Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phụ lục 10. Một Số Hình Ảnh về Kênh Mương Nội Đồng ở An Chấn

Phụ lục 10. Một Số Hình Ảnh về Kênh Mương Nội Đồng ở An Chấn

Tải bản đầy đủ - 0trang

CHƯƠNG 1

MỞ ĐẦU



1.1. Đặt vấn đề

Nước là một tài nguyên vô cùng quan trọng gắn liền với mọi hoạt động của con

người trong đời sống cũng như hoạt động sản xuất. Sớm nhận thức được tầm quan

trọng của nguồn nước như vậy nên từ xa xưa người dân đã biết đắp đập, đào kênh, xây

dựng những cơng trình thủy lợi để cung cấp nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp.

Theo đánh giá gần đây, tổng giá trị của các công trình thủy lợi hiện có ở nước ta ước

khoảng 100.000 tỷ đồng (Phạm Xuân Sử, 2006). Đây là tài sản lớn của quốc gia, thể

hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà Nước ta đối với công tác thủy lợi. Các cơng trình

này đã có những đóng góp đáng kể trong việc thâm canh cao, phát triển nông nghiệp

bền vững, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, tăng lượng nông sản xuất khẩu, cải

thiện môi trường, tạo bộ mặt mới cho nông thôn nước ta. Tuy nhiên, trong những năm

gần đây, nền nông nghiệp nước ta luôn phải đối mặt với thực trạng thiếu nước, đặc

biệt là ở miền Trung và Tây Nguyên luôn xảy ra hạn hán kéo dài vào mùa khơ. Hàng

loạt hecta trồng mía ở dun hải miền Trung bị mất trắng vì thiếu nước, hàng trăm

hecta cà phê ở Tây Nguyên phải chết đứng vì khô hạn, hàng loạt gia súc gia cầm ở

Ninh Thuận, Bình Thuận phải chịu chết khát vì khơng đủ nước (Ngơ Cơng Đính,

2007). Chính vì vậy, vấn đề nước cho sản xuất nông nghiệp ở nước ta là một bài toán

cấp bách cần sớm được giải quyết.

Nền kinh tế của nước ta chủ yếu là nông nghiệp lại thường xuyên bị thiên tai đe

dọa, cho nên công tác thủy lợi được xác định là vô cùng quan trọng, là biện pháp hàng

đầu để phát triển sản xuất nông nghiệp. Bởi thế việc sử dụng nước như thế nào cho có

hiệu quả và vấn đề quản lý tài nguyên nước ra sao là nội dung cần được quan tâm.

Tình trạng khan hiếm nước một phần cũng do con người chưa có kiến thức đầy đủ về



việc sử dụng nguồn tài nguyên nước. Để hiểu biết đầy đủ về tài nguyên nước và có

phương thức sử dụng một cách hợp lý, hiệu quả nhất phải có nhận thức đầy đủ về tài

nguyên nước cũng như hiểu biết thực trạng sử dụng nước. Vì vậy đòi hỏi phải có sự

tham gia của cộng đồng trong việc quản lý nguồn tài nguyên này.

Việt Nam đã có lịch sử lâu đời về sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài

nguyên nước ở nhiều nơi trong cả nước, ở cả vùng đồng bằng và vùng cao, thể hiện

dưới nhiều mơ hình và cách thức khác nhau, phục vụ cho mục đích lấy nước sinh hoạt

và tưới tiêu đồng ruộng. Các mơ hình truyền thống về quản lý tài nguyên nước dựa

vào cộng đồng thường có ở các vùng nơng thơn miền núi, ở đó tài nguyên nước được

xem như là tài sản chung của cộng đồng. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền

kinh tế thị trường ở Việt Nam, nước dần trở thành một tài nguyên có giá trị kinh tế,

nên trong quá trình sử dụng chúng ta phải coi nước là một loại hàng hóa và làm sao

phát huy tối đa giá trị kinh tế của tài nguyên nước. Đây là một nhận thức mới được con

người khẳng định trong vài thập kỷ gần đây. Trước đây con người sử dụng nước nhưng

chưa hiểu đầy đủ giá trị kinh tế của nước, coi nước như là tài nguyên có thể sử dụng tự

do nhiều khi không phải trả tiền (Chu Thị Thơm et al, 2006).

