Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tiền tệ thế giới:

Tiền tệ thế giới:

Tải bản đầy đủ - 0trang

vàng và tiêu chuẩn giá cả tách rời nhau. Hàm lượng vàng đứng im khơng đổi,

trong khi đó tiêu ch̉n giá cả biến động và hình thành tiêu chuẩn giá cả danh

nghĩa và tiêu chuẩn giá cả thực tế. Tiêu chuẩn giá cả danh nghĩa do hàm lượng

vàng đại biểu, cũng tiêu chuẩn giá cả thực tế phụ thuộc vào sức mua của đơn vị

tiền tệ chuẩn đối với hàng hố.

• Ngày nay, một đồng tiền muốn được sử dụng rộng rãi trong cả nước làm đơn vị

tính tốn để đo lường giá trị hàng hoá phải được nhà nước chính thức định

nghĩa, theo những tiêu ch̉n nhất định. Nói cách khác đồng tiền đó phải được

pháp luật qui định và bảo vệ. Nhưng đây chỉ là điều kiện cần, chưa phải là điều

kiện đủ. Điều kiện đủ là phải được dân chúng chấp nhận sử dụng. Song muốn

được dân chúng chấp nhận, đơn vị tính tốn đó phải có một giá trị ổn định lâu

dài. Trong lịch sử tiền tệ của các nước, không thiếu những trường hợp dân chúng

lại sử dụng một đơn vị đo lường giá trị khác với đơn vị đo lường giá trị do nhà

nước qui định. Chẳng hạn, thời kỳ nội chiến ở Mỹ, chính phủ phát hành tờ dollar

xanh là tiền tệ chính thức thay thế cho đồng dollar vàng nhưng các nhà doanh

nghiệp vẫn giữ dollar vàng làm đơn vị tính tốn. Hay ở Việt Nam trước đây, mặc

dù giấy bạc ngân hàng nhà nước (đồng Việt Nam) là đồng tiền chính thức nhưng

đại bộ phận dân chúng vẫn dùng vàng hay đơ la Mỹ làm đơn vị tính tốn giá trị

khi mua bán các hàng hố có giá trị lớn như nhà cửa, xe máy.

• Việc đưa tiền tệ vào để đo giá trị của hàng hố làm cho việc tính toán giá hàng

hoá trong trao đổi trở nên đơn giản hơn nhiều so với khi chưa có tiền. Để thấy rõ

được điều này, hãy thử hình dung một nền kinh tế không dùng tiền tệ: Nếu nền

kinh tế này chỉ có 3 mặt hàng cần trao đổi, ví dụ gạo, vải và các buổi chiếu

phim, thì chúng ta chỉ cần biết 3 giá để trao đổi thứ này lấy thứ khác: giá của

gạo tính bằng vải, giá của gạo tính buổi chiếu phim và giá của buổi chiếu phim

tính bằng vải. Song nếu có 10 mặt hàng cần trao đổi thay vì chỉ có 3 như trên thì

chúng ta sẽ cần biết 45 giá để trao đổi một thứ hàng này với một thứ hàng khác;

với 100 mặt hàng, chúng ta cần tới 4950 giá; và với 1000 mặt hàng cần 499.500

giá (công thức N (N -1) ). Sẽ thật khó khăn cho bạn gái nào khi ra chợ, để quyết

định gà hay cá rẻ hơn trong khi 1kg gà được định bằng 0,7 kg chả, 1 kg cá chép

7



được định bằng 8 kg đỗ. Để chắc chắn rằng bạn gái này có thể so sánh giá của

tất cả các mặt hàng trong chợ (giả sử chợ có 50 mặt hàng), bảng giá của mỗi mặt

hàng sẽ phải kê ra tới 49 giá khác nhau và sẽ rất khó khăn để đọc và nhớ hết

chúng. Nhưng khi đưa tiền vào, chúng ta có thể định giá các mặt hàng bằng đơn

vị tiền. Giờ thì với 10 mặt hàng chúng ta chỉ cần 10 giá, 100 mặt hàng thì 100

giá, v.v.. và tại siêu thị có 1000 mặt hàng nay chỉ cần 1000 giá để xem

chứ khơng cần 499.500.

