Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Chương I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Tải bản đầy đủ - 0trang

Header Page -Header Page -Header Page - Header Page -Header Page -Header Page 12 of 103.



Khóa luận tốt nghiệp



Trường ĐHSP Hà Nội 2



+ Năng lực là tổ hợp các thuộc tính tâm lí độc đáo của cá nhân phù hợp với

yêu cầu của một hoạt động nhất định đảm bảo cho hoạt động đó nhanh chóng đạt

kết quả.

+ Năng lực thể hiện ở các mức độ:

 Mức 1: Hoàn thành kết quả





Mức 2 (mức tài năng): Hoàn thành kết quả có biểu hiện của sự sáng tạo







Mức 3 (mức thiên tài): Cao nhất, hoàn chỉnh nhất, sáng tạo, ý nghĩa với

cuộc sống



+ Năng lực được hình thành trong hoạt động học tập, lao động hoặc gắn với

hoạt động nào đấy, chịu sự chi phối của các yếu tố: Bẩm sinh (năng khiếu), mơi

trường, hoạt động của bản thân (tính tích cực, chủ động hoạt động hóa cá nhân).

- Năng lực (Capacity/Ability): Hiểu theo nghĩa chung nhất là khả năng (hoặc

tiềm năng) mà cá nhân thể hiện khi tham gia một hoạt động nào đó ở một thời

điểm nhất định. VD: khả năng giải tốn, khả năng nói tiếng Anh,... thường được

đánh giá bằng các trắc nghiệm trí tuệ (ability tests).

- Năng lực (Compentence): thường gọi là năng lực hành động: là khả năng

thực hiện hiệu quả một nhiệm vụ/một hành động cụ thể, liên quan đến một lĩnh

vực nhất định dựa trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và sự sẵn sàng hành

động.

* Tại Hội nghị chuyên đề về những năng lực cơ bản của Hội đồng châu Âu,

sau khi phân tích nhiều định nghĩa về năng lực, F.E. Weinert (OECD,2001) kết

luận: Xuyên suốt các môn học "năng lực được thể hiện như một hệ thống khả

năng, sự thành thạo hoặc những kỹ năng thiết yếu, có thể giúp con người đủ điều

kiện vươn tới một mục đích cụ thể".



6



Đặng

Kim

Cúc

Footer Page -Footer

PageThị

-Footer

Page

-Footer Page -Footer Page -Footer Page 12 of 103.



K35A – SP Sinh



Header Page -Header Page -Header Page - Header Page -Header Page -Header Page 13 of 103.



Khóa luận tốt nghiệp



Trường ĐHSP Hà Nội 2



Cũng tại diễn đàn này, J. Coolahan cho rằng: Năng lực được xem như là

"những khả năng cơ bản dựa trên cơ sở tri thức, kinh nghiệm, các giá trị và thiên

hướng của một con người được phát triển thông qua thực hành giáo dục"

Có thể thấy dù cách phát biểu có khác nhau, nhưng các cách hiểu trên đều

khẳng định: Nói đến năng lực là phải nói đến khả năng thực hiện, là phải biết

làm (know-how), chứ không chỉ biết và hiểu (know-what).

* Phân biệt giữa kỹ năng và năng lực:

- Kỹ năng hiểu theo nghĩa hẹp là những thao tác, những cách thức thực hành,

vận dụng tri thức/ kinh nghiệm thực hiện một hoạt động nào đó trong những mơi

trường quen thuộc. Hiểu theo cách này kỹ năng có được là do kinh nghiệm, thực

hành,... làm nhiều thành quen mà thiếu những hiểu biết, những tri thức... Kỹ

năng trong trường hợp này khơng giúp cá nhân thích ứng khi hồn cảnh, điều

kiện thay đổi.

- Kỹ năng hiểu theo nghĩa rộng, bao hàm những kiến thức, những hiểu biết,...

giúp cá nhân thích ứng khi hoàn cảnh, điều kiện thay đổi. Cách hiểu kỹ năng này

giống như là năng lực. Ví dụ, Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên

hợp quốc (UNESCO) định nghĩa: “Kỹ năng sống là năng lực cá nhân để thực

hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày”.

1.1.1.2. Phân loại năng lực

Phân loại năng lực là một vấn đề rất phức tạp, kết quả phân loại phụ thuộc

vào quan điểm và tiêu chí. Nhìn vào chương trình thiết kế theo hướng tiếp cận

năng lực của các nước có thể thấy 2 loại chính: Đó là những năng lực chung và

năng lực cụ thể, chuyên biệt.

* Năng lực chung: Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu để con

người có thể sống và làm việc bình thường trong xã hội. Năng lực này được hình



7



Đặng

Kim

Cúc

Footer Page -Footer

PageThị

-Footer

Page

-Footer Page -Footer Page -Footer Page 13 of 103.



