Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Ngoài ra, năng lực thực nghiệm cũng yêu cầu HS phải có khả năng vận dụng kiến thức lí thuyết vào giải thích và giải quyết những vấn đề thực tiễn, có thái độ bảo vệ sức khỏe và môi trường sinh thái, có khả năng thích nghi tốt khi môi trường thay đổi,…

Ngoài ra, năng lực thực nghiệm cũng yêu cầu HS phải có khả năng vận dụng kiến thức lí thuyết vào giải thích và giải quyết những vấn đề thực tiễn, có thái độ bảo vệ sức khỏe và môi trường sinh thái, có khả năng thích nghi tốt khi môi trường thay đổi,…

Tải bản đầy đủ - 0trang

Header Page -Header Page -Header Page - Header Page -Header Page -Header Page 18 of 103.



Khóa luận tốt nghiệp



Trường ĐHSP Hà Nội 2



mục tiêu này thể hiện ở từng môn học cụ thể. Thông qua đánh giá kết quả của

người học sẽ thể hiện được kết quả của quá trình giáo dục và đào tạo.

Đánh giá gồm có 3 khâu chính là: Thu thập thơng tin, xử lí thơng tin và ra

quyết định. Đánh giá là một quá trình bắt đầu khi chúng ta định ra một mục tiêu

phải theo đuổi và kết thúc khi chúng ta đã đề ra một quyết định liên quan đến

mục tiêu đó. Điều đó khơng có nghĩa là q trình tổng thể kết thúc khi ra quyết

định. Ngược lại, quyết định đánh dấu sự khởi đầu một quá trình khác cũng quan

trọng như đánh giá: đó là q trình đề ra những biện pháp cụ thể tuỳ theo kết quả

đánh giá.

Đánh giá quá trình dạy học thực hiện đồng thời 2 chức năng: vừa là nguồn

thơng tin phản hồi về q trình dạy học, vừa góp phần điều chỉnh hoạt động này.

1.1.2.2. Đánh giá năng lực của HS trong dạy học Sinh học

Hiện nay trong quá trình giảng dạy, việc đánh giá chủ yếu là đánh giá kiến

thức, dựa trên điểm số để xếp loại, nên có thể chưa phản ánh đầy đủ khả năng

học tập của HS. Đánh giá năng lực của HS sẽ phản hồi được hạn chế của phương

pháp đánh giá truyền thống, đồng thời nâng cao được hiệu quả, chất lượng của

quá trình dạy học.

Đánh giá năng lực học tập của HS có những ưu điểm sau:

- Đánh giá được khả năng vận dụng kiến thức đã học vào xử lí, giải quyết

các tình huống thực tiễn. Nếu như đánh giá kiến thức, kỹ năng thì chỉ đo được

khối lượng kiến thức, kỹ năng HS thu nhận được. Còn đánh giá năng lực là đo

khả năng HS vận dụng kiến thức, kỹ năng đó trong các hoạt động thực tiễn; Sử

dụng chúng để gia cơng, hồn thành một nhiệm vụ, đồng thời HS có cơ hội bày

tỏ thái độ của bản thân trước những vấn đề thực tiễn. Như vậy đánh giá được

năng lực thì sẽ đánh giá được kiến thức, kỹ năng, thái độ.



12



Đặng

Kim

Cúc

Footer Page -Footer

PageThị

-Footer

Page

-Footer Page -Footer Page -Footer Page 18 of 103.



K35A – SP Sinh



Header Page -Header Page -Header Page - Header Page -Header Page -Header Page 19 of 103.



Khóa luận tốt nghiệp



Trường ĐHSP Hà Nội 2



- Đánh giá theo năng lực của HS được thực hiện theo các tiêu chí. Sự tiến

bộ của HS về từng loại năng lực được đánh giá bởi chất lượng của tất cả các tiêu

chí. Các tiêu chí được sắp xếp theo thứ tự hợp lý, từ đó đánh giá được HS và xây

dựng được phác đồ quá trình phát triển năng lực của HS. Đồng thời thấy được

HS mạnh yếu ở điểm nào, cần bồi dưỡng, phát triển những mặt nào.

