Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phần 2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Phần 2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Header Page -Header Page -Header Page - Header Page -Header Page -Header Page 12 of 103.



Khóa luận tốt nghiệp



Trường ĐHSP Hà Nội 2



+ Năng lực là tổ hợp các thuộc tính tâm lí độc đáo của cá nhân phù hợp với

yêu cầu của một hoạt động nhất định đảm bảo cho hoạt động đó nhanh chóng đạt

kết quả.

+ Năng lực thể hiện ở các mức độ:

 Mức 1: Hoàn thành kết quả





Mức 2 (mức tài năng): Hoàn thành kết quả có biểu hiện của sự sáng tạo







Mức 3 (mức thiên tài): Cao nhất, hoàn chỉnh nhất, sáng tạo, ý nghĩa với

cuộc sống



+ Năng lực được hình thành trong hoạt động học tập, lao động hoặc gắn với

hoạt động nào đấy, chịu sự chi phối của các yếu tố: Bẩm sinh (năng khiếu), mơi

trường, hoạt động của bản thân (tính tích cực, chủ động hoạt động hóa cá nhân).

- Năng lực (Capacity/Ability): Hiểu theo nghĩa chung nhất là khả năng (hoặc

tiềm năng) mà cá nhân thể hiện khi tham gia một hoạt động nào đó ở một thời

điểm nhất định. VD: khả năng giải tốn, khả năng nói tiếng Anh,... thường được

đánh giá bằng các trắc nghiệm trí tuệ (ability tests).

- Năng lực (Compentence): thường gọi là năng lực hành động: là khả năng

thực hiện hiệu quả một nhiệm vụ/một hành động cụ thể, liên quan đến một lĩnh

vực nhất định dựa trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và sự sẵn sàng hành

động.

* Tại Hội nghị chuyên đề về những năng lực cơ bản của Hội đồng châu Âu,

sau khi phân tích nhiều định nghĩa về năng lực, F.E. Weinert (OECD,2001) kết

luận: Xuyên suốt các môn học "năng lực được thể hiện như một hệ thống khả

năng, sự thành thạo hoặc những kỹ năng thiết yếu, có thể giúp con người đủ điều

kiện vươn tới một mục đích cụ thể".



6



Đặng

Kim

Cúc

Footer Page -Footer

PageThị

-Footer

Page

-Footer Page -Footer Page -Footer Page 12 of 103.



K35A – SP Sinh



Header Page -Header Page -Header Page - Header Page -Header Page -Header Page 13 of 103.



Khóa luận tốt nghiệp



Trường ĐHSP Hà Nội 2



Cũng tại diễn đàn này, J. Coolahan cho rằng: Năng lực được xem như là

"những khả năng cơ bản dựa trên cơ sở tri thức, kinh nghiệm, các giá trị và thiên

hướng của một con người được phát triển thông qua thực hành giáo dục"

Có thể thấy dù cách phát biểu có khác nhau, nhưng các cách hiểu trên đều

khẳng định: Nói đến năng lực là phải nói đến khả năng thực hiện, là phải biết

làm (know-how), chứ không chỉ biết và hiểu (know-what).

* Phân biệt giữa kỹ năng và năng lực:

- Kỹ năng hiểu theo nghĩa hẹp là những thao tác, những cách thức thực hành,

vận dụng tri thức/ kinh nghiệm thực hiện một hoạt động nào đó trong những mơi

trường quen thuộc. Hiểu theo cách này kỹ năng có được là do kinh nghiệm, thực

hành,... làm nhiều thành quen mà thiếu những hiểu biết, những tri thức... Kỹ

năng trong trường hợp này khơng giúp cá nhân thích ứng khi hồn cảnh, điều

kiện thay đổi.

