Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ ĐỘC QUYỀN TRONG KINH DOANH XĂNG DẦU TẠI VIỆT NAM

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ ĐỘC QUYỀN TRONG KINH DOANH XĂNG DẦU TẠI VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 0trang

Với tỷ lệ thị phần lên tới 50% của Petrolimex hiện nay, rõ ràng là một con số

đảm bảo an toàn cho vị thế của Petrolimex trên thị trường xăng dầu trong nước.

Hơn nữa nếu đơn vị chiếm 50% thị phần cung cấp nguồn nhiên liệu này đã

kiềm giá thì cũng chẳng có đơn vị nào tăng giá. Bởi lẽ, nếu giá thế giới mà tăng

cao, doanh nghiệp khác bán bằng giá của Petrolimex cũng đã là khó khăn.

Có thể nói, xăng dầu là mặt hàng chiến lược, khá nhạy cảm và chủ trương

tăng quyền tự chủ cho doanh nghiệp để thị trường xăng dầu vận hành theo cơ chế

thị trường, đảm bảo quyền lợi của các bên ngay lập tức nhận được sự đồng tình,

ủng hộ của nhiều người. Tuy nhiên, một số ý kiến khác vẫn băn khoăn về việc liệu

quyền lợi của người tiêu dùng có được đảm bảo khi doanh nghiệp được tự quyết

định giá theo ý mình, cũng như cần làm gì để tránh tình trạng chuyển từ độc quyền

Nhà nước sang độc quyền doanh nghiệp.

Nguyên nhân chính của những tranh cãi trên là do Petrolimex đang chiếm

với khoảng 50% thị phần chi phối thị trường. Vì các sản phẩm xăng dầu gần như

đồng nhất và dịch vụ tương đối đơn giản nên các nhà phân phối xăng dầu khác đều

chạy theo giá bán của Petrolimex, vì nếu họ bán với giá cao hơn sẽ mất khách, còn

bán thấp hơn thì bị giảm lợi nhuận. Đối với Petrolimex, một khi có khả năng chi

phối thị trường thì cơng ty này có thể “nâng giá nhanh, hạ giá chậm” và đương

nhiên là các đơn vị khác sẽ được “ăn theo”. Kết quả là sức mạnh độc quyền (hay

tựa-độc-quyền) của Petrolimex đã triệt tiêu cơ chế thị trường cạnh tranh và làm

giảm phúc lợi của người tiêu dùng.

Khi kỷ luật của cạnh tranh không phát huy tác dụng thì Nhà nước có cơ sở để

can thiệp thơng qua các biện pháp điều tiết nhằm đảm bảo hiệu quả kinh tế và bảo

vệ phúc lợi của người tiêu dùng. Cụ thể, Nhà nước có thể điều tiết về mức giá, về

chất lượng dịch vụ và về quy định gia nhập - rút lui khỏi hoạt động kinh doanh

xăng dầu.



10



Bản chất của việc điều tiết mức giá là điều chỉnh mối quan hệ lợi ích giữa

Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng. Có lẽ Nhà nước khơng muốn quy định

một mức giá quá cao vì như vậy sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí của khu vực hộ

gia đình và kinh doanh (và tất nhiên là cả CPI nữa). Nhà nước cũng không thể quy

định một mức giá quá thấp vì điều này tuy làm lợi cho người tiêu dùng nhưng lại

gây khó khăn cho doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu và ảnh hưởng tới ngân sách

Nhà nước.

Một quy tắc phổ biến của điều tiết giá là quy định một mức giá sao cho

doanh nghiệp bị điều tiết có thể thu hồi chi phí và có một mức lợi nhuận hợp lý.

Tuy nhiên, việc áp dụng quy tắc này trong thực tế khơng hề dễ dàng. Khó khăn thứ

nhất là làm thế nào để xác định được các chi phí hợp lý của doanh nghiệp. Chi phí

này bao gồm giá nhập xăng dầu (fob), phí bảo hiểm, cước vận chuyển về đến Việt

Nam, các loại thuế và phí, chi phí kinh doanh (vốn, lao động, khấu hao...), trích quỹ

bình ổn và các khoản trích nộp khác theo luật định. Nhìn vào cơ cấu chi phí này, có

thể thấy ngay là có những chi phí cơ quan điều tiết có thể quan sát và tính tốn

được một cách tương đối dễ dàng (như giá xăng dầu thế giới, các loại thuế và phí).

