vang thuộc cơng ty Mỹ

thủy

dẫn theo kênh KC1



xuống An Chấn. Nguồn nước lấy từ kênh chính của đập Đồng Cam dẫn theo kênh N3

N2

xuốngKênh

trạm bơm điện

Phú Vang.N4



Đồng Lộc



chính

Bắc



Sơng Đà Rằng

Kênh

chính

Nam



N1-2

N1



Hình 4.2. Sơ Đồ Hệ Thống Thủy Nơng Đồng Cam

Đồng Bò



N2



N4



N2-2

N2-2-1



N6



N8



N3-2

N3



Phú Hồ

Hồ Hiệp Nam (350ha)



N6-1

Mỹ Hồ

Đơng

N6-3



Bình Sơn (350ha)



Các Trạm Bơm



Nguồn: Sổ tay hướng dẫn vận hành bảo dưỡng hệ thống tưới Đồng Cam.

Trạm bơm điện Phú Vang có hai hệ thống kênh chính là KC1 và KC2. Kênh

KC1 cung cấp nước cho 4 HTX: Đông An Phú, An Chấn, An Mỹ và An Hòa. Kênh

KC2 cung cấp nước cho 3 HTX: Tây An Phú, Bình Kiến 1 và Bình Kiến 2.

Trạm bơm tổ chức tưới luân phiên. Ở mỗi HTX một đợt lấy nước là 10 ngày,

bình quân một vụ thu hoạch là 8 đợt. Vào đợt bơm bình qn một ngày bơm 3-4 máy,

cơngTrạm

suấtBơm

mỗi máy là 1000 kw/h, bơm liên tục 24h/24h.

Phú Vang



Kênh KC2



Hình 4.3. Sơ Đồ Khu Vực Tưới của Trạm Bơm Phú Vang

Kênh KC1



An Phú



An Chấn



An Mỹ



An Hồ



Nguồn: Điều Tra và Tổng Hợp.

Chính vì nguồn tài ngun nước là có giới hạn, nhưng nhu cầu nước cung cấp

cho nông nghiệp lại không thể thiếu, điều này đòi hỏi phải có cách tổ chức quản lý

chặt chẽ, phù hợp sao cho đáp ứng đủ nhu cầu nước tưới cho nơng dân nhằm góp phần

ổn định đời sống và sản xuất.

4.3. Tổ chức quản lý thủy lợi ở An Chấn

4.3.1. Sự hình thành cộng đồng người sử dụng nước

Khái niệm cộng đồng thường không cố định và khó xác định. Theo Schouten và

Moriaty (2003) cộng đồng người sử dụng nước là nhóm các cá nhân những người sử

dụng nước cho sản xuất nông nghiệp. Cụm từ “cộng đồng” hoặc “cộng đồng người sử

dụng nước” bao gồm cả các cá nhân là xã viên HTX và cá nhân không phải là xã viên

HTX. Họ là tất cả những người sử dụng nước cho sản xuất nông nghiệp của mình.

Cộng đồng người sử dụng nước ở An Chấn bao gồm tất cả các hộ gia đình có tham gia

sản xuất nơng nghiệp. Tồn HTX có 1140 hộ với 4425 nhân khẩu, số người trong độ

tuổi lao động là 1420 lao động (2008). Mặc dù quản lý thủy lợi được tổ chức thông

qua HTX nhưng không phải tất cả các cá nhân đều là xã viên của HTX. Một số là xã

viên HTX, số còn lại khơng phải là xã viên (thống kê HTX An Chấn, 2007).



Bảng 4.3. Thống Kê Số Lượng Người Sử Dụng Nước ở Xã An Chấn

Thành phần



Số lượng



Tỷ lệ



Xã viên HTX



1020



71,38 %



Không là xã viên HTX



400



28,71 %



Tổng



1420



100 %



Nguồn: HTX Nông Nghiệp An Chấn.

