Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã

hội của đất nước (Luật HTX, 2003).

Ban quản lý: Các thành viên của Hội người dùng nước bầu ra một ban quản lý.

Ban quản lý có trách nhiệm quản lý tồn bộ các hoạt động của Hội. Các thành viên của

ban quản lý được bầu ra với nhiệm kỳ dài hơn so với nhiệm kỳ của các tổ thủy nơng

(thường ít nhất là 2 năm).

Tổ thủy nơng: Mỗi nhóm dùng nước sẽ bầu ra một tổ thủy nông để quản lý và

duy trì các con kênh nằm trong hệ thống thủy nơng của họ. Mỗi nhóm dùng nước sẽ

quyết định số người của tổ thủy nông. Các thành viên của tổ thủy nông được bầu theo

thời hạn một hoặc hai năm.

Hội người dùng nước: Nơng dân có ruộng nằm trong diện tích được tưới thuộc

một khu vực nhất định hình thành nên Hội người dùng nước. Hội người dùng nước

bao gồm nhiều nhóm dùng nước.

Nhóm dùng nước: Diện tích được tưới nước được chia thành những vùng nhỏ

hơn, mỗi vùng nhỏ đó cũng được tưới nước bằng các kênh cấp 2 hoặc cấp 3. Tất cả

những nơng dân có ruộng nằm trong một vùng nhỏ đó trở thành thành viên của một

nhóm dùng nước.



Hình 3.1. Sơ Họa Mơ Hình Hội Người Dùng Nước và Nhóm Dùng Nước

Kênh cấp 2



TRẠM BƠM



N2



Kênh cấp 1



N1



Kênh cấp 3

N1-1



Kênh cấp 3

N1-2



NDN 1



NDN 2

Kênh cấp 3

N1-3

NDN 3



Nguồn: Trần Phương Diễm et al.

Kênh N1 có thể thành lập một tổ chức Hội người dùng nước.

Hội người dùng nước của kênh N1 sẽ gồm 3 Nhóm dùng nước đó là:

NDN1: Gồm các hộ lấy nước tưới trên kênh cấp 3 N1-1.

NDN2: Gồm các hộ lấy nước tưới trên kênh cấp 3 N1-2.

NDN3: Gồm các hộ lấy nước tưới trên kênh cấp 3 N1-3.

b) Quản lý hệ thống thủy nông

Thủy lợi: Thủy lợi là việc sử dụng nước để tưới cho các vùng đất khô nhằm hỗ

trợ cho cây trồng phát triển hoặc cung cấp nước tưới cho cây trồng vào những thời

điểm có lượng mưa khơng đủ cung cấp. Ngồi ra, thủy lợi còn có tác dụng bảo vệ thực

vật tránh được sương giá, khống chế cỏ dại phát triển trên các cánh đồng lúa và giúp

chống lại sự cố kết đất. Thủy lợi thường được nghiên cứu cùng với hệ thống tiêu thốt

nước, hệ thống này có thể là tự nhiên hay nhân tạo để thoát nước mặt hoặc nước dưới

đất của một khu vực cụ thể (theo Wikipedia).



Theo Pháp Lệnh Khai Thác và Bảo Vệ Cơng Trình Thủy Lợi (2001), một số

khái niệm được hiểu như sau :

Cơng trình thủy lợi: Là cơng trình thuộc kết cấu hạ tầng nhằm khai thác mặt lợi

của nước; phòng, chống tác hại do nước gây ra, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh

thái, bao gồm: hồ chứa nước, đập, cống, trạm bơm, giếng, đường ống dẫn nước, kênh,

cơng trình trên kênh và bờ bao các loại.

Hệ thống cơng trình thủy lợi: Bao gồm các cơng trình thuỷ lợi có liên quan

trực tiếp với nhau về mặt khai thác và bảo vệ trong một khu vực nhất định .

