Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 2: Tổng quan về Router Cisco

Chương 2: Tổng quan về Router Cisco

Tải bản đầy đủ - 0trang

Trang 6



Hình 2.2: Kết nới Router bằng các cơng nghệ WAN.



2.2.



Các thành phần bên trong Router



Cấu trúc chính xác của router rất khác nhau tuỳ theo từng phiên bản router. Trong phần

này chỉ giới thiệu về các thành phần cơ bản của router.



Hình 2.3:Các thành phần bên trong Router.

CPU - Đơn vị xử lý trung tâm: thực thi các câu lệnh của hệ điều hành để thực hiện các

nhiệm vụ sau: khởi động hệ thống, định tuyến, điều khiển các cổng giao tiếp mạng. CPU

là một bộ vi xử lý. Trong các router lớn có thể có nhiều CPU.

RAM - Được sử dụng để lưu bảng định tuyến, cung cấp bộ nhớ cho chuyển mạch nhanh,

chạy tập tin cấu hình và cung cấp hàng đợi cho các gói dữ liệu. Trong đa số router, hệ

điều hành Cisco IOS chạy trên RAM. RAM thường được chia thành hai phần: phần bộ

nhớ xử lý chính và phần bộ nhớ chia sẻ xuất/nhập. Phần bộ nhớ chia sẻ xuất/nhập được

chia cho các cổng giao tiếp làm nơi lưu trữ tạm các gói dữ liệu.Tồn bộ nội dung trên

RAM sẽ bị xố khi tắt điện. Thông thường, RAM trên router là loại RAM động (DRAM



GVHD: TS. Đàm Quang Hồng Hải



SVTH: Trần Cơng Minh

Hồng Thị Bích Trân



Trang 7



– Dynamic RAM) và có thể nâng thêm RAM bằng cách gắn thêm DIMM (Dual In-Line

Memory Module).

Flash - Bộ nhớ Flash được sử dụng để lưu toàn bộ phần mềm hệ điều hành Cisco IOS.

Mặc định là router tìm IOS của nó trong flash. Bạn có thể nâng cấp hệ điều hành bằng

cách chép phiên bản mới hơn vào flash. Phần mềm IOS có thể ở dưới dạng nén hoặc

không nén. Đối với hầu hết các router, IOS được chép lên RAM trong q trình khởi

động router. Còn có một số router thì IOS có thể chạy trực tiếp trên flash mà khơng cần

chép lên RAM. Bạn có thể gắn thêm hoặc thay thế các thanh SIMM hay card PCMCIA

để nâng dung lượng flash.

NVRAM (Non-volative Random-access Memory) - Là bộ nhớ RAM không bị mất thông

tin, được sử dụng để lưu tập tin cấu hình. Trong một số thiết bị có NVRAM và flash

riêng, NVRAM được thực thi nhờ flash. Trong một số thiết bị, flash và NVRAM là cùng

một bộ nhớ. Trong cả hai trường hợp, nội dung của NVRAM vẫn được lưu giữ khi tắt

điện.

ROM (Read Only Memory): Là nơi lưu đoạn mã của chương trình kiểm tra khi khởi

động. Nhiệm vụ chính của ROM là kiểm tra phần cứng của router khi khởi động, sau đó

chép phần mềm Cisco IOS từ flash vào RAM. Một số router có thể có phiên bản IOS cũ

dùng làm nguồn khởi động dự phòng. Nội dung trong ROM khơng thể xố được. Ta chỉ

có thể nâng cấp ROM bằng cách thay chip ROM mới.

Các cổng giao tiếp: Là nơi router kết nối với bên ngồi. Router có 3 loại cổng: LAN,

WAN và console/AUX. Cổng giao tiếp LAN có thể gắn cố định trên router hoặc dưới

dạng card rời.

Cổng giao tiếp WAN có thể là cổng Serial, ISDN, cổng tích hợp đơn vị dịch vụ kênh

CSU (Chanel Service Unit). Tương tự như cổng giao tiếp LAN, các cổng giao tiếp WAN

cũng có chip điều khiển đặc biệt. Cổng giao tiếp WAN có thể định trên router hoặc ở

dạng card rời.

Cổng console/AUX là cổng nối tiếp, chủ yếu được dử dụng để cấu hình router. Hai cổng

này khơng phải là loại cổng để kết nối mạng mà là để kết nối vào máy tính thơng qua

modem hoặc thơng qua cổng COM trên máy tính để từ máy tính thực hiện cấu hình

router.