Các mơ hình tiên tiến về quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng ở Việt

Nam đã ra đời và vận hành tương thích với những thay đổi của nền kinh tế xã hội theo

định hướng thị trường của đất nước. Trong quản lý tưới tiêu, Nhà Nước đã gặp phải

những thất bại chủ yếu có thể kể đến là: thâm hụt ngân sách, sự xuống cấp của kênh

dẫn nước, hệ thống tưới tiêu kém chất lượng, kém hiệu quả, mâu thuẫn về nguồn nước,

…Những thất bại này có nguyên nhân thiên về quản lý hơn là kỹ thuật. Người nông

dân, những người trực tiếp hưởng lợi và sử dụng từ những dịch vụ tưới tiêu thì khơng

hề tham gia vào việc quản lý tưới. Họ xem hệ thống tưới tiêu là tài sản của Nhà Nước

nên khơng có quan niệm bảo vệ và phát triển những hệ thống này. Do đó, họ cũng

khơng sẵn lòng trả tiền cho những dịch vụ hay bảo trì những cơng trình trên. Cách

quản lý mà khơng gắn liền với người nơng dân, với lợi ích nguồn nước là khơng hiệu

quả. Vì vậy để quản lý tốt nguồn nước thì phải nâng cao hiểu biết của nông dân về

quyền và trách nhiệm của họ đối với nguồn nước mà họ đang sử dụng (Cap Thi

Phuong Anh, 2008). Một vài mô hình tiên tiến về quản lý tài nguyên nước dựa vào



cộng đồng đã được dẫn chứng cho quản lý hệ thống thủy lợi, ví dụ đồng quản lý giữa

tổ chức nông dân và cơ quan Nhà Nước, giữa tổ chức nơng dân và tổ chức có liên quan

đến Nhà Nước (như doanh nghiệp), do chính tổ chức nơng dân đứng ra quản lý thơng

qua hình thức Hợp Tác Xã (phổ biến ở miền Bắc và miền Trung) hoặc Hội người dùng

nước (phổ biến ở miền Nam).

Phú yên là là một tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ với 70% diện tích

là đồi núi, địa hình tỉnh thấp dần từ Tây sang Đơng với những dạng địa hình núi, đồi

xen kẽ đồng bằng. Vùng trung du có những cao nguyên rộng, tương đối bằng phẳng rất

thuận lợi cho việc phát triển các cây công nghiệp, chăn nuôi đại gia súc. Vùng đồng

bằng dun hải ven biển ở phía Đơng với những cánh đồng lúa lớn của tỉnh. Phú Yên

là tỉnh có nguồn tài nguyên nước khá dồi dào với các hệ thống Sông Ba, sông Bàn

Thạch, sông Kỳ Lộ,... đảm bảo cung cấp nước tưới cho nông nghiệp nhưng lại phân bổ

khơng đều theo khơng gian và thời gian. Vì vậy công tác thủy lợi ở địa phương là rất

quan trọng để đảm bảo đủ nước tưới tiêu cho nông nghiệp trong mùa khô. Cách tổ

chức quản lý các hệ thống cơng trình thủy lợi như thế nào cho có hiệu quả nhằm khai

thác tối đa hiệu quả kinh tế của nguồn tài nguyên nước nơi đây là vấn đề các nhà quản

lý và nông dân địa phương đang rất quan tâm.

Quản lý thủy lợi theo phương pháp cộng đồng là một mơ hình đang được áp

dụng phổ biến tại các tỉnh miền Trung, để đánh giá và rút ra những kinh nghiệm từ mơ

hình quản lý trên nhằm đề xuất một số giải pháp để sử dụng nguồn tài nguyên này

ngày càng hiệu quả và nâng cao trách nhiệm, quyền lợi của nông dân trong vận hành,

duy tu, bảo dưỡng hệ thống cơng trình thủy lợi, góp phần đẩy mạnh các hoạt động ở cơ

sở sản xuất. Được sự chấp thuận của khoa Kinh Tế trường Đại Học Nông Lâm

TP.HCM và dưới sự hướng dẫn của cô Phan Thị Giác Tâm, tác giả tiến hành nghiên

cứu đề tài “ Đánh Giá Hiệu Quả Quản Lý Thủy Lợi Theo Phương Pháp Cộng Đồng

tại Huyện Tuy An, Tỉnh Phú Yên”.



