Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2 – HỆ ĐIỀU HÀNH MẠNG; THIẾT BỊ MẠNG VÀ CÁC GIAO THỨC TRONG QUẢN LÝ MẠNG

CHƯƠNG 2 – HỆ ĐIỀU HÀNH MẠNG; THIẾT BỊ MẠNG VÀ CÁC GIAO THỨC TRONG QUẢN LÝ MẠNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

bản phân phối chủ yếu của Linux có thể kể đến như sau: Ubuntu, Debian, RedHat,

Fedora, OpenSUSE, Mint, CentOS, Gentoo, Open Solaris …

Hiện nay Linux đang ở thời điểm phát triển mạnh. Tính tới năm 2013 thì

Linux đã ra đời được 22 năm với nhiều sự cải tiến và hoàn thiện về mặc chức năng.

Dần dần Linux khơng chỉ đóng vai tròng đơn thuần là một hệ điều hành dành cho

máy chủ hay máy tính cá nhân nữa, mà nó đã xâm nhập vào nhiều vai trò khác nhau

trong cơng nghệ thông tin như: hệ điều hành cho các máy tính cá nhân, thiết bị di

động, máy chủ, mainframe, siêu máy tính, nền tảng ảo hóa,...Nói tóm lại, ngày nay

Linux là một nền tảng. Nó là một cơng nghệ then chốt cho phép ta tạo ra các sản

phẩm mới, mà một vài trong số các sản phẩm đó mới chỉ được giới thiệu gần đây.

2.1.2. LINUX SỬ DỤNG TRÊN CÁC MÁY CHỦ

Với các đặc điểm nổi trội về mặc tính năng cũng như tính mở. Linux đang

chiếm vị thế áp đảo so với hệ điều hành Windows của Microsoft trong thị trường

máy chủ hiện nay. Theo số liệu thống kê từ W3Techs vào tháng 12 năm 2013, số

lượng máy chủ Web sử dụng hệ điều hành Unix nói chung chiếm 66.8% (trong đó

Linux chiếm 31.8%) so với hệ điều hành Windows chỉ chiếm 34.1%. Ngoài ra, ở thị

trường hệ điều hành dành cho siêu máy tính hoặc các Mainframes, hầu như không

thấy sự xuất hiện của hệ điều hành Windows (chiếm 0.4% ở mảng hệ điều hành cho

siêu máy tính), thay vào đó hệ điều hành Linux, Unix được sử dụng.

Thông thường hệ điều hành Linux được cài đặt trên các máy chủ dịch vụ đều

ở dạng khơng có giao diện người dùng (GUI - Graphic User Interface) điều này

giúp máy chủ tiết kiệm được khá nhiều tài nguyên cho những dịch vụ không cần

thiết. Tuy nhiên, người quản trị sẽ phải thao tác trên hệ điều hành của máy chủ hồn

tồn bằng dòng lệnh hoặc các cơng cụ quản trị từ xa khác như Puppet, Chef,

Fabric,...Các máy chủ như thế này có thể có rất nhiều, một người quản trị hệ thống

có thể phải quản trị tới hàng trăm máy chủ. Vì thế, cơng cụ giám sát, theo dõi hệ

thống là rất cần thiết nhằm đảm bảo các dịch vụ trên máy chủ được vận hành tốt.



16



Hiện nay có rất nhiều bản phân phối Linux (Linux distros) được sử dụng phổ

biến trên máy chủ như Ubuntu Server, CentOS, Red Hat, SUSE,... Mỗi distro đều

có các đặc thù khác nhau tùy theo nhà phát triển. Tuy nhiên, chúng đều là Linux,

đều được xây dựng dựa trên những mã nguồn kernel tương tự nhau. Vì thế việc xây

dựng các cơng cụ quản trị, giám sát hoạt động dùng cho cho các distro này là khá dễ

dàng và thuận tiện. Đây là một trong những điểm nổi bật bên cạnh “tính mở” của

Linux khiến nó ngày càng trở nên phổ biến và được hỗ trợ nhiều hơn bởi các hãng

thứ ba và cộng đồng lập trình viên quốc tế, gây áp đảo với hệ điều hành Windows

Server của Microsoft trên thị trường hệ điều hành máy chủ.

2.2.