Thủy lợi phí: Là phí dịch vụ về nước thu từ tổ chức, cá nhân sử dụng nước hoặc

làm dịch vụ từ cơng trình thủy lợi cho mục đích sản xuất nơng nghiệp để góp phần chi phí

cho việc quản lý, duy tu, bảo dưỡng và bảo vệ cơng trình thuỷ lợi.

Tiền nước: Là giá tiền trong hợp đồng dịch vụ về nước thu từ tổ chức, hộ gia

đình, cá nhân sử dụng nước hoặc làm dịch vụ từ cơng trình thủy lợi ngồi mục đích

sản xuất nơng nghiệp.

Cơng trình đầu mối: Là cửa lấy nước từ nguồn cung cấp nước vào hệ thống

hoặc tiêu nước từ hệ thống ra khu nhận nước tiêu. Cơng trình đầu mối có nhiệm vụ

phối hợp một cách hợp lý nhất yêu cầu cấp thoát nước của hệ thống với nguồn nước.

Tùy theo từng trường hợp cụ thể để quyết định các hình thức, quy mơ cơng trình.

Đập: Là cơng trình chắn ngang sơng làm dâng cao mực nước phía trước tạo

thành hồ chứa. Vật liệu làm đập là bê tông, bê tông cốt thép, gỗ, đá, đất và được gọi

tương ứng là đập bê tông, đập bê tông cốt thép, đập gỗ, đập đá, đập đất. Loại đập được

sử dụng rộng rãi là đập vật liệu tại chỗ và đập bê tông. Đập vật liệu tại chỗ được xây

dựng bằng các loại đất như đất thịt, đất sét, đất thịt pha cát, đá hay hỗn hợp đất đá.

Cống lấy nước: Cống lấy nước là công trình để lấy nước từ hồ chứa, đập dâng

hay từ sông suối vào hệ thống kênh mương. Tùy thuộc vào nhu cầu sản xuất và nhu

cầu tưới từng đợt tưới mà điều tiết lượng nước qua cống cho phù hợp.



Kênh: Là một dòng sơng nhân tạo được đào, đắp hoặc nửa đào nửa đắp hay xây

mà thành. Mặt cắt ngang của kênh thường có dạng hình thang, đơi khi là hình chữ nhật

hay nửa tròn, có nhiệm vụ dẫn nước từ cơng trình đầu mối về ruộng.

Các cơng trình trên kênh: Gồm có cống đầu kênh, bậc nước, dốc nước, tràn

bên, cống qua đường, cầu giao thông...

Hệ thống bờ bao: Là loại hệ thống cơng trình nhỏ có tác dụng quan trọng trong

việc ngăn nước, giữ nước, giữ màu. Gồm có các loại: i) Bờ vùng: là bờ ven theo

mương cấp 2 hoặc cấp 3 có tác dụng ngăn nước ngoại lai, nước từ khu đồng cao dồn

xuống khu đồng thấp; ii) Bờ khoảnh: là bờ ven theo mương cấp 3 hoặc cấp 4 có tác

dụng điều chỉnh nước mưa tại chỗ trong vùng và iii) Bờ thửa: là hệ thống bờ ven theo

rãnh tưới có tác dụng giữ nước màu và làm đường đi lại khi chăm bón.

3.1.2. Mơ hình quản lý thủy lợi có sự tham gia của cộng đồng

Hiện nay, việc quản lý tưới tiêu ở Việt Nam dần giảm bớt vai trò chủ chốt của

nhà nước và vai trò của người sử dụng nước ngày càng tăng. Các đánh giá gần đây đã

xác định có 3 mơ hình PIM. Mơ hình đầu tiên là nhà nước và tổ chức nơng dân cùng

quản lý; mơ hình thứ hai là chia sẻ quản lý giữa một tổ chức có liên quan đến nhà nước