Nguồn điện: Cung cấp điện cho các thành phần của router, một số router lớn có thể sử

dụng nhiều bộ nguồn hoặc nhiều card nguồn. Còn ở một số router nhỏ, nguồn điện có thể

là bộ phận nằm ngồi router.



GVHD: TS. Đàm Quang Hồng Hải



SVTH: Trần Cơng Minh

Hồng Thị Bích Trân



Trang 8



Hình 2.4: Sơ đồ khới các thành phần trên mạch Router.



2.3.



Các loại kết nới của Router



Router có ba loại kết nối cơ bản là: cổng LAN, WAN và cổng quản lý router. Cổng giao

tiếp LAN cho phép router kết nối vào môi trường mạng cục bộ LAN. Thông thường,

cổng giao tiếp LAN là cổng Ethernet. Ngồi ra cũng có cổng Token Ring và ATM

(Asynchronous Tranfer Mode).

Kết nối mạng WAN cung cấp kết nối thông qua các nhà cung cấp dịch vụ đến các chi

nhánh ở xa hoặc kết nối vào Internet. Loại kết nối này có thể là nối tiếp hay bất kỳ loại

giao tiếp WAN, bạn cần phải có thêm một thiết bị ngoại vi như CSU chẳng hạn để nối



GVHD: TS. Đàm Quang Hồng Hải



SVTH: Trần Công Minh

Hồng Thị Bích Trân



Trang 9



Router đến nhà cung cấp dịch vụ. Đối với một số loại giao tiếp WAN khác thì bạn có thể

kết nối trực tiếp router của mình đến nhà cung cấp dịch vụ.

Cổng console và cổng AUX là cổng quản lý trên router. Loại cổng nối tiếp bát đồng bộ

này được thiết kế không phải để kết nối mạng mà là để cấu hình router.

Để kết nối PC vào cổng console bạn cần có cáp rollover và bộ chuyển đổi RJ45-DB9. PC

hay thiết bị đầu cuối phải có chương trình Hyper Terminal.



2.4.



Hệ điều hành Cisco IOS

2.4.1.



Định nghĩa IOS



IOS viết tắt của từ Internetwork Operating System, là một hệ điều hành hoạt động trên

phần cứng của router Cisco, nó điều khiển hoạt động định tuyến và chuyển mạch của một

router Rên của hệ điều hành IOS thì gồm có 3 phần: aaaa-bbbb-cccc trong đó: - aaaa:

dòng sản phẩm áp dụng hệ điều hành này - bbbb: các tính năng của IOS - cc: định dạng

file IOS, nơi IOS chạy, kểu nén của IOS

Ví dụ:tên một IOS: C3620-i-mz_113-8T1.bin

2.4.2.



Tổng quan về kiến trúc của IOS của Cisco



Khi mà lợi ích của việc định tuyến qua mạng trở nên phát triển, đòi hỏi router phải hỗ trợ

một số những giao thức và cung cấp những chức năng khác, như cầu nối giữa các mạng.

Cisco đã thêm những tính năng mới cho phần mềm của router. Kết quả có nhiều chức

năng cầu nối và định tuyến như ngày nay. Nhưng hầu như cấu trúc cơ bản của hệ điều

hành vẫn giống như ban đầu. IOS thật sự là một cấu trúc đơn giản, cực nhỏ. IOS được

thiết kế dựa vào những ràng buộc về bộ nhớ, về tốc độ, phần cứng của router.



Hình 2.5: Kiến trúc IOS của Cisco



GVHD: TS. Đàm Quang Hồng Hải



SVTH: Trần Cơng Minh

Hồng Thị Bích Trân



Trang 10



Kiến trúc IOS của Cisco bao gồm:

+ Các tiến trình ( Processes ): Là những tuyến riêng lẻ kết hợp với dữ liệu để thực hiện

những tác vụ, như duy trì hệ thống, chuyển mạch gói dữ liệu, thực hiện giao thức định

tuyến…

+ Nhân ( Kernel ): Cung cấp những dịch vụ cơ bản của hệ thống tùy thuộc vào IOS, như:

quản lý bộ nhớ, lập lịch các tiến trình... Nó cung cấp quản lý tài nguyên phần cứng (CPU,

bộ nhớ) cho các tiến trình.

+ Bộ đệm gói ( Packet buffer ): Cung cấp các bộ đệm toàn cục và kết hợp với chức năng

quản lý bộ đệm để lưu trữ gói dữ liệu đang được chuyển mạch.