HỆ ĐIỀU HÀNH WINDOWS SERVER



2.2.1. LỊCH SỬ HỆ ĐIỀU HÀNH WINDOWS

Hệ điều hành Windows là sản phẩm độc quyền của Microsoft được giới thiệu

lần đầu tiên vào tháng 11 năm 1985. Có thể nói, hệ điều hành Windows đã mang

đến một bước đột phá mới về giao diện người dùng vào thời điểm bấy giờ. Giống

như ý nghĩa của nó, Windows tức chỉ “cửa sổ”, hệ điều hành này cung cấp các giao

diện đồ họa, các cửa sổ ứng dụng, tạo ra sự thân thiện hơn cho người dùng so với

chế độ dòng lệnh của các hệ điều hành trước đó. Và kể từ đó đến nay, Microsoft dần

dần chiếm ưu thế trong thị trường máy tính cá nhân trên tồn thế giới với số lượng

máy tính cài đặt hệ điều hành Windows chiếm khoản 90% vào năm 2004. Một số

điểm tiêu biều của hệ điều hành Windows có thể kể đến như sau:

 Một hệ điều hành đa nhiệm có thể xử lý nhiều chương trình cùng một lúc

 Gồm các biểu tượng (icon). Mỗi biểu tượng đại diện cho một đối tượng

như thư mục hồ sơ (folder), tệp tin (file),...

 Một trình tổng hợp của các dứng dụng như trình soạn thảo văn bản, trình

đồ họa và các ứng dụng hữu ích như lịch, đồng hồ, máy tính, trình duyệt,

trò chơi,...

 Giao diện đồ họa bắt mắt, dễ sử dụng.

Với những ưu điểm đánh tới nhu cầu sử dụng của người dùng cuối như vậy,

hệ điều hành Windows đã và đang dần chiếm vị trí độc tơn trong thi trường hệ điều

17



hành dành cho máy tính cá nhân. Tuy nhiên, cũng vì sự phổ biến của hệ điều hành

này mà ngày nay nó là mục tiêu hướng tới hàng đầu của các Hacker nhằm khai thác

lỗ hổng tấn công người dùng thông qua Virus, Worm và các phương thức tấn công

khác,...

2.2.2. HỆ ĐIỀU HÀNH WINDOWS SERVER

Ngoài các phiên bản Windows được sử dụng cho người dùng cuối, Microsoft

cũng phát triển hệ điều hành dùng cho máy chủ là Windows Server. Các phiên bản

của Windows Server bao gồm:

















Windows Server 2000 (tháng 2 năm 2000)

Windows Server 2003 (tháng 3 năm 2003)

Windows Server 2003 R2 (tháng 12 năm 2005)

Windows Server 2008 (tháng 2 năm 2008)

Windows Server 2008 R2 (tháng 7 năm 2009)

Windows Server 2012 (tháng 9 năm 2012)

Windows Server 2012 R2 (tháng 10 năm 2013)



Các thành phần chính nổi trội có trong một hệ điều hành Windows Server

bao gồm:

 Server core: Là một trong các thiết lập gói hệ điều hành khi cài đặt kể

từ phiên bản Window Server 2008. Đểm nổi bật của Server Core là nó

khơng hề có giao diện người dùng, người quản trị quản lý các dịch vụ

trên Server hồn tồn bằng dòng lệnh (CLI) hoặc quản lý từ xa bằng

công cụ MMC và cơng cụ Remote Server Administration Tools được

tích hợp sẵn trong các phiên bản Windows như Windows Vista,

Windows 7, Windows Server 2008,…Với Server Core, người quản trị

sẽ giảm thiểu được cơng việc quản lý và bảo trì do có rất ít dịch vụ

được cài đặt trong hệ điều hành này. Do vậy, hệ thống cũng giảm

được các hiểm họa tấn công cũng như tiết kiệm tài nguyên máy chủ.

 Active Directory roles: Là một dịch vụ thư mục (directory service) đã

được đăng ký bản quyền bởi Microsoft, đây là một thành phần không

thể thiếu trong kiến trúc Windows. Giống như các dịch vụ thư mục

18



khác, chẳng hạn như Novell Directory Services (NDS), Active

Directory là một hệ thống chuẩn và tập trung, dùng để tự động hóa

việc quản lý mạng dữ liệu người dùng, bảo mật và các nguồn tài

nguyên được phân phối, cho phép tương tác với các thư mục khác.