1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1. Mục tiêu chung

Đề tài nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả quản lý thủy lợi theo phương pháp

cộng đồng tại huyện Tuy An tỉnh Phú Yên.

1.2.2. Mục tiêu cụ thể

- Mô tả đặc điểm hệ thống thủy lợi ở địa phương.

- Mô tả về quản lý thủy lợi theo phương pháp cộng đồng.

- Đánh giá kết quả quản lý thủy lợi theo phương pháp cộng đồng dưới các góc

độ: (a) Hợp tác xã, (b) Nơng hộ, (c) Sức sản xuất của tài nguyên nước.

- Đề xuất một số giải pháp nhằm quản lý và sử tài nguyên nước một cách có

hiệu quả hơn.

1. 3. Phạm vi nghiên cứu

1. 3.1. Phạm vi không gian

Đề tài tiến hành nghiên cứu trên địa bàn huyện Tuy An. Số liệu sơ cấp được

điều tra thông qua chọn mẫu ngẫu nhiên tại xã An Chấn, đây là một trong những vùng

cuối nguồn lấy nước từ hệ thống thủy nông Đồng Cam.

1.3.2. Phạm vi thời gian

Đề tài tiến hành thực hiện trong khoảng thời gian từ 15/03/2010 đến

30/06/2010. Trong đó thời gian từ 15/03/ 2010 đến 07/04/2010 tiến hành thu thập các

thông tin và dữ liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu để hoàn thành đề cương chi

tiết và soạn thảo bảng câu hỏi điều tra, từ 08/04/2010 đến 15/05/2010 thu thập thông

tin và số liệu tại UBND và HTX nông nghiệp xã An Chấn, đồng thời tiến hành điều tra

phỏng vấn trực tiếp 60 hộ nông dân đang sinh sống tại xã An Chấn. Từ 16/05/2010 đến

30/06/2010 tổng hợp, xử lý số liệu và phân tích thơng tin để viết hồn chỉnh đề tài.

.



1.4. Cấu trúc khóa luận

Đề tài nghiên cứu gồm 5 chương. Chương 1: Tác giả trình bày sự cần thiết đề

tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và trình bày tóm tắt cấu trúc của khóa

luận. Chương 2 : Giới thiệu tổng quan về các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên

cứu cũng như tổng quan địa bàn nghiên cứu, trình bày về điều kiện tự nhiên, kinh tếxã hội của huyện Tuy An. Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu, trình bày

các khái niệm, định nghĩa, và phương pháp để tiến hành nghiên cứu. Chương 4: Đây là

chương trình bày các kết quả đạt được của đề tài, bao gồm đặc điểm hệ thống thủy lợi,

tình hình quản lý thủy lợi ở địa phương và kết quả quản lý thủy lợi theo phương pháp

cộng đồng. Chương 5: Tóm lược các kết quả nghiên cứu và đưa ra những kiến nghị

nhằm nâng cao hiệu quả trong quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên nước.



CHƯƠNG 2

TỔNG QUAN



2.1. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu

Tổng quan tài liệu được thực hiện thông qua tiến trình nghiên cứu. Lúc đầu,

việc tổng quan tài liệu là để xác định được những vấn đề đã được đề cập đến hoặc còn

tranh cãi xung quanh vấn đề nghiên cứu về vai trò của cộng đồng trong quản lý thủy

lợi, cách mà các nhà nghiên cứu trước đã chứng minh và những gì đã được kết luận.