+ Trình điều khiển thiết bị ( Device drivers ): Làm chức năng điều khiển giao tiếp giữa

phần cứng và thiết bị ngoại vi, giao tiếp giữa các tiến trình IOS, kernel, và phần cứng.

Chúng cũng giao tiếp với các phần mềm chuyển mạch nhanh (fast switching software).

+ Phần mềm chuyển mạch nhanh ( Fast switching software ): Chức năng chuyển mạch

gói dữ liệu cao.

2.4.3.



Tổ chức bộ nhớ



IOS ánh xạ toàn bộ bộ nhớ vật lý thành một không gian địa chỉ ảo phẳng rộng lớn. MMU

( memory map unit ) của CPU có giá trị khi được sử dụng để tạo không gian địa chỉ ảo

thậm chí khi mà IOS khơng tận dụng một khối nhớ ảo trọn vẹn.

2.4.3.1.



Miền bộ nhớ (memory region)



IOS chia không gian địa chỉ này thành những miền bộ nhớ gọi là region,

mỗi region phù hợp với những loại bộ nhớ vật lý khác nhau. Ví dụ, SRAM có thể

lưu trữ gói dữ liệu và DRAM có thể lưu trữ phần mềm hoặc dữ liệu. Phân lớp bộ

nhớ thành các region cho phép IOS phân loại các loại bộ nhớ khác nhau vì vậy mà

phần mềm khơng cần biết chi tiết về bộ nhớ trên mỗi platform (Nền về phần

cứng). Các region được phân chia thành một trong tám mục như bảng 1.1.



GVHD: TS. Đàm Quang Hồng Hải



SVTH: Trần Công Minh

Hồng Thị Bích Trân



Trang 11



Bảng 2.1: Các loại region

Những region cũng có thể được đặt trong mối quan hệ cha con. Mặc dầu khơng có một áp

đặt giới hạn trên chiều sâu của mối quan hệ này. Những region đặt trong quan hệ này là

những subregion (miền con) của miền cha Hình 3.3: Hiển thị cách bố trí bộ nhớ ảo trên

một platform điển hình, bao gồm những region và subregion mà IOS có thể tạo



Hình 2.6: Region và subregion

Bạn có thể dùng lệnh show region để hiện thị các region được định nghĩa trên hệ

thống: router#show region Region Manager: Start End Size(b) Class Media Name

GVHD: TS. Đàm Quang Hồng Hải



SVTH: Trần Cơng Minh

Hồng Thị Bích Trân



Trang 12



0x01A00000 0x01FFFFFF 6291456 Iomem R/W iomem 0x31A00000 0x31FFFFFF

6291456 Iomem R/W iomem: (iomem_cwt) 0x4B000000 0x4B0FFFFF 1048576 PCI

R/W pcimem 0x60000000 0x619FFFFF 27262976 Local R/W main 0x600088F8

0x61073609 17214738 IText R/O main:text 0x61074000 0x611000FF 573696 idata R/W

main:data 0x61100100 0x6128153F 1578048 IBss R/W main:bss 0x61281540

0x619FFFFF 7858880 Local R/W main:heap 0x7B000000 0x7B0FFFFF 1048576 PCI

R/W pcimem: (pcimem_cwt) 0x80000000 0x819FFFFF 27262976 Local R/W main:

(main_k0) 0xA0000000 0xA19FFFFF 27262976 Local R/W main: )main_k1) Được mô tả

như sau: Tên của region, địa chỉ bắt đầu, địa chỉ kết thúc, và kích thước region đó. Ví

dụ: Iomem R/W iomem 0x31A00000 0x31FFFFFF 6291456 (tên region iomem, địa chỉ

bắt đầulà 0x31A00000, địa chỉ kết thúc là: 0x31FFFFFF, kích thước:6291456 byte ) Bạn

có thể thấy ở hình 1.2, toàn bộ DRAM từ địa chỉ 0x60000000 đến 0x619FFFFF được

phân loại như là một region local và hơn nữa được chia thành cácsubregion.

Những subregion này tương đương với những phần khác nhau của IOS (text, BSS, data)

và heap.

2.4.3.2.