Tất cả các thành viên của cộng đồng đều phải thực hiện kế hoạch sản xuất được

chấp thuận trong đại hội HTX được tổ chức 5 năm một lần mặc dù sự tham gia vào

việc làm quyết định ở HTX chỉ bởi các thành viên là xã viên của HTX. Về vấn đề thủy

lợi, các thành viên của cộng đồng đều được quyền sử dụng nước luân phiên và có

nghĩa vụ đóng tiền phí dịch vụ vào cuối mỗi mùa vụ do HTX quy định. Các hộ phải

đóng góp kinh phí trên mỗi sào để có chi phí thực hiện sản xuất hàng vụ, hàng năm,

đảm bảo đủ chi phí hoạt động phục vụ sản xuất, khơng tính lãi, mức đóng góp trên mỗi

sào cụ thể như sau:

Dịch vụ chi phí trực tiếp tại HTX như làm mương, khuyến nông, trả công thuỷ

nông… mức thu là 10 kg lúa/sào/vụ (quy ra tiền theo giá lúa hiện tại) đối với ruộng lúa

nước. Trong đó 1 kg trả cho thủy nơng, 1 kg trả cho làm mương nội đồng, 5 kg trả

công khuyến nông, 3 kg dành cho chi phí giao dịch, họp dân và chi phí dự phòng.

Đối với ruộng vụ 10-12 (lúa mùa): thu là để làm đường và công tác khuyến

nông, với mức thu 4 kg lúa/sào/năm.

Đối với rẫy và đất thổ: mức thu 2 kg lúa/ sào/năm.

4.3.2. Tổ chức quản lý thủy lợi của cộng đồng

Quản lý thủy lợi ở An Chấn được tổ chức thông qua HTX. Cộng đồng này có

ban quản lý thủy lợi của riêng họ bởi vì đây là dịch vụ mà hộ cá nhân, gia đình khơng

thể thực hiện được. Nước thủy lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp ở An Chấn được

cung cấp bởi công ty thủy nông Đồng Cam thông qua trạm bơm điện Phú Vang. Công

ty thủy nông Đồng Cam phụ trách việc quản lý, vận hành và sửa chữa kênh chính.

HTX phụ trách quản lý các tuyến kênh cấp 2, kênh cấp 3 và kênh nội đồng. Hàng năm

công ty thủy nông Đồng Cam ký hợp đồng dùng nước với HTX An Chấn để đảm bảo

đáp ứng đủ nhu cầu nước cho sản xuất lúa.



Quản lý thủy lợi ở An Chấn được tổ chức có hệ thống và được sắp xếp theo thứ

tự từ ban quản lý đến tổ thủy nơng ở cấp độ HTX, các đội sản xuất (có 4 đội và 1 tổ)

và nông dân là người sử dụng nước.

Hình 4.4. Sơ Đồ Cơ Cấu Tổ Chức Quản Lý Thủy Lợi ở An Chấn

Sở NN& PTNT Tỉnh Phú Yên



Công Ty TNHH Một Thành Viên Thủy

Nông Đồng Cam



BQL HTX



Tổ Thủy Nông



Đội Sản Xuất



Xã Viên

HTX



Không là xã viên

HTX



Nguồn: Điều Tra và Tổng Hợp.

Ban Quản lý HTX: được chọn bởi các thành viên cộng đồng thông qua đại hội

HTX được tổ chức 5 năm một lần. Để chuẩn bị cho đại hội HTX, ở mỗi đội sản xuất tổ

chức họp để bầu ra các cá nhân sản xuất giỏi, cá nhân sản xuất tiêu biểu, cá nhân hoàn

thành kế hoạch sản xuất để tham dự đại hội. Theo quy định tại quy chế HTX, ban quản

lý HTX là những người đại diện cho cộng đồng ký hợp đồng cấp nước với công ty

thủy nông Đồng Cam, phối hợp với tổ thủy nông của HTX, đưa ra lịch lấy nước cho

nông dân. Đồng thời lập các kế hoạch sản xuất và dịch vụ cũng như kế hoạch tài chính



hàng năm, giám sát cơng việc và giải quyết các vấn đề khác có liên quan. Ban quản lý

cũng làm nhiệm vụ thu thủy lợi phí (trước năm 2008) và tiền duy tu bảo dưỡng kênh

nội đồng từ nông dân.