Dựa vào phần tổng quan đó, nghiên cứu đã phát triển và đưa ra một khung phân tích

các vấn đề và xác định những dữ liệu cần thiết cần thu thập cho đề tài. Tổng quan tài

liệu cũng được thực hiện trong suốt quá trình thu thập dữ liệu và phân tích cho phù

hợp với vấn đề. Tài liệu được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm các vấn đề đang

còn tranh luận và các nghiên cứu liên quan thảo luận về sự tham gia của cộng đồng

trong quản lý thủy lợi và hiệu quả quản lý thủy lợi trên thế giới và tại Việt Nam.

Việt Nam bắt đầu áp dụng phương pháp quản lý thủy lợi có sự tham gia

(Participatory Irrigation Management-PIM) từ đầu những năm 1990 sau khi Chính phủ

chính thức quyết định chuyển giao quyền sử dụng đất nơng nghiệp cho các hộ gia đình

thơng qua chính sách “Khoán 10”. PIM là một phương pháp hiệu quả cho quản lý tài

nguyên nước có sự tham gia của người dân, bởi vì các cộng đồng hưởng lợi sẽ cùng

tham gia với tư cách là người sử dụng nước, người quản lý và bảo vệ nguồn nước, nhất

là đối với các hệ thống tưới tiêu quy mô nhỏ. Mô hình PIM đã được áp dụng thử

nghiệm ở nhiều tỉnh như Tuyên Quang, Bắc Kạn, Hà Tây, Thanh Hóa, Nghệ An,

Quảng Trị, Quảng Ngãi Và Bình Định. Về mặt thể chế tổ chức, các đánh giá gần đây

đã xác định có 3 mơ hình PIM, bao gồm: 1) mơ hình tổ chức nông dân và Nhà Nước

cùng quản lý; 2) mơ hình chia sẻ quản lý giữa tổ chức nơng dân và một tổ chức có liên

quan đến Nhà Nước (bán Nhà Nước) và 3) mơ hình tổ chức cộng đồng tự quản lý.



Đánh giá này đã khẳng định sự tham gia của nông dân ngày càng tăng trong quá trình

ra quyết định quản lý (Nguyễn Việt Dũng et al, 2002).

Cáp Thị Phương Anh, 2008, đã thực hiện nghiên cứu đánh giá về vai trò của

cộng đồng trong quản lý thủy lợi. Bằng phương pháp định tính tác giả đã tìm hiểu về

cách cộng đồng tham gia trong quản lý thủy lợi ở Tuyên Quang – Việt Nam. Kết quả

nghiên cứu cho thấy quản lý thủy lợi thông qua HTX có thể thu hút người sử dụng

nước trong các hoạt động khác nhau như lập kế hoạch sản xuất, tổ chức hoạt động, bảo

trì hệ thống thủy lợi và giám sát việc thực hiện. Nghiên cứu cũng cho thấy rằng các

hình thức tổ chức quản lý khác nhau sẽ mang lại kết quả khác nhau trong việc phân

phối nước, bảo trì hệ thống và quản lý nguồn tài chính. Ngồi ra, việc thành công

trong quản lý thủy lợi không chỉ phụ thuộc vào sự tham gia của cộng đồng mà còn phụ

thuộc vào nhiều yếu tố khác như hợp tác với Nhà Nước trong lãnh đạo, đối tác tham

gia, đặc điểm của cộng đồng cũng như điều kiện kênh mương bê tông.

Ở bất cứ đâu và bất cứ khi nào sự tham gia của nông dân luôn luôn là cần thiết,

đặt biệt là ở khu vực miền núi. Điều này đã tạo ra sự ổn định và nâng cao hiệu quả của

các hệ thống thủy lợi. Mặc dù vậy nhưng các nhận thức về quản lý thủy lợi và vai trò

của nơng dân trong quản lý thủy lợi vẫn khơng rõ ràng. Khơng có khái niệm chung về

mơ hình quản lý thủy lợi có sự tham gia là gì? Đây là mơ hình đa dạng, nhưng ngun

tắc cơ bản của nó là đảm bảo sự tham gia của nơng dân.(Hà Lương Thuận, 2000).