- Những HS đáp ứng được các yêu cầu về năng lực sẽ có khả năng xử lý

linh hoạt và nhạy bén các vấn đề phức tạp và đa dạng trong cuộc sống, tạo nên

một thế hệ con người mới năng động, sáng tạo, góp phần phát triển đất nước và

nâng cao chất lượng con người.

Có thể thấy việc đánh giá theo năng lực của HS là một quá trình khá tồn

diện, đòi hỏi người giáo viên phải có những đầu tư, suy nghĩ để xây dựng các

tiêu chí một cách hợp lý, khoa học thì mới phát huy được các ưu điểm trên.

1.1.3. Chương trình PISA

1.1.3.1. Khái quát

* Mục đích: Nhằm kiểm tra xem khi đến độ tuổi kết thúc phần giáo dục

bắt buộc, HS đã được chuẩn bị để đáp ứng các thách thức của cuộc sống sau này

ở mức độ nào, cụ thể:

- Xem xét đánh giá mức độ năng lực đạt được ở các lĩnh vực Đọc hiểu,

Toán học và Khoa học của HS ở lứa tuổi 15.

- Nghiên cứu ảnh hưởng của chính sách đến kết quả học tập của HS.

- Nghiên cứu hệ thống các điều kiện giảng dạy- học tập có ảnh hưởng đến

kết quả của HS.

* Đặc điểm:

- Quy mô của PISA là rất lớn và có tính tồn cầu. Qua năm cuộc khảo sát

đánh giá, ngoài các nước thuộc khối OECD còn có nhiều quốc gia là đối tác của



13



Đặng

Kim

Cúc

Footer Page -Footer

PageThị

-Footer

Page

-Footer Page -Footer Page -Footer Page 19 of 103.



K35A – SP Sinh



Header Page -Header Page -Header Page - Header Page -Header Page -Header Page 20 of 103.



Khóa luận tốt nghiệp



Trường ĐHSP Hà Nội 2



các nước thuộc khối OECD đăng ký tham gia. Trong lần đánh giá thứ tư vào

năm 2009 đã có 67 nước tham gia.

- PISA được thực hiện đều đặn theo chu kỳ ba năm một lần tạo điều kiện

cho các quốc gia có thể theo dõi sự tiến bộ của nền giáo dục đối với việc phấn

đấu đạt được các mục tiêu giáo dục cơ bản.

- Cho đến nay PISA là khảo sát giáo dục duy nhất đánh giá về năng lực

phổ thông của HS độ tuổi 15, độ tuổi kết thúc giáo dục bắt buộc ở hầu hết các

quốc gia.

- PISA thu thập và cung cấp cho các quốc gia các dữ liệu có thể so sánh

được trên bình diện quốc tế cũng như xu hướng của dữ liệu quốc gia về năng lực

đọc hiểu, năng lực Toán học và khoa học của HS độ tuổi 15, từ đó giúp Chính

phủ các nước tham gia PISA rút ra những bài học về chính sách đối với giáo dục

phổ thông.

- PISA chú trọng xem xét và đánh giá một số vấn đề sau:

+ Chính sách cơng (Public policy): “Nhà trường của chúng ta đã chuẩn bị

đầy đủ cho những người trẻ tuổi trước những thách thức của cuộc sống trưởng

thành chưa?”, “ Phải chăng một số loại hình học tập và giảng dạy của những nơi

này hiệu quả hơn những nơi khác?”…

+ Hiểu biết phổ thông (Literacy): Thay vì kiểm tra sự thuộc bài theo các

chương trình Giáo dục cụ thể, PISA xem xét khả năng của HS ứng dụng các kiến

thức và kĩ năng trong các lĩnh vực chun mơn và khả năng phân tích, lý giải,

truyền đạt một cách có hiệu quả khi họ xem xét, diễn giải và giải quyết các vấn

đề.