Ban quản lý này bao gồm 3 thành viên. Một người đứng đầu (chủ nhiệm HTX)

phụ trách các vấn đề chung, một phó chủ nhiệm phụ trách dịch vụ thủy lợi và một phó

chủ nhiệm phụ trách dịch vụ điện. Tuy nhiên, trên thực tế ở HTX An Chấn một người

có thể đảm nhận nhiều nhiệm vụ khác nhau ngồi nhiệm vụ chính được giao. Hỗ trợ

cho ban quản lý là một kế toán và một thủ quỹ, người chỉ có trách nhiệm liên quan đến

tài chính và khơng tham gia vào cơng tác giám sát dịch vụ thủy lợi. Họ được bổ nhiệm

bởi ban quản lý và được phê duyệt tại đại hội HTX. Tuy nhiên, những người hỗ trợ

này thường không thay đổi trong suốt nhiệm kỳ của ban quản lý.

Tổ thủy nông: gồm 17 người trong đó có một đội trưởng. Tổ thủy nơng hoạt

động dưới sự quản lý của phó chủ nhiệm HTX phụ trách thủy lợi. Những người trong

tổ thủy nông được bầu thông qua cuộc họp mỗi năm hai lần của ban quản lý HTX. Tổ

thủy nơng có trách nhiệm lấy nước vào ruộng cho bà con nông dân, nạo vét kênh

mương, tu sửa kênh nội đồng. Lương của cán bộ thủy nơng trung bình từ 20.000 đến

25.000 đ/ngày. Trước lúc bắt đầu mỗi mùa vụ, HTX giao khoán cho tổ thủy nông phải

làm các công việc như nạo vét kênh mương, tu sửa kênh nội đồng với mức giao khốn

tính bằng thóc quy ra tiền với giá thóc ở thời điểm hiện tại, mức trả của HTX là

1 kg/sào/người/vụ.

Theo ông Huỳnh Nghĩ, một cán bộ thủy nông ở An Chấn, mức trả khoán như

vậy là quá thấp so với thu nhập của các ngành khác. Tại sao với mức thu nhập thấp

như vậy nhưng họ vẫn chấp nhận làm? Theo ơng Nghĩ cho biết bởi vì đây là công việc

làm phụ lúc họ rãnh. Vụ Đông Xuân vừa rồi 3 tháng ông đi lấy nước, nạo vét kênh

mương khoảng 2 tháng, với mức thu nhập quy thóc là 250 kg thóc. Cơng việc thì cũng

rất thoải mái,vào mùa lấy nước, trong ngày ơng rãnh lúc nào thì đi lấy nước lúc đó chứ

khơng bị ràng buộc về thời gian. Nếu ơng khơng làm thì sẽ có người khác làm, khi đó

ơng sẽ bị mất khoảng thu nhập này.



Các đội sản xuất: ban quản lý HTX tổ chức nông dân thành các đội sản xuất.

HTX nông nghiêp An Chấn có 4 đội và 1 tổ sản xuất (do số lượng ít khơng đủ thành

lập đội). Trung bình mỗi đội có trên 200 hộ.

Bảng 4.4. Thống Kê Các Đội Sản Xuất

Đội Sản Xuất



Số hộ



Tỷ Lệ



Đội 1



180



15,80 %



Đội 2



320



28,07 %



Đội 3



350



30,70 %



Đội 4



270



23,68 %



Tổ 4



20



1,75 %



Tổng



1140



100 %



Nguồn: HTX Nông Nghiệp An Chấn.

Một đội sản xuất bao gồm các thành viên là xã viên HTX và cả các thành viên

không phải là xã viên HTX, thường là trong một thôn. Nông dân trong một đội sản

xuất sẽ lựa chọn đội trưởng đội sản xuất của họ thông qua cuộc họp trước kỳ đại hội

HTX. Nông dân trong các đội sản xuất không liên quan trực tiếp đến các hoạt động

duy tu và bảo dưỡng kênh mương cũng như việc lấy nước vào ruộng. Cơng việc đó là

của thủy nơng. Họ tham dự các cuộc họp nhóm để đóng góp ý kiến về chất lượng của

dịch vụ mà HTX cung cấp và trả phí cho dịch vụ này.