- Kỹ năng hiểu theo nghĩa rộng, bao hàm những kiến thức, những hiểu biết,...

giúp cá nhân thích ứng khi hoàn cảnh, điều kiện thay đổi. Cách hiểu kỹ năng này

giống như là năng lực. Ví dụ, Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên

hợp quốc (UNESCO) định nghĩa: “Kỹ năng sống là năng lực cá nhân để thực

hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày”.

1.1.1.2. Phân loại năng lực

Phân loại năng lực là một vấn đề rất phức tạp, kết quả phân loại phụ thuộc

vào quan điểm và tiêu chí. Nhìn vào chương trình thiết kế theo hướng tiếp cận

năng lực của các nước có thể thấy 2 loại chính: Đó là những năng lực chung và

năng lực cụ thể, chuyên biệt.

* Năng lực chung: Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu để con

người có thể sống và làm việc bình thường trong xã hội. Năng lực này được hình



7



Đặng

Kim

Cúc

Footer Page -Footer

PageThị

-Footer

Page

-Footer Page -Footer Page -Footer Page 13 of 103.



K35A – SP Sinh



Header Page -Header Page -Header Page - Header Page -Header Page -Header Page 14 of 103.



Khóa luận tốt nghiệp



Trường ĐHSP Hà Nội 2



thành và phát triển do nhiều môn học, liên quan đến nhiều mơn học. Vì thế có

nước gọi là năng lực xun chương trình. Hội đồng châu Âu gọi là năng lực

chính. Cũng cần lưu ý là khái niệm năng lực chính được nhiều nước trong khối

EU sử dụng với các thuật ngữ khác nhau như: Năng lực nền tảng, năng lực chủ

yếu, kỹ năng chính, kỹ năng cốt lõi, năng lực cơ sở, khả năng, phẩm chất chính;

kỹ năng chuyển giao được...

Theo quan niệm của EU, mỗi năng lực chung cần:

- Góp phần tạo nên kết quả có giá trị cho xã hội và cộng đồng.

- Giúp cho các cá nhân đáp ứng được những đòi hỏi của một bối cảnh rộng

lớn và phức tạp.

- Chúng có thể khơng quan trọng với các chuyên gia, nhưng rất quan trọng

với tất cả mọi người.

* Năng lực riêng: Năng lực cụ thể, chuyên biệt là năng lực riêng được

hình thành và phát triển do một lĩnh vực/mơn học nào đó; Vì thế chương trình

Qbec gọi là năng lực mơn học cụ thể để phân biệt với năng lực xuyên chương

trình - năng lực chung.

- Năng lực học tập Sinh học thuộc năng lực cụ thể. Năng lực của HS trong

học tập Sinh học hay nói cách khác là năng lực học tập Sinh học của HS có thể

được chia thành:

+ Năng lực nhận thức về Sinh học: Benjamin Bloom đề xuất một thang 6 mức

độ của năng lực nhận thức, bao gồm:

 Biết: Là khả năng HS ghi nhớ và nhận diện thông tin, được hiểu là nhớ lại

những kiến thức một cách máy móc và nhắc lại. Những hoạt động tương

ứng với mức độ biết có thể là xác định, đặt tên, liệt kê, đối chiếu hoặc gọi

tên.



8



Đặng

Kim

Cúc

Footer Page -Footer

PageThị

-Footer

Page

-Footer Page -Footer Page -Footer Page 14 of 103.



K35A – SP Sinh



Header Page -Header Page -Header Page - Header Page -Header Page -Header Page 15 of 103.