2.2. Tổng quan địa bàn nghiên cứu

Huyện Tuy An cách thành phố Tuy Hoà khoảng 30 km về phía bắc, dân số

khoảng 127.916 người, có địa hình đa dạng, bao gồm: đồng bằng, miền núi và vùng

biển. Diện tích đất tự nhiên 399,34 km2, trong đó đất nơng nghiệp chiếm 45%, đất đồi

núi chiếm 26,5%, đất lâm nghiệp chiếm 12,6%, còn lại là các loại đất khác. Phát huy

những ưu thế về điều kiện tự nhiên và tiềm năng đất đai, Tuy An tập trung phát triển

kinh tế nơng - lâm - ngư nghiệp, trong đó đặc biệt chú trọng đến chuyển dịch cơ cấu

cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa, nhằm ổn định đời sống nhân dân,

tạo bước đệm quan trọng cho phát triển các ngành kinh tế khác.



Hình 2.1. Bản Đồ Huyện Tuy An



Nguồn: http://khudothimoi.com/images/dulieu/509/ban-do-phu-yen.jpg

2.2.1. Điều kiện tự nhiên

a) Vị trí địa lý

An Chấn là xã đồng bằng ven biển, nằm cuối phía nam huyện Tuy An cách

trung tâm huyện 18km. Có diện tích tự nhiên 1353,08ha, xã có năm thơn, trong đó có

ba thơn nơng nghiệp và hai thơn ngư nghiệp với 2.321 hộ dân.

Vị trí tiếp giáp: Phía Đơng giáp với Biển Đơng, phía Tây giáp xã An Thọ, phía

Nam giáp xã An Phú, phía Bắc giáp với xã An Mỹ.

b) Địa hình và thủy văn

An Chấn là xã đồng bằng ven biển, địa hình tương đối bằng phẳng với địa mạo

chia thành hai khu vực rõ rệt. Ba thôn nông nghiệp là Phú Thạnh, Phú Phong và Phú

Quý nằm ở phía Tây của xã khơng giáp biển, giáp với đường quốc lộ 1A với thế mạnh

phát triển ngành nông nghiệp. Hai thôn ngư nghiệp là Mỹ Quang Nam và Mỹ Quang

Bắc nằm ở phía Đơng của xã giáp bờ biển với thế mạnh phát triển đánh bắt cá và nuôi

trồng thủy hải sản.



Do ảnh hưởng của khí hậu đại dương nên An Chấn có khí hậu ơn hòa. Nhiệt độ

trung bình cao nhất 29,50C; nhiệt độ trung bình thấp nhất 22,50C; nhiệt độ trung bình

là 26,50C. Nhìn tổng quát An Chấn có hai mùa, mùa khơ từ tháng 1 đến tháng 8 dương

lịch và mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 dương lịch.

2.2.2. Điều kiện kinh tế - xã hội

a) Kinh Tế

Nơng nghiệp: Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm trong năm 2009 là 392

ha, trong đó diện tích trồng lúa là 268 ha với năng suất bình quân 43 tạ/ha, sản lượng

1152,6 tấn. Diện tích gieo trồng cây hoa màu khác là 124 ha nhưng giá trị thu bình

qn thấp, có một số diện tích bị thua lỗ do điều kiện thời tiết không thuận lợi và chuột

cắn phá.

Năm 2009 An Chấn đã thực hiện tốt công tác phòng chống dịch và tiêm phòng

định kỳ cho đàn gia súc, gia cầm. Tiêm phòng vacxin lở mồm long móng cho đàn gia

súc đạt 89,3 %. Nhìn chung tình hình dịch bệnh gia súc cơ bản đã được khống chế, đàn

gia súc, gia cầm phát triển ổn định.

Lâm nghiệp: Xã đã thực hiện tốt công tác trồng và bảo vệ rừng phòng hộ ven

biển, triển khai xong dự án đo đất lâm nghiệp. Trong năm 2009, nhân dân đã trồng

dặm được khoảng 15.000 cây phân tán các loại đạt 100% kế hoạch đề ra.