Vùng bộ nhớ: (memory pool)



IOS quản lý bộ nhớ rỗi, thông qua một chuỗi các memory pool. Mỗi pool là một tập hợp

các khối nhớ mà có thể cấp phát và thu hồi khi cần. Memory pool được xây dựng bên

ngoài các region và được quản lý bởi kernel. Thường thì, pool tương đương với

một region đặc biệt. Một memory pool có thể được xây dựng từ một vài region mở rộng,

cho phép bộ nhớ được cấp phát và thu hồi từ các miền bộ nhớ khác nhau để tối đa hiệu

quả hoạt động Bạn có thể dùng lệnh show memory để hiển thị các pool này

router#show memory Head Total(b) Used(b) Free(b) Lowest(b) Largest(b) Processor

61281540 7858880 3314128 4544752 4377808 4485428 I/O 1A00000 6291456 1326936

4964520 4951276 4964476 PCI 4B000000 1048576 407320 641256 641256 641212 ...

Mơ tả như sau: (kích thước tính theo byte)

- Total: kích thước của pool

- Used: lượng bộ nhớ được cấp phát

- Free: lượng bộ nhớ sẵn sàng để sử dụng

a) Lowest: lượng bộ nhớ thấp nhất sẵn sàng sử dụng từ khi mà pool được tạo

b) Largest: kích thước khới nhớ liên tục lớn nhất sẵn sàng sử dụng hiện tại.

c) Lệnh show memory ở trên cung cấp ba pool với các tham số tương ứng: heap,

processor và I/O



GVHD: TS. Đàm Quang Hồng Hải



SVTH: Trần Cơng Minh

Hồng Thị Bích Trân



Trang 13



2.4.4.



Tiến trình IOS (processes IOS)



2.4.4.1.



Vòng đời của một tiến trình



Một tiến trình có thể được tạo ra hoặc kết thúc bất cứ lúc nào trong khi IOS đang hoạt

động ngoại trừ có ngắt xảy ra. Nó được tạo ra bởi kernel hoặc bỏi một tiến trình khác

đang chạy khác.

Một thành phần có trách nhiệm tạo nhiều tiến trình trong IOS gọi là parser (bộ phân

tách). Parser này là một tập các chức năng làm phiên dịch cấu hình IOS và dòng lệnh

EXEC.Parser được yêu cầu bởi kernel trong suốt quá trình khởi tạo IOS và các tiến trình

EXEC, để cung cấp một giao tiếp dòng lệnh CLI thơng qua giao tiếp console (giao tiếp

người và máy) và các phiên telnet. Tại bất cứ thời điểm nào, một lệnh được nhập bởi

người dùng hoặc một cấu hình được đọc từ file, parser phiên dịch dòng lệnh và đưa ra

những hoạt động tức thời. Một vài lệnh cấu hình bởi việc gán giá trị, như địa chỉ IP, trong

khi cấu hình khác như định tuyến hoặc giám sát. Một vài lệnh làm cho parser khởi tạo

một tiến trình mới. Ví dụ: khi mà lệnh cấu hình router eigrp được nhập vào, parser khỏi

tạo một tiến trình mới, gọi là ipigrp (nếu như tiến trình ipigrp đã được khởi tạo rồi), bắt

đầu xử lý gói ip EIGRP. Nếu như lệnh cấu hình no router eigrpđược nhập vào, parser kết

thúc tiến trình ipigrp và khơng còn chức năng định tuyến EIGRP. Tiến trình IOS thì trải

qua một các trạng thái như sau:



Hình 2.7: Các trạng thái của một tiến trình IOS

GVHD: TS. Đàm Quang Hồng Hải



SVTH: Trần Cơng Minh

Hồng Thị Bích Trân



Trang 14



i.



Trạng thái khởi tạo (Create)



Khi mà một tiến trình mới được tạo, nó nhận vùng stack riêng của mình và vào trạng thái

mới (new). Tiến trình có thể di chuyển đến trạng thái điều chỉnh (modify). Nếu khơng có

thay đổi cần thiết, thì tiến trình chuyển sang trạng thái thực thi (Execute)

ii.



Trạng thái điều chỉnh (modify)



Không giống như hầu hết các hệ điều hành, IOS không tự động truyền tải các tham số

khởi tạo hoặc gán một giao tiếp đến một tiến trình mới khi nó được tạo, bởi vì nó cho

rằng hầu hết các tiến trình khơng cần tài ngun này. Nếu một tiến trình cần nguồn tài

nguyên này, tuyến mà tạo nó có thể điều chỉnh để thêm vào.

iii.



