Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: HIỆN TRẠNG QUY HOẠCH ĐỒNG RUỘNG ĐỂ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT HÀNG HÓA VÙNG ĐBSH

CHƯƠNG 1: HIỆN TRẠNG QUY HOẠCH ĐỒNG RUỘNG ĐỂ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT HÀNG HÓA VÙNG ĐBSH

Tải bản đầy đủ - 0trang

PHƯƠNG ÁN NÂNG CẤP HĐH HTTN NỘI ĐỒNG VÀ PT SẢN X́T HÀNG HĨA



10/ 2011



1.1.2. Mơ hình sản xuất hàng hóa điển hình cho các vùng sinh thái ĐBSH



Vùng dồng bằng sơng hồng (ĐBSH) gồm 11 tỉnh thành diện tích tự nhiên của vùng là

1.480,6 nghìn ha (chiếm 45% diện tích của cả nước), dân số 17,44 triệu người (chiếm

22,05% dân số cả nước), là vùng đơng dân cư, bình quân đất nông nghiệp đầu người thấp

490m2/người bằng 40,7% so với bình quân cả nước.

Ngành trồng trọt chiếm tỷ lệ cao: 74.3%, trong đó chủ yếu là cây lương thực (lúa)

cho hiệu quả kinh tế thấp không quá 30 triệu đồng/ha/năm. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng

nhằn nâng cao thu nhập cho người dân.

Nền kinh tế Việt Nam đang chuyển mạnh sang nền kinh tế thị trường và hội nhập vấn

đề sản xuất hàng hóa trong nơng nghiệp có vai trò vơ cùng quan trọng trong hiện đại hóa

nơng nghiệp nông thôn và là động lực thúc đẩy nền kinh tế nông nghiệp nước ta phát triển

sánh vai với các nước trong khu vực. Do đó cần chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản

xuất hàng hóa (SXHH).

Q trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi diễn ra chậm và tình trạng dư thừa

lao động vẫn còn phổ biến ở các vùng nông thôn. Hiện trạng cơ cấu cây trồng vật ni nói

chung rất đa dạng, song vẫn chủ yếu cơ cấu 2 lúa và 1 vụ đông. Vì vậy vấn đề chuyển đổi

cơ cấu cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao theo hướng sản xuất hàng hóa ở vùng đồng bằng

sơng Hồng là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay.

Theo Chuyên đề “Phát triển sản xuất và chuyển dịch kinh tế cơ cấu cây trồng” theo

Quyết định số 04/2007/QĐ-UBDT, Chính Phủ ngày 19/7/2007 đã đưa ra điển hình sản xuất

hàng hóa của ĐBSH như sau:

Khảo sát thực địa



1.



Khảo sát thực địa cho một số địa phương của ĐBSH để xác định cụ thể nội dung

chuyển đổi: Tiến hành điều tra 5 huyện có điều kiện sản xuất tương đối điển hình cho 2 tỉnh

gồm các huyện Gia Lộc, Ninh Giang, Chí Linh tỉnh Hải Dương và các huyện Quỳnh Phụ,

Thái Thụy thuộc Thái Bình cho kết quả:

-



Cơ cấu kinh tế: ngành trồng trọt chiếm tỷ lệ từ 74.3 – 93.4%, chăn nuôi và thủy sản chiếm

3.9% trong đó cơ cấu kinh tế của tỉnh Hải Dương và 22.1% với tỉnh Thái Bình, ngành dịch

vụ ở 2 tỉnh chưa phát triển. Tổng thu nhập từ sản xuất nông nghiệp đạt 31,3 triệu



Trang 3



PHƯƠNG ÁN NÂNG CẤP HĐH HTTN NỘI ĐỒNG VÀ PT SẢN XUẤT HÀNG HÓA



10/ 2011



đồng/ha/năm tại Hải Dương đạt 32 triệu đồng/ha/năm tại Thái Bình. Bình quân lương

thực/người/năm (kg) ở 2 tỉnh khá cao: 600kg.

-



Cơ cấu cây trồng tiêu biểu đại diện cho địa phương: Tại Hải Dương trên đất 2 vụ lúa + 1 rau

vụ đông, trên đất một vụ lúa: Dưa chuột/lạc/ớt xuân – lúa mùa – rau đông hoặc lúa xuân –

đậu tương hè thu – cải bắp đông sớm. Trên điah bàn Thái Thụy, Thái Bình: cơng thức ln

canh: Dưa chuột/lúa xuân – lúa mùa – khoai tây đông.