• Thêm nữa, nhờ có chức năng này, mọi hình thức giá trị dù tồn tại dưới dạng nào

đi nữa cũng có thể dùng tiền tệ để định lượng một cách cụ thể. Chẳng hạn để

tính tổng giá trị tài sản của một cá nhân, ta phải cộng giá trị của cái nhà anh ta

đang ở, giá trị các trong thiết bị trong nhà, các đồ vật q v.v... Sẽ khơng thể có

được kết quả nếu khơng có sự tham gia của tiền tệ vì khơng có cách nào để cộng

giá trị của các tài sản đó (có bản chất tự nhiên khác nhau) với nhau được. Nhưng

một khi qui tất cả các giá trị đó ra tiền tệ thì cơng việc thật đơn giản. Chính vì

vậy mà ngày nay việc định lượng và đánh giá, từ GDP, thu nhập, th́ khố, chi

phí sản xuất, vay nợ, trả nợ, giá trị hàng hoá, dịch vụ cho đến sở hữu... đều có

thể thực hiện được dễ dàng. Chức năng này nhấn mạnh vai trò thước đo giá trị

của tiền tệ trong các hợp đồng kinh tế.

2. Phương tiện lưu thơng:

Giá cả hàng hóa được xác định trước khi diễn ra lưu thơng hàng hóa. Chỉ sau khi

giá cả hàng hóa được biểu hiện thành tiền mặt của người mua trao cho người

bán thì hàng hóa mới từ tay người bán chuyển sang người mua, lúc đó tiền tệ

mới hoàn thành chức năng phương tiện lưu thông và mới thực hiện đầy đủ vai

trò vật ngang giá chung. Việc trao đổi hàng hóa chỉ xảy ra và được thực hiện sau

khi tiền tệ đã hoàn thành cùng một thời điểm hai chức năng thước đo giá trị và

phương tiện lưu thông.

Khi thực hiện chức năng phương tiện lưu thơng, tiền tệ chỉ đóng vai trò môi giới

giúp cho việc trao đổi thực hiện được dễ dàng do vậy tiền chỉ xuất hiện thoáng

8



qua trong trao đổi mà thơi (người ta bán hàng hố của mình lấy tiền rồi dùng nó

để mua những hàng hố mình cần). Tiền tệ được xem là phương tiện chứ không

phải là mục đích của trao đổi. Vì vậy tiền tệ thực hiện chức năng phương tiện

trao đổi không nhất thiết phải là tiền tệ có đầy đủ giá trị (ví dụ dưới dạng tiền

vàng). Dưới dạng dấu hiệu giá trị đã được xã hội thừa nhận (như tiền giấy), tiền

tệ vẫn có thể phát huy được chức năng phương tiện trao đổi.

Việc dùng tiền tệ làm phương tiện trao đổi đã giúp đẩy mạnh hiệu quả của nền

kinh tế qua việc khắc phục những hạn chế của trao đổi hàng hoá trực tiếp, đó là

những hạn chế về nhu cầu trao đổi (chỉ có thể trao đổi giữa những người có nhu

cầu phù hợp), hạn chế về thời gian (việc mua và bán phải diễn ra đồng thời), hạn

chế về không gian (việc mua và bán phải diễn ra tại cùng một địa điểm). Bằng

việc đưa tiền vào lưu thông, con người đã tránh được những chi phí về thời gian

và cơng sức dành cho việc trao đổi hàng hố (chúng ta chỉ cần bán hàng hố của

mình lấy tiền rồi sau đó có thể mua những hàng hố mà mình muốn bất cứ lúc

nào và ở đâu mà mình muốn). Nhờ đó, việc lưu thơng hàng hố có thể diễn ra

nhanh hơn, sản xuất cũng được thuận lợi, tránh được ách tắc, tạo động lực cho

kinh tế phát triển. Với chức năng này, tiền tệ được ví như chất dầu nhờn bôi trơn

giúp cho guồng máy sản xuất và lưu thơng hàng hố hoạt động trơn tru, dễ dàng.

Cơng thức của lưu thơng hàng hóa là: H – T – H:





H – T: hành vi bán: chuyển hóa giá trị hàng hóa thành tiền







T – H: hành vi mua: chuyển hóa tiền thành giá trị hàng hóa



Tuy nhiên để thực hiện tốt chức năng này, đòi hỏi đồng tiền phải được thừa nhận

rộng rãi, số lượng tiền tệ phải được cung cấp đủ lượng để đáp ứng nhu cầu trao

đổi trong mọi hoạt động kinh tế, đồng thời hệ thống tiền tệ phải bao gồm nhiều

mệnh giá để đáp ứng mọi quy mô giao dịch.