Hoạt động của ban quản lý HTX phải chịu sự giám sát của cơ quan Nhà Nước

mà ở đây là chính quyền xã. Hàng năm HTX phải báo cáo tình hình hoạt động sản

xuất kinh doanh và kế hoạch sản xuất kinh doanh năm tiếp theo cho UBND xã. Thứ

nhất, để chính quyền xã xem xét việc điều khiển và giám sát các hoạt động của ban

quản lý HTX có tuân thủ theo hướng dẫn và kế hoạch hàng năm của Nhà Nước hay

không. Thứ hai, tiêu chuẩn và đề cử lựa chọn thành viên ban quản lý HTX cũng phải

được giới thiệu bởi UBND Xã.



4.4. Đánh giá hiệu quả quản lý thủy lợi theo phương pháp cộng đồng

4.4.1. Cấp độ HTX

a) Thu phí dịch vụ

Một trong những thất bại của quản lý thủy lợi trước đây là thâm hụt ngân sách,

mức thu không đáp ứng đủ tất cả các khoảng chi tiêu. Điều này cho thấy rằng việc thu

thủy lợi phí là rất quan trọng trong công tác quản lý thủy lợi. Trước năm 2008, tiền

thủy lợi phí theo quy định của Nhà Nước là 32.500 đ/sào/vụ (650.000 đ/ha/vụ ). Nếu

Nhà Nước điều chỉnh giảm hoặc tăng thì HTX sẽ điều chỉnh theo thực tế của từng thời

điểm. Từ năm 2008, chính phủ đã ra quy định miễn thủy lợi phí nên nơng dân chỉ đóng

các khoản phí cho việc nạo vét, duy tu bảo dưỡng kênh nội đồng và trả công thủy nông.

Trong năm 2009, HTX đã thu dịch vụ sản xuất mỗi sào với tổng mức thu là

132.000.000 đồng và nhận đền bù kênh mương đồng Giữa từ dự án Hoa Cây Kiểng.

Nhà Nước trả phần kinh phí HTX bỏ ra xây dựng với số tiền 214.216.000 đồng.

Công tác tổ chức triển khai thu nợ của HTX được tiến hành bằng cách phân

công cán bộ phụ trách địa bàn thôn phối hợp triển khai vận động cùng các ban ngành

trong các cuộc họp đồn thể, mit tinh vận động cơng tác thu nợ. Thông báo trên đài

truyền thanh, gửi giấy mời, giấy báo thu nợ theo lịch thời gian quy định chung của

HTX. Khi hết lịch thời gian quy định chung, hộ nào khơng thanh tốn HTX áp dụng

biện pháp cắt điện, ngừng cung cấp dịch vụ điện để thu tất cả các loại nợ như: nợ sản

xuất, nợ đầu tư vốn, nợ tiền điện…theo nghị quyết đại hội Đại Biểu Xã Viên HTX

ngày 16/10/2007(nhiệm kỳ 2007-2012). Điều này có thể giải thích tại sao mức thu phí

ở HTX An Chấn là khá cao. Theo thống kê HTX, tỷ lệ thu phí trung bình là 95% - 97%.



b) Chi tiêu

Năm 2009, kế hoạch của HTX vừa mở mương và làm đường đi nội đồng tuyến

mương từ lù tự do đến Bầu Sen nhưng không thực hiện được. Lý do mưa ngập kéo dài

không có thời gian để thi cơng, khi làm được đã đến vụ sản xuất. Đồng thời HTX cũng



không thực hiện được chương trình bê tơng hóa kênh mương nội đồng theo phương

châm Nhà Nước và nhân dân cùng làm. Lý do chưa được Nhà Nước đầu tư vốn. Công

tác khắc phục, nạo vét, sửa chữa mương rút, đập giữ nước do thời tiết mưa lũ kéo dài

khơng có thời gian nên không thực hiện được.