Trạng thái thực thi (Execute)



Sau khi một tiến trình mới được tạo thành cơng và điều chỉnh, nó chuyển sang trạng thái

sẵn sàng (Ready) và vào trạng thái thực thi (Execute). Trong suốt trạng thái này, một tiến

trình có thể truy cập CPU và chạy. Trong suốt trạng thái thực thi, một tiến trình có thể là

một trong ba trạng thái: sẵn sàng, chạy, và rỗi (Idle). Một tiến trình ở trạng thái sẵn sàng

sẽ đợi chuyển sang trạng thái truy cập CPU, và bắt đầu thực thi lệnh, một tiến trình ở

trạng thái rỗi là đang ngủ, đợi sự kiện bên ngồi xuất hiện trước khi nó có thể chạy. Một

tiến trình chuyển từ trạng thái sẵn sàng sang trạng thái chạy khi mà nó được lập lịch để

chạy. Với đa tác vụ mà không ưu tiên (non-preemptive multitasking), một tiến trình được

lập lịch chạy trên CPU cho đến khi tạm ngừng hoặc kết thúc. Một tiến trình có thể tạm

dừng theo hai cách: nó có thể tự dừng bởi việc báo cho kernel, nó muốn nhường CPU, và

chuyển sang trạng thái sẵn sàng, và đợi đến lúc chạy lại. Tiến trình cũng có thể dừng bởi

một hoạt động bên ngồi xảy ra. Khi mà một tiến trình bắt đầu đợi một sự kiện,kernel

hồn tồn dừng tiến trìnhn này và chuyển nó sang trạng thái rỗi. Sau khi một sự kiện xảy

ra rồi thì kernel chuyển tiến trình trở lại trạng thái sẵn sàng để đợi chạy lại.

iv.



Trạng thái kết thúc (Terminal):



Trạng thái cuối cùng trong vòng đời của tiến trình là trạng thái kết thúc. Một tiến trình

vào trạng thái kết thúc khi nó hồn thành chức năng của mình và đóng lại hoặc khi một

tiến trình khác đóng nó. Khi một tiến trình bị đóng hoặc tự đóng, tiến trình chuyển sang

trạng thái chết (Dead). Tiến tình này ỏ trạng thái chết (không hoạt động) cho đến khi

kernel thu hồi tất cả các tài nguyên của nó. Sau khi tài ngun được thu hồi, tiến trình bị

kết thúc thốt khỏi trạng thái chết và được xóa khỏi hệ thống.

2.4.4.2.



Độ ưu tiên tiến trình IOS



GVHD: TS. Đàm Quang Hồng Hải



SVTH: Trần Cơng Minh

Hồng Thị Bích Trân



Trang 15



IOS thực hiện chế dộ ưu tiên để lập lịch các tiến trình trên CPU. Tại thời điểm tạo, mỗi

tiến trình được gán một trong 4 độ ưu tiên dựa trên mục đích của tiến trình. Độ ưu tiên là

khơng đổi, chúng được gán khi một tiến trình được tạo và khơng bao giờ thay đổi. Ta có

các độ ưu tiên:

- Critical:

Dành riêng cho những tiến trình hệ thống thiết yếu mà giải quyết những vấn đề cấp phát

tài nguyên

- High:

Được gán cho những tiến trình mà cung cấp thời gian đáp ứng nhanh, như tiến trình nhận

gói trực tiếp từ giao tiếp mạng

- Medium:

Độ ưu tiên mặc định sử dụng bỏi hầu hết các tiến trình

- Low:

Được gán cho những tiến trình cung cấp những tác vụ mang tính định kỳ, như bảng ghi

lỗi... Độ ưu tiên các tiến trình cung cấp sự ưu đãi cho một vài tiến trình để truy cập CPU

dựa trên sự quan trọng của nó đối với hệ thống, nhớ rằng IOS không thực hiện quyền ưu

tiên. Một tiến trình có độ ưu tiên cao hơn khơng thể ngắt một tiến trình có độ ưu tiên thấp

hơn, thay vào đó, tiến trình có độ ưu tiên cao hơn thì có nhiều cơ hội hơn để truy cập

CPU hơn.

2.4.5.



Kernel IOS



IOS kernel không là một đơn vị đơn mà là một tập các thành phần và chức năng liên kết

chặt chẽ với nhau. IOS kernel thực hiện các chức năng sau: Lập lịch tiến trình, quản lý bộ

nhớ, cung cấp dịch vụ routimes để trap (phát hiện ) và handle (điều khiển ) những ngắt

phần cứng, duy trì timers (bộ định thời gian), và phát hiện ngoại lệ phần mềm. Các chức

năng chính của kernel:

2.4.5.1.