Sau khi phân tích, đánh giá kết quả điều tra, dự kiến cải tiến một số công thức luân

canh, đề xuất một số cơ cấu cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, phù hợp với điều kiện sinh

thái của vùng, trong đó chuyển một phần giống lúa năng suất cao sang giống có chất lượng

cao, cà chua, dưa hấu, dưa gang truyền thống chuyển sang giống phục vụ ăn tươi, chế biến

cho xuất khẩu (muối mặn), các loại rau mà khác cũng được chọn giống phù hợp để chuyển

đổi sang sản xuất hàng hóa.

Nội dung chuyển đổi



2.



Tiến hành xác đinh các nội dung chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, mùa vụ để cho

hiệu quả cao theo hướng sản xuất hàng hóa ở ĐBSH:



3.



-



Thay thế vụ lúa xuân bằng vụ dưa chuột xuân.



-



Tăng thêm vụ dưa gang hoặc dưa hấu hè giữa hai vụ lúa xuân và lúa mùa sớm.



-



Thay thế giống lúa năng xuất (Q5, KD18) bằng giống lúa chất lượng ( bắc thơm 7, AC5).

Thay thế giống dưa chuột truyền thống bằng các giống mới có thể chế biến, thay thế các

giống khoai tây cũ, khoai tây hạt lai, khoai tây của Trung quốc bằng các giống của Đức, Hà

Lan cho năng xuất cao, thay thế giống dưa hấu tròn bằng giống dưa hấu Thái Lan ( Hắc Mỹ

nhân).

Kết quả đạt được

Kết quả khảo sát tại Hải Dương

Công thức



Năng suất (tấn/ha/vụ)



Mơ hình



Vụ

Xn



Vụ





Vụ

Mùa



1. Lúa xn - lúa mùa



5,7



5,3



2. Lúa xn - lúa mùa khoai lang đông



6,0



5,8



Vụ

Đông



13,6



Trang 4



Tổng thu

(triệu đồng)



Tổng chi

(triệu đồng)



Lãi thuần

(triệu đồng)



23,8



17,4



6,4



37,5



24,7



12,8



PHƯƠNG ÁN NÂNG CẤP HĐH HTTN NỘI ĐỒNG VÀ PT SẢN XUẤT HÀNG HÓA



3. Dưa chuột xuân - lúa mùa

44,5

- cải bắp đông.

4. Dưa chuột xuân - dưa hấu

hè - bắp cải đông sớm - rau

muộn



40,0



17,8



5. Lúa xuân - đậu tương hè

thu - cải bắp đông sớm.



6,2



2,2



10/ 2011



4,2



50,0



92,2



48,8



43,4



40,5



27,7



145,7



68,0



77,6



41,7



70,9



36,6



34,7



(Trong đó: Giá bán: Thóc Q5: 2.200đ/kg; Thóc B17: 3.000đ/kg: Cải bắp sớm: 1.000đ/kg; Cải bắp

đông: 800đ/kg; Đậu tương: 7.000đ/kg; Dưa chuột 900đ/kg).



Nhận xét: Công thức 4 là tốt nhất áp dụng cho tỉnh Hải Dương, có thể thực hiện

chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng theo công thức, mùa vụ, cơ cấu cây trồng này đem lại giá

trị kinh tế, lợi nhuận cao, là phương án sản xuất tối ưu.

Kết quả khảo sát tại Thái Bình

Năng suất (tấn/ha/vụ)

Cơng thức



Vụ





Vụ

Mùa



Vụ

Đơng



Tổng thu

(triệu đồng)



Tổng chi

(triệu đồng)



Lãi thuần

(triệu đồng)



Mơ hình



Vụ

Xn



1. Lúa xn - lúa mùa khoai lang đông



5,8



5,3



13,9



38,4



24,2



13,7



2. Lúa xuân - lúa mùa khoai tây đông



6,4



5,7



19,5



61,3



29,2



32,1



3. Lúa xuân - dưa gang hè lúa mùa - khoai tây đông.



6,4



48,0



5,5



19,5



83,8



37,3



46,5



4. Dưa chuột xuân - dưa hấu

hè - lúa mùa - khoai tây

đông.



6,4



25,0



5,5



19,5



115,7



57,6



58,1



5. Dưa chuột xuân - dưa

gang - lúa mùa - khoai tây

đơng.