9



Rõ ràng, đối với từng chủ thể trong nền kinh tế, tiền tệ có giá trị vì nó mang giá

trị trao đổi, nhưng xét trên phương diện toàn bộ nền kinh tế thì tiền tệ khơng có

giá trị gì cả. Sự giàu có của một quốc gia được đo lường bằng tổng số sản phẩm

mà nó sản x́t ra chứ khơng phải là số tiền tệ mà nó nắm giữ. Lý do là vì, xét

trên phương diện đó, tiền tệ chỉ xuất hiện trong nền kinh tế để thực hiện chức

năng môi giới, giúp cho trao đổi dễ dàng hơn chứ không tạo thêm một giá trị vật

chất nào cho xã hội. Nó đóng vai trò bôi trơn cho guồng máy kinh tế chứ không

phải là yếu tố đầu vào của guồng máy đó.

3. Phương tiện cất trữ:

Khi tạm thời chưa có nhu cầu sử dụng tiền tệ làm phương tiện trao đổi và thanh

toán, nó được cất trữ lại để dành cho những nhu cầu giao dịch trong tương lai.

Khi đó, tiền có tác dụng như một nơi chứa giá trị, nơi chứa sức mua hàng qua

thời gian.

Khi cất trữ, điều đặc biệt quan trọng là tiền tệ phải giữ nguyên giá trị hay sức

mua hàng qua thời gian. Vì vậy, đồng tiền đem cất trữ phải đảm bảo yêu cầu:

Giá trị của nó phải ổn định. Sẽ không ai dự trữ tiền khi biết rằng đồng tiền mà

mình cầm hơm nay sẽ bị giảm giá trị hoặc mất giá trị trong tương lai, khi cần

đến cho các nhu cầu trao đổi, thanh toán. Chính vì vậy mà trước đây để làm

phương tiện dự trữ giá trị, tiền phải là vàng hay tiền giấy tự do đổi ra vàng. Còn

ngày nay, đó là các đồng tiền có sức mua ổn định.

III.



LẠM PHÁT:



1. Khái niệm và các chỉ sớ:

• Khái niệm: Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm

sức mua của đồng tiền. Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự

phá giá đồng tiền nội tệ so với các loại tiền tệ khác.

Lạm phát nói chung có thể được hiểu là việc giá cả các hàng hóa tăng lên so với

mức giá thời điểm trước (vật giá leo thang). Cần phải hiểu việc tăng giá ở đây là

gia tăng chung của hầu hết các hàng hóa và dịch vụ, chứ khơng phải tăng giá

10



một hàng hóa cá biệt. Khi giá trị của hàng hóa và dịch vụ tăng lên, đồng nghĩa

với sức mua của đồng tiền giảm đi. Khi đó, với cùng một lượng tiền nhưng

người tiêu thụ mua được ít hàng hóa hơn so với trước đó.

• Lạm phát được đo lường như thế nào?

Lạm phát được đo lường bằng cách theo dõi sự thay đổi giá cả của một lượng

lớn các hàng hóa và dịch vụ trong một nền kinh tế, thông thường dựa trên dữ

liệu được thu thập bởi các tổ chức Nhà nước, các liên đoàn lao động và các tạp

chí kinh doanh…

Giá cả của các loại hàng hóa và dịch vụ được tổ hợp với nhau để đưa ra một chỉ

số giá cả đo mức giá cả trung bình, là mức giá trung bình của một tập hợp các

sản phẩm. Tỷ lệ lạm phát là tỷ lệ phần trăm mức tăng của chỉ số này.

Không tồn tại một phép đo chính xác duy nhất chỉ số lạm phát vì giá trị của chỉ

số này phụ thuộc vào tỷ trọng mà người ta gán cho mỗi hàng hóa trong chỉ số,

cũng như phụ thuộc vào phạm vi khu vực kinh tế mà nó được thực hiện. Tuy

nhiên, thước đo lạm phát phổ biến nhất chính là chỉ số giá tiêu dùng CPI

(consumer price index) là chỉ số đo giá cả của một số lượng lớn các loại hàng

hóa và dịch vụ, bao gồm thực phẩm, lương thực, chi trả cho các dịch vụ y tế…,

được mua bởi “người tiêu dùng thông thường”.

 Chỉ số đo lường lạm phát:

a. Hệ sớ giảm phát GDP (GDP deflator) được tính trên cơ sở so sánh giá trị GDP



tính theo giá hiện hành và GDP tính theo giá kỳ trước. Nghĩa là đo lường mức

tăng và giảm giá trên tất cả các loại hàng hố dịch vụ tính trong GDP.

b. Chỉ số giá tiêu dùng hay chỉ số giá cả CPI: được tính theo bình qn gia quyền



của một nhóm các hàng hóa thiết yếu.



11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tiền tệ thế giới:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×