Lập lịch



Tác vụ lập lịch các tiến trình được thực hiện bởi scheduler ( bộ lập lịch ). Scheculer quản

lý tất cả các tiến trình trong hệ thống bằng cách sử dụng một chuỗi các hàng đợi tiến trình

mơ tả trạng thái của mỗi tiến trình. Các hàng đợi này chứa nội dung thông tin cho tiến

trình ở trạng thái đó. Tiến trình chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác khi mà

scheduler duy chuyển ngữ cảnh của chúng từ 1 hàng đợi tiến trình này đến hàng đợi tiến

trình khác. Có tất cả sáu hàng đợi tiến trình.

Idle queue: Chứa những tiến trình mà vẫn hoạt động nhưng đang đợi một sự

kiện xảy ra trước khi có thể chạy.



GVHD: TS. Đàm Quang Hồng Hải



SVTH: Trần Cơng Minh

Hồng Thị Bích Trân



Trang 16



Dead queue: Chứa các tiến trình đã kết thúc nhưng cần bị thu hồi tài nguyên trước

khi có thể xóa chúng ra khỏi hệ thống.

Ready queues: Chứa các tiến trình mà có đủ điều kiện chạy, có 4 loại hàng đợi sẵn

sàng, là một trong những độ ưu tiên của tiến trình:

o Critical

o High

o Medium

o Low

Khi một tiến trình đang chạy bị tạm ngưng, scheduler lấy lại quyền điều khiển CPU và

đưa ra một thuật tốn để chọn tiến trình kế tiếp từ hàng đợi sẵn sàng. Các bước cho thuật

toán như sau:

Bước 1: scheduler đầu tiên kiểm tra các tiến trình đang đợi trong hàng đợi sẵn sàng có độ

ưu tiên critical. Nó chạy mỗi tiến trình có độ ưu tiên critical, lần lượt, cho đến khi tất cả

có cơ hội để chạy.

Bước 2: sau khi tất cả cá tiến trình có độ ưu tiên critical có một cơ hội để

chạy, scheduler kiểm tra hàng đợi có độ ưu tiên high, nếu khơng có tiến trình có độ ưu

tiên high sẵn sàng, thì scheduler bỏ qua bước 2 và tới bước 3, và kiểm tra hàng đợi có độ

ưu tiên medium. Mặc khác, scheduler xóa mỗi tiến trình có độ ưu tiên high từ hàng đợi

và cho phép chạy. Giữa các tiến trình độ có ưu tiên high, scheduler kiểm tra bất cứ kỳ

tiến trình độ ưu tiên critical mà đã sẵn sàng và chạy tất cả chúng trước khi xử lý tiến trình

độ có độ ưu tiên high tiếp theo. Sau khi tất cả các tiến trình độ ưu tiên high có cơ

hội, scheduler bỏ qua hàng đợi medium và low và trở về bước 1.

Bước 3: sau khi khơng có tiến trình có độ ưu tiên high đang chờ để chạy, scheduler kiểm

tra hàng đợi có độ ưu tiên medium. Nếu khơng có tiến trình có độ ưu tiên medium sẵn

sàng, scheduler bỏ qua bước 3 và tới bước 4 và kiểm tra hàng đợi dộ ưu tiên low. Mặc

khác, scheduler xóa mỗi tiến trình độ ưu tiên medium từ hàng đợi và cho phép nó chạy.

Giữa mỗi tiến trình độ ưu tiên medium, sheduler kiểm tra bất kỳ các tiến trình độ ưu tiên

high mà sẵn sàng và chạy tất cả chúng trước khi xử lý các tiến trình độ ưu tiên meidum

tiếp theo. Sau khi các tiến trình độ ưu tiên medium có cơ hội, scheduler bỏ qua hàng đợi

độ ưu tiên low, và bắt đầu lại bước1. Scheduler bỏ qua hàng đợi độ ưu tiên low tối đa là

15 lần trước khi đến bước 4. Scheduler này là bộ máy dự phòng đảm bảo an tồn để ngăn

chặn sự cố, các tiến trình độ ưu tiên low khơng được sử dụng CPU.

Bước 4: khi khơng có tiến trình có độ ưu tiên high hoặc medium chờ để chạy (hoặc hàng

đợi độ ưu tiên low bị bỏ qua 15 lần) scheduler kiểm tra hàng đợi có độ ưu tiên

GVHD: TS. Đàm Quang Hồng Hải



SVTH: Trần Cơng Minh

Hồng Thị Bích Trân



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 2: Tổng quan về Router Cisco

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×