(bán nhà nước) và tổ chức nơng dân và mơ hình thứ ba là tổ chức cộng đồng tự quản

lý. Chương trình quản lý tưới có sự tham gia là mơ hình đa dạng, nhưng nguyên tắc cơ

bản của nó là đảm bảo sự tham gia của nông dân. Đánh giá sự tham gia của nông dân

theo Peter, 2004 cho rằng việc tham gia của nông dân trong quản lý thủy lợi cộng đồng

là ở tất cả các khía cạnh từ quy hoạch, làm quyết định, vận hành, bảo trì, đóng góp tài

chính và giám sát công việc. Cụ thể như sau:

Giai đoạn quy hoạch: Bằng những kinh nghiệm của mình, người nơng dân có

thể tham gia ngay từ lúc bắt đầu làm quy hoạch. Họ có thể đóng góp ý kiến trong việc

xác định vị trí cơng trình (làm ở đâu? Chỗ này hay chỗ kia?..) hoặc đóng góp ý kiến

trong việc xác định hình thức cơng trình ( nên làm cống hay làm đập…).



Giai đoạn khảo sát: Người nơng dân có thể phát biểu quan điểm, suy nghĩ của

mình khi thảo luận về các vấn đề như: Qui mơ cơng trình, lập kế hoạch di chuyển dân,

đặc diểm địa hình, địa chất tại vị trí cơng trình (xói lở, lũ qt, bồi lắng…).

Giai đoạn thiết kế: Tham gia xác định vị trí cơng trình đầu mối, tuyến đi của

kênh mương (tránh vùng trũng, vùng hay sạt lở, vùng cấm theo tục lệ của địa

phương…).

Giai đoạn thi cơng: Họ có thể đóng góp ngày cơng lao động, đóng góp vật liệu

địa phương (cát, sỏi, tre, gỗ…), tham gia giám sát thi cơng cơng trình.

Giai đoạn quản lý: Để cùng nhau quản lý có hiệu quả những người nông dân

thành lập các tổ chức như Hội người dùng nước hay Nhóm dùng nước có cùng mục

đích trong việc sử dụng nguồn nước, như nhóm dùng nước để chạy máy phát điện,

nhóm dùng nước để sinh hoạt, nhóm dùng nước để tưới lúa, tưới màu,…hoặc những

người nông dân cùng sử dụng một đoạn kênh mương cũng có thể làm thành một nhóm,

…Trong cùng một nhóm người nơng dân có thể bàn về những vấn đề như:

- Tham gia chia sẻ lợi ích có được từ cơng trình, đó là nguồn nước tưới ( đóng

góp ý kiến vào việc phân chia nước tưới).

- Tham gia quản lý, bảo dưỡng cơng trình bằng sức lao động của mình, bằng

tiền vốn thơng qua việc đóng góp thủy lợi phí.

- Tham gia tu bổ, nâng cấp, bảo vệ cơng trình.

- Cùng nhau đóng góp thủy lợi phí đầy đủ và đúng thời gian.

Ưu điểm của Hội người dùng nước: i) Người nơng dân được tổ chức theo

nhóm sẽ làm tăng tính cộng đồng trong vùng dự án; ii) Nơng dân được tham gia ngay

từ đầu và quyết định các hoạt động cần thiết có liên quan đến dự án của họ; iii) Nông

dân tự xây dựng nên mức thủy lợi phí và thảo luận các vấn đề liên quan đến chi thủy

lợi phí; iv) Nơng dân thực sự được làm chủ nên có ý thức bảo vệ tốt cơng trình thủy lợi

và v) Tính bền vững của cơng trình sẽ cao hơn (Trần Phương Diễm et al, 2001).