+ Học suốt đời ( Lifelong learning): HS không thể học tất cả mọi thứ cần

biết trong nhà trường. Để trở thành những người học suốt đời có hiệu quả, HS



14



Đặng

Kim

Cúc

Footer Page -Footer

PageThị

-Footer

Page

-Footer Page -Footer Page -Footer Page 20 of 103.



K35A – SP Sinh



Header Page -Header Page -Header Page - Header Page -Header Page -Header Page 21 of 103.



Khóa luận tốt nghiệp



Trường ĐHSP Hà Nội 2



khơng ngừng phải có kiến thức và kỹ năng mà còn có cả ý thức về lý do và cách

học. PISA không những khảo sát kỹ năng của HS về đọc hiểu, tốn và khoa học

mà còn đòi hỏi HS cả về động cơ, niềm tin về bản thân cũng như các chiến lược

học tập.

1.1.3.2. Những năng lực được PISA đánh giá

PISA tập trung vào đánh giá 3 mảng năng lực chính: Năng lực tốn học

phổ thơng (Mathematical literacy); Năng lực đọc hiểu phổ thông (Reading

literacy); Năng lực khoa học phổ thơng (Science literacy).

* Năng lực tốn học phổ thông: Là năng lực của một cá nhân để nhận biết

và hiểu về vai trò của tốn học trong thế giới, biết dựa vào toán học để đưa ra

những suy đốn có nền tảng vững chắc vừa đáp ứng được các nhu cầu của đời

sống cá nhân, vừa như một cơng dân biết suy luận, có mối quan tâm và có tính

xây dựng. Đó chính là năng lực phân tích, lập luận và truyền đạt ý tưởng (trao

đổi thơng tin) một cách hiệu quả thông qua việc đặt ra, hình thành và giải quyết

vấn đề tốn học trong các tình huống và hồn cảnh khác nhau.

* Năng lực đọc hiểu phổ thông: Là năng lực hiểu, sử dụng và phản hồi lại

ý kiến của một cá nhân sau khi đọc một văn bản. Khái niệm học và đặc biệt là

học suốt đời đòi hỏi phải mở rộng cách hiểu về việc biết đọc.

Biết đọc khơng chỉ còn là u cầu của suốt thời kỳ tuổi thơ trong nhà

trường phổ thơng, thay vào đó nó còn trở thành một nhân tố quan trọng trong

việc xây dựng, mở rộng những kiến thức cá nhân, kỹ năng và chiến lược của mỗi

cá nhân trong suốt cuộc đời khi họ tham gia vào các tình huống khác nhau cũng

như trong mối quan hệ với người xung quanh.

* Năng lực khoa học phổ thông: Là năng lực của một cá nhân biết sử dụng

kiến thức khoa học để xác định các câu hỏi và rút ra kết luận dựa trên chứng cứ



15



Đặng

Kim

Cúc

Footer Page -Footer

PageThị

-Footer

Page

-Footer Page -Footer Page -Footer Page 21 of 103.



K35A – SP Sinh



Header Page -Header Page -Header Page - Header Page -Header Page -Header Page 22 of 103.



Khóa luận tốt nghiệp



Trường ĐHSP Hà Nội 2



để hiểu và đưa ra quyết định về thế giới tự nhiên thông qua hoạt động của con

người thực hiện việc thay đổi thế giới tự nhiên.

Cụ thể là: Có kiến thức khoa học và sử dụng kiến thức để xác định các câu

hỏi, chiếm lĩnh kiến thức mới, giải thích hiện tượng khoa học và rút ra kết luận

trên cơ sở chứng cứ về các vấn đề liên quan đến khoa học; Hiểu những đặc tính

của khoa học như một dạng tri thức của loài người và một hoạt động tìm tòi

khám phá của con người; Nhận thức được vai trò của khoa học và cơng nghệ đối

với việc hình thành mơi trường văn hóa, tinh thần, vật chất; Sẵn sàng tham gia

như một cơng dân tích cực, vận dụng hiểu biết khoa học vào giải quyết các vấn

đề liên quan tới khoa học.