Khóa luận tốt nghiệp



Trường ĐHSP Hà Nội 2



Ví dụ cho mức độ nhận thức này là khi giáo viên yêu cầu HS “kể tên các kì

của quá trình nguyên phân” hay “Nêu các bậc cấu trúc của prôtêin”,…

 Hiểu: Là khả năng HS hiểu, diễn dịch, diễn giải, giải thích hoặc suy diễn

một vấn đề theo lối suy nghĩ và cách hành văn của chính mình. Bên cạnh

đó còn có thể dự đốn được kết quả hay hậu quả của vấn đề. Những hoạt

động tương ứng với mức độ hiểu có thể là diễn giải, tổng kết, kể lại, viết

lại theo cách hiểu của mình,…

Ví dụ của mức độ hiểu đó là khi giáo viên yêu cầu HS “Mơ tả kì giữa của q

trình ngun phân” Hoặc “ Hãy trình bày tóm tắt q trình hơ hấp tế bào”,…

 Vận dụng: Có thể được hiểu là khả năng sử dụng kiến thức đã học trong

những tình huống cụ thể hay tình huống mới. Vận dụng là mức bắt đầu

của sáng tạo. Những hoạt động tương ứng với mức vận dụng có thể là

chuẩn bị, sản xuất, giải quyết, vận hành hoặc theo một cơng thức nấu

ăn,…

Ví dụ về hoạt động vận dụng đó là khi giáo viên đưa cho HS các bản hướng

dẫn viết và yêu cầu “Hãy giải thích tại sao từ 4 loại nuclêơtit đã tạo ra sự đa dạng

và phong phú của thế giới sinh vật?” hay “ Tại sao muốn giữ rau tươi, ta phải

thường xuyên vảy nước vào rau?”,…

 Phân tích: Là khả năng phân nhỏ đối tượng thành các hợp phần cấu thành

để hiểu rõ hơn cấu trúc của nó. Ở mức độ này đòi hỏi khả năng phân loại.

Các hoạt động liên quan đến mức độ phân tích có thể là vẽ biểu đồ, lập

dàn ý, phân biệt hoặc chia nhỏ các thành phần,…



9



Đặng

Kim

Cúc

Footer Page -Footer

PageThị

-Footer

Page

-Footer Page -Footer Page -Footer Page 15 of 103.



K35A – SP Sinh



Header Page -Header Page -Header Page - Header Page -Header Page -Header Page 16 of 103.



Khóa luận tốt nghiệp



Trường ĐHSP Hà Nội 2



Ví dụ của mức độ phân tích là khi giáo viên hỏi HS “Cơ chế nào trong

nguyên phân giúp đảm bảo cho bộ NST của tế bào con giống hệt bộ NST của tế

bào mẹ?”; “Giải thích tại sao ti thể được coi là nhà máy năng lượng của tế

bào?”,…

 Tổng hợp: Liên quan đến khả năng kết hợp các phần cùng nhau để tạo một

dạng mới. Ở mức độ này, đòi hỏi HS phải sử dụng những gì đã học để tạo

ra hoặc sáng tạo một cái gì đó hồn tồn mới. Các hoạt động liên quan đến

mức độ tổng hợp có thể gồm: thiết kế, đặt kế hoạch, tạo hoặc sáng tác,…

Ví dụ hoạt động ở mức độ tổng hợp đó là khi giáo viên u cầu HS “Nếu q

trình nguyên phân bị gián đoạn thì hậu quả gì sẽ xảy ra?”; “Những cây có lá

vàng có thực hiện quang hợp được không? Tại sao?”,…

 Đánh giá: Là khả năng phán xét giá trị của đối tượng. Để sử dụng đúng

mức độ này, HS phải có khả năng giải thích tại sao sử dụng những lập

luận giá trị để bảo vệ quan điểm của mình. Những hoạt động liên quan đến

mức độ đánh giá có thể là: biện minh, phê bình hoặc rút ra kết luận,…

Liên quan đến mức độ đánh giá là khi giáo viên hỏi HS “Hãy đánh giá vai trò

của nguyên phân đối với cơ thể sinh vật?”; “ Cho biết ý nghĩa của quá trình

quang hợp?”,…

+ Năng lực thực nghiệm: Biểu hiện trong phần Sinh học tế bào thông qua

năng lực thực hành như thực hành quan sát, thực hành thí nghiệm, thực hành

phân tích mẫu vật,…

Ở năng lực này, đòi hỏi HS có khả năng sử dụng thành thạo thiết bị, dụng

cụ, hóa mẫu vật thực hành sinh học; Có kĩ năng thực hành thí nghiệm và tư duy

phân tích cơ sở khoa học; Có khả năng hợp tác nhóm và làm việc nhóm hiệu



10



Đặng

Kim

Cúc

Footer Page -Footer

PageThị

-Footer

Page

-Footer Page -Footer Page -Footer Page 16 of 103.