Thêm vào đó, Active Directory được thiết kế đặc biệt cho các môi

trường kết nối mạng được phân bổ theo một kiểu nào đó. Active

Directory cung cấp một tham chiếu, được gọi là directory service, đến

tất cả các đối tượng trong một mạng, gồm có user, groups, computer,

printer, policy và permission.Với người dùng hoặc quản trị viên,

Active Directory cung cấp một khung nhìn mang tính cấu trúc để từ

đó dễ dàng truy cập và quản lý tất cả các tài nguyên trong mạng.

 Failover Clustering: Là tính năng mới, được giới thiệu từ phiên bản

Windows Server 2008. Với Failover Clustering, người quản trị có thể

thiết lập các dịch vụ trên máy chủ Windows chạy với độ sẵn sàn cao,

giảm thiểu thời gian downtime khi có sự cố xảy ra. Đây được coi là

một bước tiến trong Windows Server, hệ điều hành được sử dụng cho

máy chủ và chạy các dịch vụ quan trọng, lâu dài. Tính năng Failover

Clustering hiện chỉ có ở phiên bản Enterprise và Datacenter của

Windows Server.

 Hyper-V: Là thành phần ảo hóa có mặt kể từ phiên bản Windows

Server 2008. Đây được coi là thành phần core ảo hóa của Microsoft

hiện nay khi triển khai cho các dịch vụ khác. Với Hyper-V, người

quản trị có thể tạo các máy ảo (virtual machine) chạy trên cùng một

server vật lý. Các máy ảo này sẽ sử dụng các thiết bị ảo được Hyper-V

tạo ra từ tài nguyên trên máy chủ vật lý. Điều này giúp chúng ta tận

dụng được tài nguyên máy chủ, đồng thời giảm thiểu chi phí về thiết

bị, không gian đặt máy chủ, nhân công quản lý,…

So với hệ điều hành Linux, hệ điều hành Windows Server không thực sự

chiếm hữu được thị trường hệ điều hành dành cho máy chủ; nhất là máy chủ dịch vụ

19



web. Thông thường, các máy chủ sử dụng hệ điều hành Windows Server được sử

dụng với mục đích chạy các ứng dụng đặc thù của Microsoft ví dụ như ASP.Net,

Sharepoint, Exchange Server, HyperV,...Tuy vậy, hệ điều hành Window Server vẫn

là một hệ điều hành nổi tiếng, được sự ưu tiên phát triển từ hãng công nghệ lớn

Microsoft cùng với công cụ lập trình .Net mạnh mẽ. Ngày nay hầu hết các ứng dụng

máy chủ phổ biến đều được phát triển cho hệ điều hành này. Các ứng dụng giám sát

như Zenoss, Zabbix, Nagios,...cũng đều hỗ trợ tương thích tốt với hệ điều hành

Windows Server.

2.3.



ẢO HÓA

2.3.1. CƠ BẢN VỀ ẢO HÓA

2.3.1.1. Ảo hóa là gì?

Ảo hóa là cơng nghệ tạo ra một lớp tầng trung giữa phần cứng máy

tính và ứng dụng, hệ điều hành chạy trên nó. Từ lớp ảo hóa này, chúng ta có

thể tạo ra nhiều máy ảo khác nhau cùng chạy trên một máy tính vật lý.

Lớp ảo hóa sẽ làm nhiệm vụ giao tiếp với phần cứng máy tính, từ đó

tạo ra các thiết bị ảo (CPU, RAM, HDD,..) để hình thành nên các máy ảo có

chức năng hồn tồn tương tự như một máy tính vật lý thơng thường. Bằng

cách này, chúng ta có thể có nhiều máy tính, máy chủ khác nhau, chạy các hệ

điều hành khác nhau trong khi thực tế chỉ sử dụng một máy tính vật lý duy

nhất. Điều này giúp người sử dụng và doanh nghiệp cắt giảm được khá nhiều

chi phí đầu tư cho hạ tầng, cũng như các chi phí về quản trị. Ảo hóa đã và

đang thực sự mang lại lợi ích lớn cho CNTT nói chung hiện nay.