* Bên cạnh các mảng năng lực chính, PISA còn đánh giá cả ở “Kỹ năng

giải quyết vấn đề” (Problem solving- được đưa vào PISA năm 2003). Đây là

năng lực của một cá nhân để sử dụng các quá trình nhận thức để đối mặt và giải

quyết các bối cảnh thực tế xuyên suốt các mơn học, ở đó con đường tìm ra lời

giải là khơng rõ ràng ngay tức thì và ở đó các lĩnh vực hiểu biết hay chương trình

có thể áp dụng được khơng chỉ nằm trong một lĩnh vực tốn, khoa học hay đọc

hiểu.

1.1.3.3. Hình thức đánh giá

* Bộ đề kiểm tra (Booklet) của PISA bao gồm nhiều bài tập (Unit). Mỗi

Unit bao gồm hai phần:

- Phần một: Nêu nội dung tình huống (có thể trình bày dưới dạng văn bản,

bảng, biểu đồ,…)

- Phần hai: Các câu hỏi (Items).

Thông thường sẽ có nhiều câu hỏi ứng với một tình huống được đưa ra.

Bài tập của PISA xoay quanh những tình huống nội bộ sinh học cũng như những



16



Đặng

Kim

Cúc

Footer Page -Footer

PageThị

-Footer

Page

-Footer Page -Footer Page -Footer Page 22 of 103.



K35A – SP Sinh



Header Page -Header Page -Header Page - Header Page -Header Page -Header Page 23 of 103.



Khóa luận tốt nghiệp



Trường ĐHSP Hà Nội 2



tình huống thực tế mơ tả khái niệm, cấu trúc hoặc quá trình. Trong PISA những

điều này được gọi là “ý tưởng bao trùm” (Overarching ideas).

* Một số dạng câu hỏi thường gặp trong PISA:

- Câu hỏi trắc nghiệm truyền thống (Traditional multiple- choice): HS phải

lựa chọn câu trả lời đúng từ một số các đáp án cho trước.

- Câu hỏi trắc nghiệm phức hợp (Complex multiple- choice): HS phải lựa

chọn câu trả lời đúng từ một số đáp án cho trước.

- Câu hỏi có câu trả lời đóng (Closed- contructed reponse): Câu trả lời có

dạng là số hoặc dạng khác, đáp án trả lời là duy nhất.

- Câu hỏi có câu trả lời ngắn (Short- reponse): HS trả lời tóm tắt mỗi câu

hỏi đưa ra. Khơng giống như dạng câu hỏi đóng, có thể có nhiều đáp án cho dạng

câu hỏi này.

- Câu hỏi có câu trả lời mở (Open- contructed reponse): HS phải trả lời dài

hơn dưới dạng viết. Thường có nhiều khả năng trả lời đúng có thể đưa ra. Khơng

giống như những dạng câu hỏi khác, điểm của những câu hỏi loại này đòi hỏi

đánh giá cụ thể của người chấm.

1.1.3.4. Mã hóa trong PISA

PISA sử dụng thuật ngữ codding (mã hóa), khơng sử dụng khái niệm

chấm bài vì mỗi một mã của câu trả lời được quy ra điểm số tùy theo câu hỏi.

Các nhãn thể hiện mức độ trả lời bao gồm: Mức tối đa, mức chưa tối đa

,không đạt.

Sử dụng các mức này thay cho khái niệm “Đúng” hay “không đúng”. Một số

câu hỏi khơng có câu trả lời “đúng”. Hay nói đúng hơn, các câu trả lời được đánh

giá dựa vào mức độ HS hiểu văn bản hoặc chủ đề trong câu hỏi.