Tuy nhiên cũng có những chi phí rất khó quan sát và xác minh tính hợp lý,

chẳng hạn như chi phí đầu tư, quỹ lương, khấu hao... Rõ ràng là cơ quan điều tiết

không muốn bù đắp cho những chi phí khơng hợp lý do đầu tư kém hiệu quả, do

quỹ lương quá cao vì dư thừa lao động hay tiền thưởng quá đáng. Để giải quyết khó

khăn này, cơ quan điều tiết cần yêu cầu các công ty kinh doanh xăng dầu công khai

cơ cấu chi phí của mình. Bên cạnh đó, cơ quan điều tiết cũng có thể so sánh cơ cấu

chi phí này với cơ cấu chi phí của các doanh nghiệp cạnh tranh trong và ngoài

nước. Trong trường hợp của Việt Nam, vì Petrolimex có vai trò chi phối thị trường

nên để tiết kiệm chi phí, cơ quan điều tiết trước tiên chỉ cần thực hiện hai nghiệp vụ

trên với doanh nghiệp này.



11



Khó khăn thứ hai của việc điều tiết giá là làm thế nào để xác định mức lợi

nhuận hợp lý vì các doanh nghiệp xăng dầu có thể lập luận rằng ngành kinh doanh

này tiềm ẩn nhiều rủi ro nên phải được bù đắp bằng một mức lợi nhuận trên trung

bình. Một lần nữa, việc xác định mức lợi nhuận trung bình của ngành kinh doanh,

đồng thời so sánh với các cơng ty cạnh tranh trong và ngồi nước có thể giúp cơ

quan điều tiết khắc phục phần nào khó khăn này.

Bên cạnh hai khó khăn trên, cơ quan điều tiết cũng phải quan tâm đến một số

vấn đề kỹ thuật quan trọng như xác định giá cơ sở và khi nào thay đổi giá cơ sở.

Như đã thảo luận ở trên, trong cơ cấu chi phí của các doanh nghiệp xăng dầu có

một số khoản mục có tính chủ quan, khơng quan sát được, vì vậy khơng nên đưa

các khoản mục chi phí này vào trong giá cơ sở. Tốt nhất là dùng ngay giá xăng dầu

thế giới - là mức giá hoàn toàn khách quan và minh bạch làm giá cơ sở. Về tần suất

thay đổi giá cơ sở, nếu Nhà nước muốn bình ổn giá thì chỉ nên điều chỉnh giá hay

thuế suất khi giá cơ sở biến động đủ lớn (trên 5% chẳng hạn).

Ngoài giá bán còn có hai cơng cụ điều tiết khác, đó là điều tiết chất lượng

dịch vụ và quy định việc gia nhập - rút lui khỏi ngành kinh doanh. Về chất lượng

dịch vụ, quan trọng nhất là các tiêu chuẩn bảo đảm an toàn và bán đúng bán đủ cho

khách hàng. Về quy định gia nhập - rút lui khỏi ngành kinh doanh, Nhà nước cần

tăng cường tính cạnh tranh cho thị trường bằng cách cho phép sự tham gia của

nhiều đầu mối nhập khẩu, đồng thời cần giảm bớt tính độc quyền trong hoạt động

phân phối xăng dầu.

Không nên hi vọng rằng cơ chế thị trường trong điều kiện tồn tại độc quyền

sẽ nâng cao phúc lợi cho người tiêu dùng và cải thiện hiệu quả cho nền kinh tế. Nói

cách khác, một khi còn độc quyền và thiếu cạnh tranh thì cơ chế thị trường sẽ

khơng thể vận hành hiệu quả. Khi ấy, cần đến hoạt động điều tiết một cách cơng

bình và có hiệu lực của Nhà nước, mà điều này lại phụ thuộc khả năng tách bạch

mục tiêu kinh doanh ra khỏi các mục tiêu chính trị - xã hội và khả năng minh bạch

12



hóa cơ cấu chi phí của các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, nhất là những doanh

nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường.