Kinh nghiệm quản lý nước ở Việt Nam đã ghi nhận và đánh giá cao vai trò quan

trọng của cộng đồng địa phương với tư cách vừa là người trực tiếp sử dụng đồng thời

vừa là người quản lý và bảo vệ tài nguyên nước. Quản lý cộng đồng tài nguyên nước

còn giúp cộng đồng sử dụng nước tự chủ về tài chính, có nguồn vốn để tự xây dựng và

tu bổ hệ thống cung cấp nước phục vụ cho hoạt động sản xuất của mình. Đồng thời

giúp Nhà Nước tiết kiệm được một phần ngân sách không nhỏ chi tiêu cho lĩnh vực

cấp nước, góp phần giải quyết được vấn đề thiếu vốn và giúp xử lý các sự cố về hệ

thống cấp nước linh hoạt và kịp thời. Một vấn đề quan trọng mà quản lý cộng đồng

mang lại đó là giúp người dân nhận thức được sự khan hiếm của nguồn nước và trách

nhiệm của mình đối với nguồn nước. Từ đó làm thay đổi nhận thức và hành vi sử dụng

nước của người dân nhằm sử dụng có hiệu quả và bền vững nguồn nước. Do đó, quản

lý bởi cộng đồng đã được giới thiệu và áp dụng ở những vùng theo những cách khác

nhau trong lĩnh vực cấp nước sinh hoạt và thủy lợi (Nguyễn Việt Dũng và Nguyễn

Danh Tĩnh, 2008).

3.2. Phương pháp nghiên cứu

3.2.1. Tiến trình thực hiện nghiên cứu

Nghiên cứu tập trung vào điều tra cách thức cộng đồng tổ chức và quản lý hệ

thống thủy lợi, đặc diểm hệ thống thủy lợi ở địa phương và đánh giá kết quả quản lý

thủy lợi của cộng đồng. Để hiểu rõ cộng đồng được tổ chức như thế nào và tại sao họ

lại nhận thức tổ chức như vậy thì việc lựa chọn phương pháp tiếp cận thích hợp là

quan trọng nhất để có được kết quả chính xác. Tiếp theo đó, nghiên cứu tập trung đi

sâu vào phỏng vấn các hộ nông dân sản xuất lúa tại địa phương để có cái nhìn tồn

diện, sâu sắc và thực tế hơn về vấn đề. Trong quá trình thực hiện đề tài, giai đoạn thu

thập thông tin bao gồm:

Khảo sát trước vùng nghiên cứu: Sau khi phát triển ý tưởng để làm nghiên cứu

về quản lý thủy lợi theo phương pháp cộng đồng tại An Chấn, việc khảo sát trước địa

điểm nghiên cứu là rất cần thiết. Thứ nhất, nó nhằm cung cấp cho nhà nghiên cứu có

cái nhìn tổng quan về địa bàn nghiên cứu, từ đó có những điều chỉnh cần thiết để lấp



đầy khoảng cách giữa các ý tưởng về lý thuyết và thực tế. Ở giai đoạn này một số dữ

liệu thứ cấp cũng đã được thu thập.

Khảo sát chính: Đây là giai đoạn chính của nghiên cứu để thu thập các dữ liệu

cần thiết có liên quan. Trong giai đoạn này, tất cả dữ liệu phục vụ nghiên cứu đã được

thu thập thông qua các phương pháp nghiên cứu. Một sự nhấn mạnh ở giai đoạn này là

khảo sát thực hiện việc xem xét sự khác nhau giữa các nhóm dùng nước, bao gồm cả

những nhóm nơng dân ở vùng gần kênh chính và những nông dân ở cuối nguồn. Điều

này giúp nhà nghiên cứu có cái nhìn tồn diện về các vấn đề.

Hoàn thành: Giai đoạn hoàn thành được thực hiện với mục đích điền vào các

dữ liệu còn thiếu sau khi nhà nghiên cứu tổng hợp dữ liệu thu thập được trong giai

đoạn khảo sát. Vào cuối giai đoạn này, kết quả từ các cuộc khảo sát đã được trình bày

để có được những thơng tin phản hồi từ địa phương.

3.2.2. Lựa chọn vùng nghiên cứu

Nghiên cứu đã chọn xã An Chấn thuộc huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên làm địa bàn

nghiên cứu. Đây là một trong những vùng cuối nguồn được hưởng lợi từ hệ thống thủy

nông Đồng Cam, trong đó các kênh cấp 2, cấp 3 và kênh nội đồng đã được chuyển

giao cho các thành viên HTX để quản lý.