17



Đặng

Kim

Cúc

Footer Page -Footer

PageThị

-Footer

Page

-Footer Page -Footer Page -Footer Page 23 of 103.



K35A – SP Sinh



Header Page -Header Page -Header Page - Header Page -Header Page -Header Page 24 of 103.



Khóa luận tốt nghiệp



Trường ĐHSP Hà Nội 2



“Mức tối đa” khơng nhất thiết chỉ là những câu trả lời hồn hảo hoặc đúng

hồn tồn.

“Khơng đạt” khơng có nghĩa là hồn tồn khơng đúng.

Khi xây dựng phương án Mã hóa, cần đưa ra một số ví dụ về phương án trả lời

của HS (người tạo câu hỏi nên có khả năng phán đoán các xu hướng trả lời của HS).

Việc phân định Mã hai chữ số phải rất rõ ràng và phải phân loại được các xu

hướng trả lời của HS.

Ví dụ về Mã:

- Mã 0 (hoặc các mã bắt đầu với chữ 0 trong trường hợp mã hai chữ số được

áp dụng) được sử dụng trong trường hợp HS đưa ra các câu trả lời nhưng không đủ

thuyết phục hoặc không chấp nhận được.

Với Mã 0 “Các câu trả lời khác” (hoặc 0x đối với mã hóa hai chữ số) sẽ bao

gồm các các câu trả lời sau: Một câu trả lời chẳng hạn “Em không biết”, “câu hỏi

này quá khó”, “hết thời gian”, một dấu hỏi chấm hoặc dấu gạch ngang (—); Một

câu trả lời được viết ra nhưng sau đó bị tẩy xóa hoặc gạch chéo, dù cho dễ đọc hay

không; Một câu trả lời không thể hiện sự nỗ lực hoặc nghiêm túc khi làm bài. Ví dụ

HS có thể viết vào một câu đùa cợt, tên của thần tượng âm nhạc hoặc những nhận

xét tiêu cực về bài kiểm tra này.

- Nếu xác định Mã 1 (11) là mức tối đa thì sẽ khơng còn Mức chưa tối đa nữa.

- Nếu xác định Mã 2 (21) là mức tối đa thì chắc chắn sẽ phải có Mã 1 (11) là

mức chưa tối đa.

- Mã đặc biệt – Mã 9 (99): Mã này có tên là “Khơng trả lời” trong phần hướng

dẫn mã hóa. Mã này dành cho trường hợp HS không đưa ra được câu trả lời và để

trống. Như vậy nếu như phần dành cho HS trả lời để trống thì sử dụng mã 09 (hoặc

99).



18



Đặng

Kim

Cúc

Footer Page -Footer

PageThị

-Footer

Page

-Footer Page -Footer Page -Footer Page 24 of 103.



K35A – SP Sinh



Header Page -Header Page -Header Page - Header Page -Header Page -Header Page 25 of 103.



Khóa luận tốt nghiệp



Trường ĐHSP Hà Nội 2



1.2. Cơ sở thực tiễn

1.2.1. PISA tại Việt Nam

* Năm 2012, Việt Nam chính thức tham gia chương trình đánh giá PISA.

Để chuẩn bị tốt cho kỳ thi đánh giá chính thức vừa diễn ra vào năm 2012, Văn

phòng PISA tại Việt Nam được thành lập và đã có rất nhiều các hội thảo, các

nghiên cứu về PISA.

- Trong hai ngày 21 và 22 tháng 01 năm 2010, Tổ cơng tác thực hiện

chương trình READ Việt Nam và của Ngân hàng thế giới đã phối hợp tổ chức

hội thảo về Chương trình quốc tế đánh giá kết quả học tập của học sinh (PISA)

do PGS.TS. Margaret Wu, Đại học Melbourne, Australia trình bày.

- Ngày 9/12/2010, tại Viện Khoa học giáo dục Việt Nam đã tiến hành hội

thảo về PISA dưới sự chủ trì của GS.TS. Nguyễn Lộc - Phó Viện trưởng, Giám

đốc văn phòng PISA Việt Nam.