44,5



50,0



5,5



19,5



112,2



53,1



59,1



(Trong đó: Giá bán: Thóc Q5: 2.200đ/kg; Lúa chất lượng: 3.000đ/kg; Dưa chuột: 900đ/kg; Khoai

tây: 1.800đ/kg; Dưa gang: 500đ/kg; Khoai lang: 900đ/kg; Dưa hấu 2.000đ/kg).



Nhận xét: Tại tỉnh Thái Bình, cơng thức 2, 3 là các xác định chọn lựa phương án, đầu

tư phát triển sản xuất.

Nhận xét chung:

Trang 5



PHƯƠNG ÁN NÂNG CẤP HĐH HTTN NỘI ĐỒNG VÀ PT SẢN XUẤT HÀNG HÓA



10/ 2011



-



Qua các dẫn chứng nêu trên cho thấy công tác chuyển dịch cơ cấu cây trồng từ hướng sản

xuất nhỏ lẻ sang SXHH là một kết quả tất yếu của sự phát triển xã hội. Tuy nhiên, để đáp

ứng được yêu cấu SXHH hệ thống thủy nông nội đồng cần phải được hiện đại hóa trong

cơng tác quy hoạch đồng ruộng.



-



Trong các mơ hình hiện đang được áp dụng cho các tỉnh ĐBSH thì cơ cấu lúa trong sản xuất

nơng nghiệp luôn được đặt lên hàng đầu, do vậy quy hoạch đồng ruộng cần phải ưu tiên chủ

đạo cho canh tác lúa.



1.2. HIỆN TRẠNG QUY HOẠCH ĐỒNG RUỘNG VÙNG ĐBSH

1.2.1. Quy hoạch lô thửa mặt ruộng



Trong giai đoạn hợp tác xã từ những năm đầu thập kỷ 60 đến những năm cuối thập

kỷ 80, chương trình hồn chỉnh thủy nơng nội đồng và phong trào cơ giới hóa nơng nghiệp

đã làm thay đổi hoàn toàn cầu trúc đồng ruộng ở ĐBSH. Ngồi khu đất 10% giành cho hộ

nơng dân và những khu ruộng có địa hình q phức tạp, các thửa ruộng thường có chiều

rộng từ 20 đến 50 m và chiều dài lên tới 100m và thậm chí vài trăm mét tùy theo điều kiện

địa hình. Cứ hai thửa lớn cạnh nhau theo chiều dài của thửa hợp thành một lơ có bờ thửa

nhỏ ở giữa và hai kênh kênh tưới tiêu kết hợp ở hai bên (Đặng Thế Phong và Fontenelle JP,

1996).

Như vậy tình trạng manh mún ruộng đất ở ĐBSH trong thời kỳ này đã được xóa bỏ.

Kích thước các thửa đáp ứng được nhu cầu hiện đại hóa nơng nghiệp trong đó có cơ giới

hóa.



Hình 1: Mơ hình thửa ruộng trước khi khốn 10

Trang 6



PHƯƠNG ÁN NÂNG CẤP HĐH HTTN NỘI ĐỒNG VÀ PT SẢN XUẤT HÀNG HĨA



10/ 2011



Nhưng sau khi thực hiện khốn 10 và nghị định 64 - CP (năm 1990), ĐBSH thực

hiện việc giao quyền sử dụng đất cho nơng dân thì tình trạng ruộng đất trở nên manh mún,

các ô thửa nhỏ hẹp và phân tán ở nhiều xứ đồng. Để tạo tiền đề vững chắc cho việc xây

dựng nơng thơn mới, thì công tác quy hoạch lại đồng ruộng theo hướng quy vùng sản xuất

hàng hoá của những năm 1960 cần phải được quan tâm, cả về các quy hoạch giao thông,

thuỷ lợi nội đồng đáp ứng yêu cầu đưa cơ giới hố và ứng dụng khoa học cơng nghệ tiên

tiến vào sản xuất, làm tăng năng suất lao động.

Song, thực hiện thành công được công tác quy hoạch này hay không còn phụ thuộc

rất nhiều vào việc “dồn điền, đổi thửa” đất nơng nghiệp, qúa trình này thực chất là đang tìm

lại cái hiện trạng của những thập niên 60 của thế kỉ trước.

Dưới đây là một ví dụ về quy hoạch dải thửa của một xứ đồng thuộc hệ thống thủy

nơng Bắc Hưng Hải tại tỉnh Hưng n:



Hình 2: Sơ đồ dải thửa xứ đồng Cây Thị, Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên

Qua sơ đồ dải thửa trên cho thấy còn có một số vấn đề trong cơng tác quy hoạch lơ

thửa của ĐBSH đó là:

-



So sánh kết quả đạt được của công tác “dồn điển, đổi thửa” từ năm 2002 đến nay với mơ

hình ruộng trước khi khốn 10 vẫn chưa đạt yêu cầu. Các mảnh ruộng trung bình 300m2,

thậm chí ở những nơi có điều kiện thuận lợi để gieo mạ có những mảnh ruộng chỉ có 80-120

m2.