K35A – SP Sinh



Header Page -Header Page -Header Page - Header Page -Header Page -Header Page 17 of 103.



Khóa luận tốt nghiệp



Trường ĐHSP Hà Nội 2



quả. Biết cách học thầy, học bạn, biết kết hợp các phương tiện công nghệ thông

tin, khoa học kĩ thuật hiện đại trong học tập.

Ngoài ra, năng lực thực nghiệm cũng yêu cầu HS phải có khả năng vận

dụng kiến thức lí thuyết vào giải thích và giải quyết những vấn đề thực tiễn, có

thái độ bảo vệ sức khỏe và mơi trường sinh thái, có khả năng thích nghi tốt khi

mơi trường thay đổi,…

1.1.2. Đánh giá

1.1.2.1. Khái quát về đánh giá

Theo GS Trần Bá Hoành (1995) “Đánh giá là quá trình hình thành những

nhận định, phán đốn về kết quả của cơng việc dựa vào việc phân tích những

thơng tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra nhằm đề

xuất những quyết định thích hợp để cải tiến thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất

lượng và hiệu quả công việc”.

Theo tác giả Trần Thị Tuyết Oanh [3] thì đánh giá trong giáo dục là q

trình tiến hành có hệ thống để xác định mức độ mà đối tượng đạt được các mục

tiêu giáo dục nhất định.

Như vậy, đánh giá cho ta ý nghĩa như là sự nhận định giá trị các mặt kết

quả, hiệu quả, hiệu suất của việc đào tạo trong nhà trường thể hiện qua sự phát

triển của người học, hay nói cách khác là kết quả học tập của người học.

Có lẽ Trần Thị Tuyết Oanh [3] đã có giải thích khá đầy đủ về đánh giá:

Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập, xử lí thơng tin về trình độ, khả

năng mà người học thực hiện các mục tiêu học tập đã xác định, nhằm tạo cơ sở

cho những quyết định sư phạm của giáo viên, của nhà trường và cho bản thân

người học tiến bộ hơn. Đánh giá kết quả học tập của người học là đánh giá mức

độ hoàn thành các mục tiêu đề ra cho người học sau một giai đoạn học tập. Các



11



Đặng

Kim

Cúc

Footer Page -Footer

PageThị

-Footer

Page

-Footer Page -Footer Page -Footer Page 17 of 103.



K35A – SP Sinh



Header Page -Header Page -Header Page - Header Page -Header Page -Header Page 18 of 103.



Khóa luận tốt nghiệp



Trường ĐHSP Hà Nội 2



mục tiêu này thể hiện ở từng môn học cụ thể. Thông qua đánh giá kết quả của

người học sẽ thể hiện được kết quả của quá trình giáo dục và đào tạo.

Đánh giá gồm có 3 khâu chính là: Thu thập thơng tin, xử lí thơng tin và ra

quyết định. Đánh giá là một quá trình bắt đầu khi chúng ta định ra một mục tiêu

phải theo đuổi và kết thúc khi chúng ta đã đề ra một quyết định liên quan đến

mục tiêu đó. Điều đó khơng có nghĩa là quá trình tổng thể kết thúc khi ra quyết

định. Ngược lại, quyết định đánh dấu sự khởi đầu một quá trình khác cũng quan

trọng như đánh giá: đó là q trình đề ra những biện pháp cụ thể tuỳ theo kết quả

đánh giá.