K35A – SP Sinh



Header Page -Header Page -Header Page - Header Page -Header Page -Header Page 14 of 103.



Khóa luận tốt nghiệp



Trường ĐHSP Hà Nội 2



thành và phát triển do nhiều môn học, liên quan đến nhiều mơn học. Vì thế có

nước gọi là năng lực xun chương trình. Hội đồng châu Âu gọi là năng lực

chính. Cũng cần lưu ý là khái niệm năng lực chính được nhiều nước trong khối

EU sử dụng với các thuật ngữ khác nhau như: Năng lực nền tảng, năng lực chủ

yếu, kỹ năng chính, kỹ năng cốt lõi, năng lực cơ sở, khả năng, phẩm chất chính;

kỹ năng chuyển giao được...

Theo quan niệm của EU, mỗi năng lực chung cần:

- Góp phần tạo nên kết quả có giá trị cho xã hội và cộng đồng.

- Giúp cho các cá nhân đáp ứng được những đòi hỏi của một bối cảnh rộng

lớn và phức tạp.

- Chúng có thể khơng quan trọng với các chuyên gia, nhưng rất quan trọng

với tất cả mọi người.

* Năng lực riêng: Năng lực cụ thể, chuyên biệt là năng lực riêng được

hình thành và phát triển do một lĩnh vực/mơn học nào đó; Vì thế chương trình

Qbec gọi là năng lực mơn học cụ thể để phân biệt với năng lực xuyên chương

trình - năng lực chung.

- Năng lực học tập Sinh học thuộc năng lực cụ thể. Năng lực của HS trong

học tập Sinh học hay nói cách khác là năng lực học tập Sinh học của HS có thể

được chia thành:

+ Năng lực nhận thức về Sinh học: Benjamin Bloom đề xuất một thang 6 mức

độ của năng lực nhận thức, bao gồm:

 Biết: Là khả năng HS ghi nhớ và nhận diện thông tin, được hiểu là nhớ lại

những kiến thức một cách máy móc và nhắc lại. Những hoạt động tương

ứng với mức độ biết có thể là xác định, đặt tên, liệt kê, đối chiếu hoặc gọi

tên.



8



Đặng

Kim

Cúc

Footer Page -Footer

PageThị

-Footer

Page

-Footer Page -Footer Page -Footer Page 14 of 103.



K35A – SP Sinh



Header Page -Header Page -Header Page - Header Page -Header Page -Header Page 15 of 103.



Khóa luận tốt nghiệp



Trường ĐHSP Hà Nội 2



Ví dụ cho mức độ nhận thức này là khi giáo viên yêu cầu HS “kể tên các kì

của quá trình nguyên phân” hay “Nêu các bậc cấu trúc của prôtêin”,…

 Hiểu: Là khả năng HS hiểu, diễn dịch, diễn giải, giải thích hoặc suy diễn

một vấn đề theo lối suy nghĩ và cách hành văn của chính mình. Bên cạnh

đó còn có thể dự đốn được kết quả hay hậu quả của vấn đề. Những hoạt

động tương ứng với mức độ hiểu có thể là diễn giải, tổng kết, kể lại, viết

lại theo cách hiểu của mình,…

Ví dụ của mức độ hiểu đó là khi giáo viên yêu cầu HS “Mơ tả kì giữa của q

trình ngun phân” Hoặc “ Hãy trình bày tóm tắt q trình hơ hấp tế bào”,…

 Vận dụng: Có thể được hiểu là khả năng sử dụng kiến thức đã học trong

những tình huống cụ thể hay tình huống mới. Vận dụng là mức bắt đầu

của sáng tạo. Những hoạt động tương ứng với mức vận dụng có thể là

chuẩn bị, sản xuất, giải quyết, vận hành hoặc theo một cơng thức nấu

ăn,…

Ví dụ về hoạt động vận dụng đó là khi giáo viên đưa cho HS các bản hướng

dẫn viết và yêu cầu “Hãy giải thích tại sao từ 4 loại nuclêơtit đã tạo ra sự đa dạng

và phong phú của thế giới sinh vật?” hay “ Tại sao muốn giữ rau tươi, ta phải

thường xuyên vảy nước vào rau?”,…

 Phân tích: Là khả năng phân nhỏ đối tượng thành các hợp phần cấu thành

để hiểu rõ hơn cấu trúc của nó. Ở mức độ này đòi hỏi khả năng phân loại.

Các hoạt động liên quan đến mức độ phân tích có thể là vẽ biểu đồ, lập

dàn ý, phân biệt hoặc chia nhỏ các thành phần,…



9



Đặng

Kim

Cúc

Footer Page -Footer

PageThị

-Footer

Page

-Footer Page -Footer Page -Footer Page 15 of 103.



K35A – SP Sinh



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×