3.2.3. Phương pháp thu thập số liệu

a) Số liệu thứ cấp

Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các nghiên cứu có liên quan trước đó, các bài báo

cáo, nghiên cứu của các chuyên gia về PIM, từ mạng internet, từ UBND và HTX nông

nghiệp xã An Chấn. Dữ liệu này bao gồm:

- Các đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội của xã.

- Đặc điểm về các cơng trình thủy lợi phục vụ nơng nghiệp của tỉnh Phú Yên, công

tác tổ chức thủy lợi, đặc điểm nguồn tài nguyên nước, và nhu cầu cung cấp nước trong

mùa khô...



- Cách thức tổ chức quản lý thủy lợi của HTX nông nghiệp An Chấn và đặc điểm

hệ thống thủy lợi ở địa phương.

b) Số liệu sơ cấp

Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp dựa trên bảng câu hỏi

được soạn sẵn. Đối tượng được điều tra là các hộ gia đình tại xã An Chấn, huyện Tuy An

có sử dụng nước từ hệ thống thủy lợi của địa phương cho việc tưới tiêu. Để thấy được sự

khác nhau giữa các xứ đồng về vấn đề thủy lợi, đề tài tiến hành điều tra 60 hộ, thực

hiện bằng phương pháp chọn mẫu phân tổ. Trong đó có 20 hộ ở đồng Mốc là xứ đồng

vừa cao lại vừa cuối tuyến nên thường bị thiếu nước, 20 hộ ở đồng Bầu Sen, là xứ

đồng nằm ở vùng trũng thường hay xảy ra ngập úng, 20 hộ ở đồng Gò Đổ là xứ đồng

mà kênh nội đồng đã được bê tơng hóa. Cách lấy mẫu như vậy để có sự so sánh giữa

xứ đồng đã bê tơng hóa kênh mương và xứ đồng chưa thực hiện bê tơng hóa kênh

mương.

3.2.4. Phương pháp phân tích

Thực hiện nghiên cứu về cải thiện quản lý thủy lợi ở Việt Nam, Hector

M.Malano và cộng sự đã đánh giá hiệu quả quản lý thủy lợi trên 3 mặt: cấp độ HTX;

cấp độ nông hộ và sức sản xuất của tài nguyên nước, đề tài đã sử dụng phương pháp

này để đánh giá hiệu quả quản lý thủy lợi theo phương pháp cộng đồng ở An Chấn.

Cấp độ HTX : Đề tài sử dụng chỉ tiêu thu chi tài chính để đánh giá. Điều này có

thể được đánh giá bằng cách nhìn mức chi phí cho đầu tư vào việc duy tu, đổi mới cơ

sở hạ tầng của kênh mương nội đồng, hoặc thời gian sử dụng của tài sản và mức giá

dịch vụ nước mà HTX cung cấp cho nông dân.

Cấp độ nơng hộ : Đề tài phân tích, tổng hợp những đánh giá của nông dân về các

mặt : thực hiện việc lấy nước vào ruộng, mức thu tiền nước và kênh mương nội đồng và

mức độ tham gia của nông dân vào công tác quản lý hệ thống thủy lợi.

Sức sản xuất của tài nguyên nước : Đề tài sử dụng mơ hình hồi quy để cho thấy

mối quan hệ giữa năng suất lúa và yếu tố thủy lợi, cụ thể là để xem xét vị trí ruộng ở



vùng đầu kênh, cuối kênh và điều kiện kênh mương bê tông nội đồng có ảnh hưởng đến

năng suất lúa hay khơng.