* Hiện đã có một số bài báo, đề tài khoa học về PISA đăng trên một số tạp

chí chuyên ngành hoặc Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia cụ thể là:

- Nguyễn Thị Phương Hoa (2000), “Chương trình đánh giá HS quốc tế

(PISA) (Mục đích, tiến trình thực hiện, các kết quả chính)”, Tạp chí Khoa học

Đại học Quốc gia Hà Nội, số 25.

- Nguyễn Ngọc Sơn (2010), “Góp phần tìm hiểu về chương trình đánh giá

HS quốc tế (PISA)”,Tập san Giáo dục- Đào tạo, số 3.

- Đỗ Tiến Đạt (2011), “Chương trình đánh giá HS quốc tế PISA”, Kỷ yếu

Hội thảo Quốc gia về giáo dục Toán học phổ thông.

- Nguyễn Thuý Hồng (2012), “Tác động của đánh giá PISA tới phát triển

chương trình giáo dục phổ thơng ở một số nước”, Tạp chí Khoa học giáo dục, số

81.



19



Đặng

Kim

Cúc

Footer Page -Footer

PageThị

-Footer

Page

-Footer Page -Footer Page -Footer Page 25 of 103.



K35A – SP Sinh



Header Page -Header Page -Header Page - Header Page -Header Page -Header Page 26 of 103.



Khóa luận tốt nghiệp



Trường ĐHSP Hà Nội 2



- Nguyễn Thị Hồng Vân, “Đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn của học

sinh trung học cơ sở theo hướng hình thành năng lực”, Viện Khoa học giáo dục.

- Lù Thị Vân Anh (2010), “Vận dụng PISA trong kiểm tra đánh giá kiến

thức của học sinh lớp 9 ở một số trường trung học cơ sở trên địa bàn thành phố

Sơn La”, Luận văn thạc sĩ, trường ĐHSP Hà Nội.

* Thực trạng sử dụng PISA tại Trường THPT Xuân Hòa- Vĩnh Phúc:

Qua quan sát và tìm hiểu thực tế cơng tác giảng dạy bộ mơn Sinh học tại

Trường THPT Xn Hòa, chúng tơi nhận thấy, PISA chưa được ứng dụng

nhiều, giáo viên mới tiếp cận PISA trong một số buổi tập huấn chuyên ngành.

Vì thế, cần đưa ra một quy trình xây dựng câu hỏi để có thế nhanh chóng đưa

quan điểm PISA vào trong quá trình giảng dạy.

1.2.2. PISA trong đánh giá năng lực học tập Sinh học của học sinh

* Qua tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu về PISA chúng tơi thấy rằng có

những thuận lợi trong việc khai thác tư tưởng của PISA để xây dựng câu hỏi

nhằm đánh giá năng lực học tập Sinh học của HS như:

- Đo lường được khả năng vận dụng kiến thức của HS.

- Đảm bảo tính khách quan, độ tin cậy trong kiểm tra đánh giá.

- Tác động tốt đến thái độ, động cơ học tập của HS: Ngoài việc tiếp thu

kiến thức thì HS cần phải quan tâm đến việc vận dụng kiến thức đã thu nhận

được vào cuộc sống. Ứng đáp trước những vấn đề trong khoa học với một thái

độ thích thú, ủng hộ nghiên cứu khoa học và động lưc để hành động một cách có

trách nhiệm đối với môi trường và các tài nguyên thiên nhiên,…

* Năng lực học tập Sinh học của HS là một mảng nằm trong khung năng

lực khoa học. Khung đánh giá năng lực khoa học của PISA áp dụng đối với môn

Sinh học, có thể biểu diễn qua sơ đồ sau:



20



Đặng

Kim

Cúc

Footer Page -Footer

PageThị

-Footer

Page

-Footer Page -Footer Page -Footer Page 26 of 103.