Đánh giá quá trình dạy học thực hiện đồng thời 2 chức năng: vừa là nguồn

thông tin phản hồi về q trình dạy học, vừa góp phần điều chỉnh hoạt động này.

1.1.2.2. Đánh giá năng lực của HS trong dạy học Sinh học

Hiện nay trong quá trình giảng dạy, việc đánh giá chủ yếu là đánh giá kiến

thức, dựa trên điểm số để xếp loại, nên có thể chưa phản ánh đầy đủ khả năng

học tập của HS. Đánh giá năng lực của HS sẽ phản hồi được hạn chế của phương

pháp đánh giá truyền thống, đồng thời nâng cao được hiệu quả, chất lượng của

quá trình dạy học.

Đánh giá năng lực học tập của HS có những ưu điểm sau:

- Đánh giá được khả năng vận dụng kiến thức đã học vào xử lí, giải quyết

các tình huống thực tiễn. Nếu như đánh giá kiến thức, kỹ năng thì chỉ đo được

khối lượng kiến thức, kỹ năng HS thu nhận được. Còn đánh giá năng lực là đo

khả năng HS vận dụng kiến thức, kỹ năng đó trong các hoạt động thực tiễn; Sử

dụng chúng để gia cơng, hồn thành một nhiệm vụ, đồng thời HS có cơ hội bày

tỏ thái độ của bản thân trước những vấn đề thực tiễn. Như vậy đánh giá được

năng lực thì sẽ đánh giá được kiến thức, kỹ năng, thái độ.



12



Đặng

Kim

Cúc

Footer Page -Footer

PageThị

-Footer

Page

-Footer Page -Footer Page -Footer Page 18 of 103.



K35A – SP Sinh



Header Page -Header Page -Header Page - Header Page -Header Page -Header Page 19 of 103.



Khóa luận tốt nghiệp



Trường ĐHSP Hà Nội 2



- Đánh giá theo năng lực của HS được thực hiện theo các tiêu chí. Sự tiến

bộ của HS về từng loại năng lực được đánh giá bởi chất lượng của tất cả các tiêu

chí. Các tiêu chí được sắp xếp theo thứ tự hợp lý, từ đó đánh giá được HS và xây

dựng được phác đồ quá trình phát triển năng lực của HS. Đồng thời thấy được

HS mạnh yếu ở điểm nào, cần bồi dưỡng, phát triển những mặt nào.

- Những HS đáp ứng được các yêu cầu về năng lực sẽ có khả năng xử lý

linh hoạt và nhạy bén các vấn đề phức tạp và đa dạng trong cuộc sống, tạo nên

một thế hệ con người mới năng động, sáng tạo, góp phần phát triển đất nước và

nâng cao chất lượng con người.

Có thể thấy việc đánh giá theo năng lực của HS là một q trình khá tồn

diện, đòi hỏi người giáo viên phải có những đầu tư, suy nghĩ để xây dựng các

tiêu chí một cách hợp lý, khoa học thì mới phát huy được các ưu điểm trên.

1.1.3. Chương trình PISA

1.1.3.1. Khái qt

* Mục đích: Nhằm kiểm tra xem khi đến độ tuổi kết thúc phần giáo dục

bắt buộc, HS đã được chuẩn bị để đáp ứng các thách thức của cuộc sống sau này

ở mức độ nào, cụ thể:

- Xem xét đánh giá mức độ năng lực đạt được ở các lĩnh vực Đọc hiểu,

Toán học và Khoa học của HS ở lứa tuổi 15.

- Nghiên cứu ảnh hưởng của chính sách đến kết quả học tập của HS.

- Nghiên cứu hệ thống các điều kiện giảng dạy- học tập có ảnh hưởng đến

kết quả của HS.