2. Vấn đề định giá của các doanh nghiệp

Các doanh nghiệp sẽ định giá như sau: Giá cơ sở sẽ được xác lập để hình

thành nên “giá bán lẻ xăng dầu”. Giá cơ sở là tổng của các khoản như sau: Giá CIF

(tức giá xăng dầu thế giới theo công bố trên tờ Plalt’s Singapore được tính bình

qn của số ngày dự trữ lưu thông theo quy định cùng với chi phí phát sinh để đưa

sản phẩm về đến cảng) cộng với thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, tỷ giá ngoại

tệ, thuế VAT, phí xăng dầu, mức trích quỹ bình ổn giá, các loại thuế, các khoản trích

nộp khác theo luật định, chi phí kinh doanh và lợi nhuận định mức…

Mọi biến động của mức giá này sẽ được coi là căn cứ để doanh nghiệp tăng

hay giảm giá bán lẻ xăng dầu trên thị trường. Như vậy, khi “giá cơ sở” giảm từ trên

3 đến 12%, Doanh nghiệp phải giảm giá bán lẻ với mức không thấp hơn 50% của

mức giảm giá cơ sở. Ngược lại, nếu giá cơ sở tăng từ trên 3 đến 12%, Doanh

nghiệp cũng được đề xuất tăng giá bán lẻ với điều kiện không vượt quá 50% của

mức tăng giá cơ sở.

Lâu nay, dư luận luôn đặt nghi vấn về sự minh bạch của cơ chế tính giá bán

lẻ xăng dầu. Dù có đến 11 doanh nghiệp tham gia nhập khẩu nhưng trên thực tế, cả

nước vẫn chỉ áp một loại giá cho xăng dầu bán lẻ. Đây là điều thậm vô lý, chứng tỏ,

ngành kinh doanh xăng dầu chưa thực sự được điều hành theo cơ chế thị trường

như định hướng của Chính phủ. Người tiêu dùng (NTD) vẫn chưa có quyền được

lựa chọn và luôn luôn bức xúc, mỗi khi giá dầu thế giới tăng, doanh nghiệp vội

vàng tăng ngay giá bán lẻ. Mặc dù, lúc buộc phải giảm giá, doanh nghiệp lại giảm

nhỏ giọt, từ từ.

Số liệu của Bộ Công Thương thống kê cho thấy năm 2015 tiêu thụ trong

nước là 15,46 triệu tấn xăng dầu, với mức tăng trưởng 18,5% so với năm trước đó.

Vấn đề này có thể lý giải sau:

13



Do thị trường xăng dầu Việt Nam khơng có cạnh tranh. Tuy có hơn 11 doanh

nghiệp nhưng đều thống nhất chung một giá bán. Thị trường do Tổng Công ty

Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) áp đảo. Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn cạnh

tranh về giá đều khơng có khả năng thắng.

Cơ chế điều hành giá xăng dầu hiện nay căn cứ vào lỗ, lãi từng lít của Doanh

nghiệp là chưa phù hợp. Thứ nhất, doanh nghiệp có q trình nhập khẩu, dự trữ dài,

hạch tốn sau một thời gian. Thứ hai, doanh nghiệp kinh doanh nhiều mặt hàng

khác nhau; lỗ, lãi của các mặt hàng bù chéo cho nhau. Do đó, mức lỗ, lãi của mỗi

doanh nghiệp phải tính trên tổng thể, khơng phải căn cứ lỗ, lãi từng lít để cho tăng

hoặc giảm giá bán. Mức lỗ, lãi được tính từ giá bán đến chi phí đầu vào. Gần đây,

sự thiếu ổn định về thuế nhập khẩu, trả nợ ngân sách... làm vênh giữa chi phí đầu

vào của doanh nghiệp trong những thời điểm khác nhau. Nếu lách được lỗ hổng

này, doanh nghiệp có thể thu lợi nhuận lớn.

Liên quan đến chi phí của doanh nghiệp như định mức hao hụt, chi phí đại

lý..., lâu nay chúng ta khơng rà sốt chặt chẽ, kể cả khi có kết quả kiểm tốn để làm

rõ lỗ, lãi là do giá bán lẻ chậm điều chỉnh hay chi phí bất cập. Trong đó có cả chi

phí lương, vốn, rủi ro tỉ giá hối đối và các chi phí sản xuất khác. Tóm lại, hệ thống

xuất nhập khẩu xăng dầu chưa được hạch toán và đối xử giống một doanh nghiệp

đang kinh doanh trên thị trường với một mặt hàng chiến lược đặc biệt. Thay vào đó,

doanh nghiệp xăng dầu gần như là một bộ phận nối dài của cơ quan quản lý Nhà

nước.