K35A – SP Sinh



Header Page -Header Page -Header Page - Header Page -Header Page -Header Page 27 of 103.



Khóa luận tốt nghiệp



Trường ĐHSP Hà Nội 2



Kiến thức



Ngữ cảnh

Các bối cảnh,

tình huống

trong cuộc sống

liên quan đến

sinh học và ứng

dụng sinh học



Năng lực

- Xác định các câu



hỏi khoa học.

- Giải thích hiện

tượng một cách có

khoa học và

- Sử dụng các chứng

cứ khoa học



Những gì bạn biết:

- Về giới tự nhiên

(kiến thức của sinh

học)

- Về bản thân bộ

môn sinh học



Thái độ

Bạn ứng đáp với các

vấn đề sinh học thế

nào (thích thú, ủng

hộ, trách nhiệm)



Sơ đồ 1: Khung đánh giá năng lực khoa học của PISA áp dụng đối với môn

Sinh học



21



Đặng

Kim

Cúc

Footer Page -Footer

PageThị

-Footer

Page

-Footer Page -Footer Page -Footer Page 27 of 103.



K35A – SP Sinh



Header Page -Header Page -Header Page - Header Page -Header Page -Header Page 28 of 103.



Khóa luận tốt nghiệp



Trường ĐHSP Hà Nội 2



Chương II. XÂY DỰNG CÂU HỎI THEO QUAN ĐIỂM PISA ĐỂ ĐÁNH

GIÁ NĂNG LỰC HỌC TẬP SINH HỌC



2.1. Cấu trúc, nội dung phần 2 Sinh học tế bào - Sinh học 10- CTC

2.1.1. Vị trí của Sinh học tế bào trong chương trình Sinh học phổ thơng

Trong chương trình Sinh học Trung học Phổ thông: Phần Sinh học tế bào

là “mắt xích” đầu tiên có vai trò đặc biệt quan trọng, cung cấp những kiến thức

nền tảng cho việc nghiên cứu sâu các cấp độ tổ chức sống cao hơn. Bên cạnh đó,

Sinh học tế bào được ứng dụng rất nhiều trong sản xuất và đời sống và trở thành

một trong những ngành công nghệ mũi nhọn của nền kinh tế tri thức của thế kỉ

XXI.

Các kiến thức sinh học trong chương trình Trung học Phổ thơng được

trình bày theo các cấp tổ chức sống, từ các hệ nhỏ đến các hệ lớn: Tế bào → Cơ

thể → Quần thể - Loài → Quần xã → Hệ sinh thái - Sinh quyển, cuối cùng tổng

kết những đặc điểm chung của các tổ chức sống theo quan điểm Tiến hóa - Sinh

thái.

2.1.2. Cấu trúc, nội dung

Phần 2- Sinh học tế bào đi sâu vào trình bày cấu tạo của tế bào: thành

phần hóa học, cấu trúc, các bào quan và các hoạt động sống của tế bào; trao đổi

chất và năng lượng trong tế bào, các hình thức phân bào,… Tồn bộ nội dung nói

trên được trình bày trong 4 chương:

* Chương 1: Thành phần hóa học của Tế bào

- Nội dung: Chủ yếu đề cập đến cấu trúc và chức năng của thành phần hóa

học của tế bào. Tế bào được cấu tạo từ rất nhiều thành phần trong đó chia ra làm



22



Đặng

Kim

Cúc

Footer Page -Footer

PageThị

-Footer

Page

-Footer Page -Footer Page -Footer Page 28 of 103.



K35A – SP Sinh



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Ngoài ra, năng lực thực nghiệm cũng yêu cầu HS phải có khả năng vận dụng kiến thức lí thuyết vào giải thích và giải quyết những vấn đề thực tiễn, có thái độ bảo vệ sức khỏe và môi trường sinh thái, có khả năng thích nghi tốt khi môi trường thay đổi,…

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×