* Đặc điểm:

- Quy mô của PISA là rất lớn và có tính tồn cầu. Qua năm cuộc khảo sát

đánh giá, ngồi các nước thuộc khối OECD còn có nhiều quốc gia là đối tác của



13



Đặng

Kim

Cúc

Footer Page -Footer

PageThị

-Footer

Page

-Footer Page -Footer Page -Footer Page 19 of 103.



K35A – SP Sinh



Header Page -Header Page -Header Page - Header Page -Header Page -Header Page 20 of 103.



Khóa luận tốt nghiệp



Trường ĐHSP Hà Nội 2



các nước thuộc khối OECD đăng ký tham gia. Trong lần đánh giá thứ tư vào

năm 2009 đã có 67 nước tham gia.

- PISA được thực hiện đều đặn theo chu kỳ ba năm một lần tạo điều kiện

cho các quốc gia có thể theo dõi sự tiến bộ của nền giáo dục đối với việc phấn

đấu đạt được các mục tiêu giáo dục cơ bản.

- Cho đến nay PISA là khảo sát giáo dục duy nhất đánh giá về năng lực

phổ thông của HS độ tuổi 15, độ tuổi kết thúc giáo dục bắt buộc ở hầu hết các

quốc gia.

- PISA thu thập và cung cấp cho các quốc gia các dữ liệu có thể so sánh

được trên bình diện quốc tế cũng như xu hướng của dữ liệu quốc gia về năng lực

đọc hiểu, năng lực Toán học và khoa học của HS độ tuổi 15, từ đó giúp Chính

phủ các nước tham gia PISA rút ra những bài học về chính sách đối với giáo dục

phổ thơng.

- PISA chú trọng xem xét và đánh giá một số vấn đề sau:

+ Chính sách cơng (Public policy): “Nhà trường của chúng ta đã chuẩn bị

đầy đủ cho những người trẻ tuổi trước những thách thức của cuộc sống trưởng

thành chưa?”, “ Phải chăng một số loại hình học tập và giảng dạy của những nơi

này hiệu quả hơn những nơi khác?”…

+ Hiểu biết phổ thơng (Literacy): Thay vì kiểm tra sự thuộc bài theo các

chương trình Giáo dục cụ thể, PISA xem xét khả năng của HS ứng dụng các kiến

thức và kĩ năng trong các lĩnh vực chuyên môn và khả năng phân tích, lý giải,

truyền đạt một cách có hiệu quả khi họ xem xét, diễn giải và giải quyết các vấn

đề.

+ Học suốt đời ( Lifelong learning): HS không thể học tất cả mọi thứ cần

biết trong nhà trường. Để trở thành những người học suốt đời có hiệu quả, HS



14



Đặng

Kim

Cúc

Footer Page -Footer

PageThị

-Footer

Page

-Footer Page -Footer Page -Footer Page 20 of 103.



K35A – SP Sinh



Header Page -Header Page -Header Page - Header Page -Header Page -Header Page 21 of 103.



Khóa luận tốt nghiệp



Trường ĐHSP Hà Nội 2



khơng ngừng phải có kiến thức và kỹ năng mà còn có cả ý thức về lý do và cách

học. PISA không những khảo sát kỹ năng của HS về đọc hiểu, tốn và khoa học

mà còn đòi hỏi HS cả về động cơ, niềm tin về bản thân cũng như các chiến lược

học tập.

1.1.3.2. Những năng lực được PISA đánh giá

PISA tập trung vào đánh giá 3 mảng năng lực chính: Năng lực tốn học

phổ thơng (Mathematical literacy); Năng lực đọc hiểu phổ thông (Reading

literacy); Năng lực khoa học phổ thông (Science literacy).

* Năng lực tốn học phổ thơng: Là năng lực của một cá nhân để nhận biết

và hiểu về vai trò của tốn học trong thế giới, biết dựa vào tốn học để đưa ra

những suy đốn có nền tảng vững chắc vừa đáp ứng được các nhu cầu của đời

sống cá nhân, vừa như một công dân biết suy luận, có mối quan tâm và có tính

xây dựng. Đó chính là năng lực phân tích, lập luận và truyền đạt ý tưởng (trao

đổi thông tin) một cách hiệu quả thơng qua việc đặt ra, hình thành và giải quyết

vấn đề tốn học trong các tình huống và hồn cảnh khác nhau.