Khóa luận đã sử dụng mơ hình hàm năng suất dạng Cobb-Douglas để phân tích

mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào và năng suất cây lúa trên một đơn vị diện tích là 1

sào (500 m2) của vụ Hè Thu năm 2009. Mơ hình xác định dưới dạng Cobb-Douglas

như sau:

o























NSUAT=e *GIONG *LDONG *PHAN *THUOC *KCACH *e



DKNONG



t



*eDHANGDAT*e8DBETONG *e .



Chuyển sang dạng log – log :

LnNSUAT = o + 1*LnGIONG + 2*LnLDONG + 3*LnPHAN + 4*LnTHUOC

+ 5 *LnKCACH + 6*DKNONG + 7*DHANGDAT + 8*DBETONG + t .



Bảng 3.1. Giải Thích Biến và Kỳ Vọng Dấu

STT

dấu



Tên biến



Giải thích



Kỳ vọng



1



NSUAT



Năng suất cây trồng (kg/sào).



2



GIONG



Chi phí giống (đồng/sào).



+



3



LDONG



Chi phí cơng lao động (đồng/sào).



+



4



PHAN



Chi phí phân bón (đồng/sào).



+ /-



5



THUOC



Chi phí thuốc BVTV.



+/-



6



KCACH



Khoảng cách từ ruộng đến kênh chính (m).



-



7



DKNONG



Biến giả tham gia khuyến nơng.



+



8



DHANGDAT



Biến giả hạng đất của ruộng.



+



9



DBETONG



Biến giả kênh nội đồng được bê tơng hóa.



+



Cơ sở lựa chọn biến và giải thích kỳ vọng dấu:

GIONG: Nếu mua giống tốt thì chi phí giống sẽ tăng, giống tốt thì năng suất cao

nên ta kỳ vọng dấu (+).

LDONG: Cơng chăm sóc nhiều thì năng suất sẽ cao, kỳ vọng dấu (+).

PHAN: Cây trồng được bón phân sẽ có năng suất cao, tuy nhiên nêu bón quá

nhiều phân năng suất cây sẽ giảm, kỳ vọng dấu có thể (+) hoặc (-).

THUOC: Thuốc BVTV giúp nhà nơng phòng chống được các loại sâu, bệnh gây

hại cho lúa. Sử dụng thuốc BVTV ở mức thích hợp sẽ làm tăng năng suất lúa nhưng

nếu sử dụng quá liều lượng sẽ làm giảm năng suất, cho nên biến này kỳ vọng có thể

mang dấu (+) hoặc (-).

KCACH: Ruộng càng xa kênh dẫn nuớc chính thì khả năng đảm bảo được cung

cấp đủ nước sẽ thấp đi, năng suất cây trồng sẽ không cao như vùng đầu nguồn. Nên ta

kỳ vọng mang dấu (-).

DKNONG: = 1: Có tham gia khuyến nơng.

= 0: Không tham gia khuyến nông.

Đây là biến giả, nông dân có tham gia cơng tác khuyến nơng thì khả năng tiếp

thu nhiều kiến thức mới được nhiều hơn năng suất sẽ cao hơn, ta kỳ vọng dấu (+).

DHANGDAT: = 1: Đất hạng 2.

= 0: Đất hạng 3, 4.

Đất ruộng ở An Chấn có ba hạng là hạng 2, 3 và 4. Đất hạng 2 là hạng tốt, hạng 3

và 4 xấu hơn nên kỳ vọng dấu (+).



DBETONG: = 1: Kênh nội đồng đã được bê tơng hóa.

= 0: Kênh nội đồng chưa được bê tơng hóa.

Kênh nội đồng đã được bê tơng hóa giúp cho nước được lưu thơng dễ dàng, làm

giảm tình trạng thất thốt nước, hiệu quả sử dụng nước tăng lên, năng suất lúa sẽ tăng

nên ta kỳ vọng dấu (+).

Số liệu thu thập được sẽ được nhập và xử lý bằng phần mềm Excel. Dùng phần

mềm Eviews 3.0 để ước lượng mơ hình và kiểm định độ tin cậy của mơ hình.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×