2.3.1.2. Các lọai ảo hóa





Ảo hóa trên hệ điều hành: Đây là loại ảo hóa phổ biến mà người dùng

cuối hay sử dụng nhất. Ở dạng ảo hóa này, người dùng sẽ cài đặt một

phần mềm ảo hóa lên trên hệ điều hành của họ và từ đó tạo ra những máy

ảo có thể cài đặt những hệ điều hành khác nhau. Nếu nhìn ở góc độ phân

lớp từ ngồi vào trong, chúng ta sẽ hình như như bảng bên dưới:

20



Máy ảo (4)

Phần mềm ảo hóa (3)

Hệ điều hành (2)

Phần cứng máy tính (1)

Bảng 2.1: Phân tầng của ảo hóa trên hệ điều hành

Ưu điểm của loại ảo hóa này đó chính là sự tiện dụng trong q trình

quản lý, thực thi thao tác trên máy ảo. Tuy nhiên nó lại có những nhược

điểm về mặt quản lý từ xa và về hiệu suất sử dụng. Do vậy, loại ảo hóa

này thường được sử dụng ở phía người dùng cuối với nhu cầu cá nhân

hoặc thực hiện các công việc test.

Một số phần mềm ảo hóa tiêu biểu ở loại này gồm có Vmware

Workstation, VirtualBox, Parallels Desktop,...

 Ảo hóa phần cứng: Đây là một dạng ảo hóa cao cấp hơn so với “Ảo hóa

trên hệ điều hành” đã đề cập ở trên. Ở loại ảo hóa này, nhà sản xuất tạo

ra một lớp thay thế cho cả “Hệ điều hành (2)” và “phần mềm ảo hóa

(3)” được gọi là Hypervisor. Hypervisor có thể là phần cứng, phần mềm

hoặc là một bản firmware nào đó có thể chạy trực tiếp trên phần cứng

máy tính và làm nhiệm vụ tạo ra các máy ảo. Nếu nhìn ở góc độ phân lớp

từ ngồi vào trong, chúng ta sẽ hình như như hình bên dưới:

Máy ảo (3)

Hypervisor (2)

Phần cứng máy tính (1)

Bảng 2.2: Phân tầng của ảo hóa phần cứng

Đặc điểm nổi trội của loại ảo hóa này đó chính là hiệu suất hoạt động. Vì

có lớp Hypervisor chạy trực tiếp trên phần cứng máy tính, khơng phải

thơng qua một hệ điều hành làm trung gian nên việc tạo các thiết bị ảo và

giao tiếp giữa máy ảo và phần cứng máy tính cũng diễn ra nhanh hơn, ít

lỗi hơn.

Ngồi ra, ở “ảo hóa phần cứng” chúng ta lại có 3 loại khác nhau là:

 Ảo hóa tồn phần (Full virtualization): Mơ phỏng gần như hoàn

toàn phần cứng thật để các phần mềm (hệ điều hành) có thể chạy

trên nó như chạy trên một máy tính vật lý thật. Trong khoa học

máy tính, ảo hóa tồn phần là một kỹ thuật ảo hóa thường cung



21



cấp cho một loại môi trường máy ảo nào đó, cụ thể là, mộ trong số

đó là một sự mơ phỏng hồn tồn của phần cứng bên dưới. Ảo hóa

tồn phần u cầu mọi tính năng nổi bật của phần cứng phải được

phản xạ vào một trong nhiều máy ảo – bao gồm một bộ câu lệnh

đầy đủ, vận hành nhập/xuất, ngắt, truy cập bộ nhớ và bất cứ phần

tử nào khác mà được sử dụng bởi phần mềm chạy trên máy tính

vậy lý.

 Ảo hóa một phần (Partial virtualization): Mô phỏng một phần chứ

không phải tất cả các mục tiêu ảo hóa. Trong ảo hóa một phần này,

máy ảo mô phỏng rất nhiều đối tượng của môi trường phần cứng

bên dưới, đặc biệt là không gian địa chỉ. Thơng thường, điều này

có nghĩa là tồn bộ hệ điều hành khơng thể chạy trong máy ảo như

ở ảo hóa tồn bộ nhưng đa số chương trình có thể chạy được.

Dạng chính của ảo hóa một phần là ảo hóa khơng gian địa chỉ,

trong đố mỗi máy ảo gồm có một không gian địa chỉ độc lập. Khả

năng này đồi hỏi phần cứng tái định vị địa chỉ, và hiện diện trong

hầu hết các ví dụ thức ế của ảo hóa một phần.