* Năng lực đọc hiểu phổ thông: Là năng lực hiểu, sử dụng và phản hồi lại

ý kiến của một cá nhân sau khi đọc một văn bản. Khái niệm học và đặc biệt là

học suốt đời đòi hỏi phải mở rộng cách hiểu về việc biết đọc.

Biết đọc khơng chỉ còn là u cầu của suốt thời kỳ tuổi thơ trong nhà

trường phổ thơng, thay vào đó nó còn trở thành một nhân tố quan trọng trong

việc xây dựng, mở rộng những kiến thức cá nhân, kỹ năng và chiến lược của mỗi

cá nhân trong suốt cuộc đời khi họ tham gia vào các tình huống khác nhau cũng

như trong mối quan hệ với người xung quanh.

* Năng lực khoa học phổ thông: Là năng lực của một cá nhân biết sử dụng

kiến thức khoa học để xác định các câu hỏi và rút ra kết luận dựa trên chứng cứ



15



Đặng

Kim

Cúc

Footer Page -Footer

PageThị

-Footer

Page

-Footer Page -Footer Page -Footer Page 21 of 103.



K35A – SP Sinh



Header Page -Header Page -Header Page - Header Page -Header Page -Header Page 22 of 103.



Khóa luận tốt nghiệp



Trường ĐHSP Hà Nội 2



để hiểu và đưa ra quyết định về thế giới tự nhiên thông qua hoạt động của con

người thực hiện việc thay đổi thế giới tự nhiên.

Cụ thể là: Có kiến thức khoa học và sử dụng kiến thức để xác định các câu

hỏi, chiếm lĩnh kiến thức mới, giải thích hiện tượng khoa học và rút ra kết luận

trên cơ sở chứng cứ về các vấn đề liên quan đến khoa học; Hiểu những đặc tính

của khoa học như một dạng tri thức của lồi người và một hoạt động tìm tòi

khám phá của con người; Nhận thức được vai trò của khoa học và cơng nghệ đối

với việc hình thành mơi trường văn hóa, tinh thần, vật chất; Sẵn sàng tham gia

như một cơng dân tích cực, vận dụng hiểu biết khoa học vào giải quyết các vấn

đề liên quan tới khoa học.

* Bên cạnh các mảng năng lực chính, PISA còn đánh giá cả ở “Kỹ năng

giải quyết vấn đề” (Problem solving- được đưa vào PISA năm 2003). Đây là

năng lực của một cá nhân để sử dụng các quá trình nhận thức để đối mặt và giải

quyết các bối cảnh thực tế xuyên suốt các môn học, ở đó con đường tìm ra lời

giải là khơng rõ ràng ngay tức thì và ở đó các lĩnh vực hiểu biết hay chương trình

có thể áp dụng được khơng chỉ nằm trong một lĩnh vực toán, khoa học hay đọc

hiểu.

1.1.3.3. Hình thức đánh giá

* Bộ đề kiểm tra (Booklet) của PISA bao gồm nhiều bài tập (Unit). Mỗi

Unit bao gồm hai phần:

- Phần một: Nêu nội dung tình huống (có thể trình bày dưới dạng văn bản,

bảng, biểu đồ,…)

- Phần hai: Các câu hỏi (Items).

Thơng thường sẽ có nhiều câu hỏi ứng với một tình huống được đưa ra.

Bài tập của PISA xoay quanh những tình huống nội bộ sinh học cũng như những



16



Đặng

Kim

Cúc

Footer Page -Footer

PageThị

-Footer

Page

-Footer Page -Footer Page -Footer Page 22 of 103.



K35A – SP Sinh



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phần 2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×