Trang 7



PHƯƠNG ÁN NÂNG CẤP HĐH HTTN NỘI ĐỒNG VÀ PT SẢN X́T HÀNG HĨA



-



10/ 2011



Chưa có sự tập trung các vùng trồng cây lương thựa và các loại cây ngắn ngày, theo như bản

đồ hiện trạng dải thửa tuyến mương Cây Thị khảo sát năm 2011 cho thấy việc trồng xen

canh giữa nhiều loại cây trồng trong cùng một lô, đây sẽ là một vấn đề sẽ gây khó khăn cho

cơ giới hố sản xuất nơng nghiệp.



Trang 8



PHƯƠNG ÁN NÂNG CẤP HĐH HTTN NỘI ĐỒNG VÀ PT SẢN XUẤT HÀNG HÓA



10/ 2011



1.2.2. Quy hoạch bờ vùng, bờ thửa



Bờ vùng, theo quan điểm người dân Việt Nam từ bao đời thì bờ vùng, trong các xứ

đồng chủ yếu là bờ bao quanh một cánh đồng lớn, để giữ hoặc tháo nước tập trung. Bên

cạnh đó bờ vùng còn có tác dụng là nơi đi lại sản xuất, xe cải tiến, xe thồ có thể đi xuống

tận ruộng của từng hộ gia đình để chở nông sản về.

Hiện trạng chung cho các tỉnh

là bờ vùng thường kết hợp là bờ kênh,

liệu là đất, có chiều rộng từ 30 đến 1m,

đắp cao hơn so với chân ruộng khảng 60

cm. Do đất đắp có thành phần là sét pha

cát pha nên khả năng giữ nước trong

kém.



ĐBSH

vật

được

đến 80

hoặc

đồng



0,95 m

Bờ thửa là bờ ngăn cách các thửa

Bờ vùng

với nhau, hiện nay 100% bờ thửa là bằng

Hầu hết bờ thửa chỉ là bờ tạm, khi có nhu

làm đất cơ giới bờ được phá ra, khi cấy

được đắp lại theo các cọc phân giới có

của các hộ sản xuất. Nhược điểm của

làm này là đây là những bờ đất tạm thời

thường bị xóa bỏ trong giai đoạn làm đất

trong thời kì làm cây vụ đơng, gây chiếm diện tích trong mặt ruộng và tốn thêm

động.



ruộng

đất.

cầu

bờ

sẵn

cách





công lao



Thông thường bờ thửa có chiều cao từ 8 -10 cm so với mặt ruộng, chiều rộng rất hẹp

khoảng 20 cm thậm chí một người đi bộ qua cũng rất khó khăn. Khả năng giữ nước của các

bờ thửa kém.

Kết luận chung Chương I:

-



Cần phải xác định lại các yêu cầu cơ bản của một lơ, thửa ruộng là những cái gì?



-



Đề xuất ra một số hình thức hiện đại hóa trong quy hoạch đồng ruộng, từ đó làm cơ sở áp

dụng cho các vùng sinh thái của ĐBSH.



Trang 9



PHƯƠNG ÁN NÂNG CẤP HĐH HTTN NỘI ĐỒNG VÀ PT SẢN XUẤT HÀNG HÓA



10/ 2011



CHƯƠNG 2: PHƯƠNG ÁN NÂNG CẤP HĐH HTTN NỘI ĐỒNG GẮN VỚI QUY

HOẠCH ĐỒNG RUỘNG VÀ PT SẢN XUẤT HÀNG HÓA



2.1. YÊU CẦU CƠ BẢN CHO QUY HOẠCH LÔ, THỬA ĐỒNG RUỘNG



Tại Việt Nam, trong các giáo trình giảng dạy của các trường Đại học, các Đề tài

nghiên cứu trước đã có đề cập đến các phương pháp quy hoạch hệ thống thủy lợi trong đó

chủ yếu là quy hoạch xây dựng các cơng trình đầu mối và hệ thống kênh mương nhưng

chưa có nghiên cứu nào đi sâu vào nghiên cứu vấn đề quy hoạch đồng ruộng. Trong chuyên

đề này sẽ bước đầu đưa ra các phương pháp tiếp cận một cách sơ khai đối với quy hoạch

đồng ruộng, một trong nhân tố quan trọng để xây dựng Nông Thôn Mới.