 Ảo hóa song song (Paravirtualization): Mơi trường phần cứng

khơng được mơ phỏng; tuy nhiên, chương trình guest được thực

thi trên miền cách ly của chúng, giống như chúng đang chạy trên

một hệ thống khác biệt. Chương trình guest cần sự thay đổi một

cách đặc biệt để chạy trong mơi trường này. Trong điện tốn, ảo

hóa song song là kỹ thuật ảo hóa trình bày một giao diện phần

mềm tới máy ảo mà tương tự nhưng không đồng nhất với phần

cứng bên dưới.

Khác với “ảo hóa trên hệ điều hành”, “ảo hóa phần cứng” được sử dụng

chủ yếu trong mơi trường doanh nghiệp, đòi hỏi nhiều về hiệu suất và

tính năng tốt. Một số sản phẩm về ảo hóa loại này bao gồm Vmware

vSphere, Citrix Xen Server, Hyper-V,...



22



2.3.2. CƠNG NGHỆ ẢO HĨA VMWARE

2.3.2.1. Giới thiệu

VMware Inc. là một cơng ty chun cung cấp các phần mềm ảo hóa

cho các hệ thống máy tính được thành lập vào năm 1998. Cơng ty VMware

Inc thuộc tập đồn EMC và có trụ sở chính ở thành phố Palo Alto, California,

Hoa Kỳ và các văn phòng nghiên cứu, phát triển ở Palo Alto, San Francisco,

Massachusetts và ở Bangalore (Ấn Độ). Các phần mềm tạo máy ảo của

VMware được coi là tốt nhất trên thế giới bởi nó hỗ trợ nhiều hệ điều hành

khác nhau như GNU/Linux, Mac OS X và Microsoft Windows và có nhiều

tính năng nổi trội.

Các sản phẩm tiêu biểu của hãng Vmware bao gồm:













Vmware Workstation

Vmware Fusion

Vmware vSphere

Vmware vCloud Suite

Vmware Horizon View



Trong đó VMware vSphere là bộ sản phẩm nòng cốt của hãng VMware với

những tính năng ảo hóa máy chủ tối tân nhất, là nền tảng cho những công

nghệ khác của hãng.

2.3.2.2. Ảo hóa Vmware vSphere

VMware vShere hay còn có cái tên cũ là VMware Infrastructure đã được

thay đổi kể từ phiên bản VMware Infrastructure 3.5 đang trong giai đoạn phát triển.

Ở phiên bản VMware vSphere 4 hãng VMware đã tăng cường khả năng và công cụ

xây dựng nền tảng cloud cho bộ sản phẩm này. Và tính tới thời điểm hiện tại phiên

bản mới nhất của bộ sản phẩm này đã là phiên bản 5.5. Giai đoạn phát triển các

phiên bản chính của VMware vSphere (khơng kể các phiên bản cập nhật) như sau:













VMware ESX Server 1.0 (tháng 3 năm 2001)

VMware ESX Server 2.0 (tháng 7 năm 2003)

VMware ESX Server 2.5 (tháng 12 năm 2004)

VMware Infrastructure 3.0 (tháng 5 năm 2006)

VMware Infrastructure 3.5 (tháng 12 năm 2007)



23















VMware vSphere 4.0 (tháng 5 năm 2009)

VMware vSphere 4.1 (tháng 7 năm 2010)

VMware vSphere 5.0 (tháng 8 năm 2011)

VMware vSphere 5.1 (tháng 9 năm 2012)

VMware vSphere 5.5 (tháng 9 năm 2013)



Về thành phần, những những lớp tạo nên bộ sản phẩmVMware vSphere gồm

có:

 Infrastructer Services: Là tập hợp cac services cung cấp việc ảo hóa, tập

hợp và phân chia tài nguyên phần cứng. Nó bao gồm các thành phần con

sau:

o Vmware vCompute: Là thành phần có khả năng tạo ra một tài

nguyên duy nhất về mặt luận lý từ nhiều tài nguyên của các server

khác nhau. vCompute services tập hợp những tài nguyên khác

nhau này lại và cung cấp cho các ứng dụng nào đó.

o VMware vStorage: là cơng nghệ cho phép sử dụng rất hiệu quả

vào quản lý lưu trữ trong mơi trường ảo hóa.

o VMware vNetwork: là cơng nghệ giúp ảo hóa mạng, tạo ra các

card mạng ảo, các switch mạng ảo trong mơi trường ảo hóa

 Application Services: là tập hợp các dịch vụ đảm bảo tính sẵn sàng cao,

bảo mật và độ tin cậy cho các ứng dụng như là High Availability và Fault

Tolerance..