Ngư nghiệp: Tổng số tàu thuyền các loại ở xã là 455 chiếc, công suất 8338 CV

với sản lượng đánh bắt 1.500 tấn. Diện tích ni tôm nước ngọt là 1,35 ha, sản lượng

33,9 tấn và doanh thu khoảng trên 1,5 tỷ đồng lãi thu được 396 triệu đồng, ngồi ra

nghề ni tơm hùm của ngư dân nơi đây cũng đang phát triển mạnh đã thả được 700

lồng khai thác được 70.000 con doanh thu khoảng 4 tỷ đồng. Ốc hương đã thả được 1

triệu con, lãi 316 triệu đồng.

Công tác khuyến nông, khuyến ngư: Năm 2009 đã tiếp tục đẩy mạnh phát triển

đàn heo hướng nạc, phát triển đàn gia cầm, triển khai thực hiện mơ hình cánh đồng

cho thu nhập 30 – 50 triệu đồng /ha /năm.



Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp: Tiếp tục phát triển một số ngành nghề

như cơ khí, hàn tiện, cửa sắt, sản xuất đá cây, chế biến nước mắm. Trong năm 2009 giá

trị công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp đạt khoảng 8 tỷ đồng. Chế biến cá cơm xuất

khẩu được 250 tấn doanh thu 2,5 tỷ đồng; nước mắm chế biến được 300 tấn với doanh

thu 2 tỷ đồng.

Xây dựng cơ bản: Thực hiện chương trình kiên cố hóa trường học. Đã nghiệm

thu xong và đưa vào sử dụng trường mẫu giáo thôn Mỹ Quang Nam và ấp Lý bằng

nguồn vốn cấp trên. Bê tông giao thông nơng thơn ấp Lý với giá trị cơng trình là 836

triệu đồng, nguồn vốn cấp trên 70 %.

b) Văn hóa – xã hội

Y tế: An Chấn đã triển khai thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia, phòng

chống dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm nên trong năm 2009 trên địa bàn xã không

xảy ra dịch bệnh truyền nhiễm. Giữ vững xã đạt 10 chuẩn về y tế, công tác khám và

điều trị bệnh ngày càng được nâng cao, thường xuyên tổ chức phát động phong trào

toàn dân tham gia phòng chống HIV/AIDS.

Giáo dục: Tồn ngành đã thực hiện tốt nhiệm vụ năm học 2008-2009. Kết quả

xét điểm tốt nghiệp THCS đạt 98 %, tiểu học xét tuyển đạt 100%. Học sinh các cấp

trường mẫu giáo là 163 cháu, trường tiểu học là 838 em, học sinh trường THCS Trần

Rịa 796 em.

Lĩnh vực môi trường: Đã triển khai tốt các hoạt động cụ thể hưởng ứng tháng

hành động về tuần lễ quốc gia nước sạch, vệ sinh môi trường, ngày đa dạng sinh học

và ngày môi trường thế giới. Từ đó cơ bản đã làm chuyển biến nhận thức, vai trò, trách

nhiệm của các cơ sở sản xuất kinh doanh và các tầng lớp nhân dân đối với công tác

quản lý, bảo vệ môi trường trên địa bàn.

Công tác tôn giáo: Hoạt động của các tôn giáo diễn ra bình thường. Tổ chức

đồn thăm, động viên, chúc tết, tặng quà cho các tổ chức tôn giáo nhân dịp tết nguyên

đáng và các ngày lễ trong năm.



An ninh – Quốc phòng: Xã đã triển khai thực hiện các nghiệp vụ đảm bảo

được tình hình an ninh trật tự trên địa bàn, thường xuyên mở các đợt cao điểm tấn

công trấn áp tội phạm. Củng cố xây dựng lực lượng dân quân tự vệ và dự bị động viên

ngày càng được nâng cao đi vào chiều sâu, từng bước nâng cao nhận thức của các

ngành, cán bộ và nhân dân trong xã. Phối hợp cùng lực lượng dân quân thường xuyên

tuần tra bảo vệ an ninh trật tự, thực hiện tốt công tác liên tịch giữa công an, mặt trận và

các đoàn thể.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phụ lục 10. Một Số Hình Ảnh về Kênh Mương Nội Đồng ở An Chấn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×