Trước khi tiến hành quy hoạch lô thửa đồng ruộng, nhà quy hoạch cùng chính quyền

địa phương cần phải xác định được các yêu cầu cơ bản, mục tiêu chính là phải đảm bảo

được 03 nhân tố: Kinh tế, Môi trường và Xã hội.

Ví dụ: Đối với vùng SXHH cần nhắm tới một số mục tiêu:

-



Đủ nước tưới cho cây trồng của nhiều vụ khác nhau trong năm;



-



Lô ruộng cần đủ diện tích cho các loại máy móc nơng nghiệp hoạt động;



-



Bố trí kênh tưới và kênh tiêu sao cho vẫn đủ nước nhưng khơng lãng phí;



-



Tùy theo từng loại đất canh tác mà bố trí độ dốc mặt ruộng một cách hợp lý.

Trên đây là một ví dụ yêu cầu cho một xứ đồng canh tác nông nghiệp SXHH, cụ thể

hơn trong chuyên đề này tác giả muốn đề cập một cách chi tiết các yêu cầu cần chuẩn bị cho

việc quy hoạch đồng ruộng theo hướng Hiện Đại Hóa như sau:

2.1.1. Xác định được phương pháp tưới cho khu SXHH



Hiện có 04 phương pháp tưới chủ yếu tại vùng ĐBSH: Tưới chảy tràn, Tưới phun

mưa, Tưới rãnh hay Tưới nhỏ giọt.

Theo một nghiên cứu của Finger L., Morris M (2005) – Lựa chọn trong quản lý

nước, cục Quản lý nơng nghiệp, Úc có đưa ra một số so sánh của các phương pháp tưới như

bảng dưới:



Trang 10



PHƯƠNG ÁN NÂNG CẤP HĐH HTTN NỘI ĐỒNG VÀ PT SẢN XUẤT HÀNG HĨA



Phương

pháp



Giá thành

bơm



u cầu nhân

cơng



Điều kiện

áp dụng



Ngun

nhân mất

nước



10/ 2011



Nhận xét



Tưới chảy

tràn (hay

tưới trọng

lực)



Phụ thuộc vào

địa hình



Cao (phụ thuộc

vào mức độ tự

động của CTTL)



Địa hình

khơng q

dốc



Bay hơi

Thấm



Có thể dẫn đến các

hiện tượng xói mòn

đất, thích hợp với

việc trồng lúa.



Tưới phun

mưa



Rất cao



Ít (thường chỉ cần

một người điều

khiển)



Vùng khô

hạn hoặc nơi

sản xuất cây

trồng giá trị

cao



Bay hơi

Gió

Thấm



Phù hợp với các loại

rau màu có giá trị

cao, không phù hợp

với việc trồng lúa



Tưới rãnh



Phụ thuộc vào

địa hình



Cao



Địa hình hơi

dốc



Bay hơi

Thấm



Phù hợp với các vùng

đồi núi, trung du hoặc

mốt số loại rau mầu



Tưới nhỏ

giọt



Rất thấp



Ít (thường chỉ cần

một người điều

khiển)



Vùng khơ

hạn, ít nước



Thấm



Có ưu thế trong kiểm

sốt nước tưới.

Không phù hợp với

lúa



Nếu như trước đây một khu vực chủ yếu là trồng lúa với phương pháp truyển thống

là tưới chảy tràn, nhưng nay do nhu cầu chuyển đổi sang trồng các loại rau màu năng suất

cao với phương pháp tưới rãnh hoặc tưới nhỏ giọt thì cần phải có một số các biện pháp đào

đắp trên mặt ruộng. Tuy nhiên, việc đào đắp này đối với quy hoạch đồng ruộng cần đảm

bảo:

-



Đảm bảo đất sau khi được đào đắp không làm ảnh hưởng tới các thành phần chính của lơ

thửa như bờ vùng, hoặc bờ thửa;



-



Đảm bảo cơng trình được đưa vào đồng ruộng phải phù hợp với các cơng trình khác đã có

trong quy hoạch.

2.1.2. Dọn sạch sẽ các vật cản trên đồng ruộng của khu SXHH



Trang 11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: HIỆN TRẠNG QUY HOẠCH ĐỒNG RUỘNG ĐỂ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT HÀNG HÓA VÙNG ĐBSH

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×