 VMware vCenter Server: Là thành phần quản lý tập trung các ESXi host,

cung cấp các dịch vụ thiết yếu như access control, performance

monitoring, configuration.

 Clients : Người dùng có thể truy xuất tới VMware vSphere

datacenter thông qua việc sử dụng các clients như là Vmware vSphere

Client hoặc Vmware vSphere Web Client có được khi đã cài đặt vCenter

Server.



24



Hình 2.1: Mơ hình kiến trúc phân lớp của Vmware vSphere

2.3.2.3. VMware vSphere Web Services SDK

Với lịch sử phát triển lâu đời của bộ sản phẩm VMware vSphere, ngày nay

sản phẩm này đã trở thành một trong những sản phẩm hàng đầu về xây dựng hạ

tầng ảo hóa cũng như nền tảng cho các mơ hình điện tốn đám mây. Chính vì thế,

hãng VMware đã cung cấp các API giúp các nhà lập trình viên từ các hãng thứ ba

khác có thể dễ dàng lập trình ứng dụng tương tác với bộ sản phẩm của mình.

VMware vSphere Web Services SDK là một trong các gói sản phẩm đó; nó giúp tạo

ra một Webservice làm thành phần giao tiếp trung gian giữa hạ tầng VMware

vSphere và ứng dụng của người lập trình. Một trong các thành phần cốt lõi của gói

ứng dụng VMware vSphere Web Services SDK đó chính là vSphere API. Với

VMware vSphere API, chúng ta có thể dễ dàng tương tác với các thành phần ảo

hóa, tác động vào trực tiếp các đối tượng được quản lý bởi trong hạ tầng VMware

vSphere ví dụ như tạo mới, sửa đổi, xóa bỏ các máy ảo.

Về hình thức kết nối sử dụng của vSphere API cũng rất đơn giản. Vì hoạt

động như một Web Services nên chỉ yêu cầu đường dẫn ở giao thức https bao gồm

địa chỉ IP hoặc tên miền kèm theo port kết nối và tài khoản đăng nhập. Ở đây, địa



25



chỉ IP hoặc tên miền được trỏ tới máy chủ VMware ESXi hoặc VMware vCenter

với port mặt định là 443. Tài khoản người dùng được sử dụng trong việc kết nối

trên cần có đủ quyền và khả năng đăng nhập vào hạ tầng VMware vSphere. Dưới

đây là một đoạn code mẫu về kết nối tới vSphere API được viết bằng ngôn ngữ

Python sử dụng gói thư viện pysphere để giao tiếp.

username = root

password = abc123

host = 192.168.1.100

port = 443

try:

server = VIServer()

server.connect("https://%s:%s/sdk" % (host, port), username,

password)

except:

log.error("Can not login into remote Esxi host %s" % host)



Hãng VMware cung cấp tài liệu rất đầy đủ và chi tiết về VMware vSphere

Web Service SDK để giúp các nhà lập trình viên sử dụng nó tại địa chỉ sau

https://www.vmware.com/support/developer/vc-sdk.

2.4.



THIẾT BỊ MẠNG CISCO



2.4.1. CISCO SYSTEM VÀ CÁC SẢN PHẨM

Cisco System Inc là một tập đồn đa quốc gia có trụ sở chính tại California

Mỹ chuyên thiết kế, sản xuất và bán thiết bị mạng. Cùng với sự phát triển của công

nghệ Internet, nhu cầu về các sản phẩm của Cisco bùng phát và nhanh chóng cơng

ty này chiếm lĩnh thị trường thiết bị mạng trên toàn cầu từ những năm 98. Thị phần

của hãng chiếm 70% đến 80% thị trường thiết bị mạng trên toàn thế giới. Các thiết

bị và giải pháp của hãng đáp ứng nhu cầu của mọi loại hình doanh nghiệp từ các



26



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2 – HỆ ĐIỀU HÀNH MẠNG; THIẾT BỊ MẠNG VÀ CÁC GIAO THỨC TRONG QUẢN LÝ MẠNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×