Về thủy lợi, năm 2009 HTX và trạm bơm có nhiều cố gắng trong cơng tác bơm

tưới phục vụ sản xuất giải quyết kịp thời. Nhất là vụ hè thu năm 2009, thời kì lúa trổ bị

nắng hạn, giải quyết bơm tưới chống hạn kịp thời đồng Mốc và đồng Gò Đổ khơng để

diện tích nào bị hư, mất trắng.

Bảng 4.5. Chi Tiêu Cho Nông Nghiệp của HTX An Chấn năm 2009.

Chỉ tiêu



Số tiền (đồng)



Tỷ Lệ %



a) Tổng thu



346.216.000



b) Tổng chi



74.801.423



100%



Trả công thủy nông và giữ đập



51.430.800



68,76%



Nạo vét mương tưới, tiêu



1.580.000



2,11%



Lương đội trưởng đội sản xuất



15.000.000



20,05%



Chi phí khác



6.370.623



8.52%



c) Cân đối thu chi



271.414.577

Nguồn: HTX Nơng Nghiệp An Chấn.



Năm 2009, tổng thu từ sản xuất nông nghiệp là 132.00.000 đồng và HTX đã

nhận được tiền đền bù với số tiền 214.216.000 đồng. Mức chi trong năm 2009 chủ yếu

là tiền lương cho cán bộ.Các kế hoạch chi cho xây dựng, tu bổ kênh nội đồng của

HTX đều không thực hiện đựợc nên chênh lệch giữa kế hoạch chi tiêu đề ra và khoảng

chi thực tế là khá xa. Điều này cũng là một hạn chế lớn của HTX trong việc thực hiện

kế hoạch hoạt động đã đề ra. Số tiền chưa chi được cho xây dựng kênh mương năm

2009 sẽ được tiến hành thực hiện trong năm 2010.

4.4.2. Cấp độ nông hộ

a) Thực hiện lấy nước vào ruộng



Việc lấy nước vào chân ruộng là công việc của đội ngũ thủy nông của HTX.

Tuy nhiên theo phản ánh của hầu hết các hộ nông dân qua cuộc điều tra cho thấy việc

thực hiện lấy nước còn nhiều hạn chế, các thủy nông viên chưa thực hiện tốt nhiệm vụ

phân phối, điều tiết nước của mình. Đây chính là ngun nhân quan trọng làm thất

thoát nước và thiếu nước ở cuối kênh. Nguyên nhân là do phần lớn nhân viên thủy

nơng thường là những người nơng dân lớn tuổi, trình độ còn thấp, khơng được đào tạo

về nghiệp vụ mà chủ yếu dựa vào kinh nghiệm. Mức lương họ nhận được còn rất thấp

cho nên họ khơng tồn tâm tồn ý vào nhiệm vụ của mình. Họ chính là những người

chịu trách nhiệm lấy nước vào ruộng cho nông dân, nhưng theo thơng tin có được từ

cuộc điều tra thì phần lớn nông dân phải tự lấy nước vào ruộng khi nhân viên thủy

nông không lấy đủ nước cho ruộng của họ hay có khi nơng dân hồn tồn tự lấy nước

cho ruộng mình.

Hình 4.5. Kết Quả Điều Tra về Thực Hiện Việc Lấy Nước Vào Ruộng



Nguồn: Điều Tra và Tổng Hợp.

Thường trong vụ Hè Thu, do thời tiết nắng nóng và nhu cầu nước tưới cao hơn

so với vụ Đông Xuân nên nên phần lớn bà con nông dân hoặc hỗ trợ nhân viên thủy

nơng lấy nước hoặc hồn tồn tự lấy nước cho ruộng mình. Nơng dân tự đi xả trổ cho

nước chảy tràn vào ruộng của mình, còn tại các cửa lù chính từ kênh cấp 1 chảy vào

kênh mương nội đồng thì hồn tồn do tổ thủy nơng phụ trách nơng dân khơng được

tham gia. Chính vì phần lớn nơng dân tham gia việc lấy nước từ kênh nội đồng vào



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×