Tuy nhiên, việc doanh nghiệp khi muốn tăng giá phải đăng ký trước 3 tháng:

tại sao chúng ta vẫn lúng túng trong điều hành giá xăng dầu? Nguyên nhân sâu xa

vì trong cơ cấu giá xăng dầu, khoảng 50% là thu về ngân sách Nhà nước (thuế xuất

nhập khẩu và các khoản thu khác). Tỉ lệ thu về ngân sách khá lớn nên việc lấy giá

xăng trong nước so sánh với giá của nước khác không hẳn đã hợp lý do mức thu về

ngân sách của mỗi nước khác nhau nên tác động trực tiếp đến giá bán lẻ khác nhau.

14



Hơn nữa, Việt Nam lại có dầu thô. Thông qua mức thu ngân sách, Nhà nước điều

chỉnh được giá xăng dầu vì lợi ích của cả ba bên: Nhà nước, doanh nghiệp và người

dân. Vì vậy, “thả” giá xăng về cơ chế thị trường khơng có nghĩa là để Doanh nghiệp

được hoàn toàn quyết định giá bán thế nào cũng được.

Một lý do khác để không “thả” giá xăng dầu: Đây là mặt hàng có tác động

đến tất cả mọi lĩnh vực của nền kinh tế và đời sống. Vấn đề là Nhà nước quản lý giá

bằng biện pháp gì, ở mức độ nào để khơng làm méo mó thị trường. Kinh nghiệm từ

một số nước trên thế giới cho thấy doanh nghiệp muốn tăng giá phải đăng ký trước

3 tháng. Đó là một cách quản lý tốt, khác với Việt Nam vài ngày lại điều chỉnh

hoặc bắt tăng, giảm. Tư duy của doanh nghiệp Việt Nam là tăng giá mới có phát

triển nên càng khơng thể khơng có sự can thiệp của Nhà nước. Một điểm rất đáng

lưu ý là lâu nay, người dân luôn phản ứng với việc tăng giá xăng vì thơng tin về cơ

cấu giá xăng còn mù mờ. Họ thấy chính sách điều hành giá hình như chỉ vì quyền

lợi doanh nghiệp, vì cơ chế của mình mà khơng có tiếng nói của người tiêu dùng.

Cần đưa ra một cơ chế công khai tăng giá xăng dầu do những nguyên nhân nào,

giảm do nguyên nhân nào để người dân yên tâm rằng có lúc doanh nghiệp hoặc

Nhà nước cũng phải tạm thời hy sinh quyền lợi. Như thế người tiêu dùng sẽ có

niềm tin và khơng quan tâm đến giá xăng nữa.

3. Ảnh hưởng của giá xăng dầu đến nhà sản xuất và người tiêu dùng

Có thể nói rằng, việc tăng giá xăng dầu khơng đem lại lợi ích cho kinh tế

Việt Nam. Theo lý thuyết, một sự gia tăng mạnh giá xăng dầu có thể tạo ra gánh

nặng đối với nền kinh tế theo hai cách thức khác nhau, tùy thuộc vào mức độ mà

một quốc gia phụ thuộc vào xăng dầu nhập khẩu và việc tiêu thụ xăng dầu tương

đối so với tổng sản phẩm quốc dân.

Thứ nhất, việc giá xăng dầu cao và ngày càng tăng làm giảm mức sống của

dân cư xuống dưới mức lẽ ra đã có thể đạt được do tổng tiêu dùng cho sản phẩm

xăng dầu tăng lên tương đối so với thu nhập (ước tính sự gia tăng giá xăng tại Việt

15



Nam khiến cho mỗi cá nhân sử dụng phương tiện xe gắn máy mỗi tháng phải chi

thêm bình quân khoảng 30 - 40.000 đồng so với trước; hơn nữa, mặt hàng xăng dầu

tương đối không co giãn so với giá - nghĩa là giá tăng nhưng người sử dụng phương

tiện vận tải cơ giới vẫn phải sử dụng do khơng có nhiên liệu khác thay thế, do vậy

khi giá xăng dầu tăng thì người tiêu dùng có ít thu nhập hơn dùng để chi tiêu cho

các hàng hóa khác).

Thứ hai, sự gia tăng này tác động đến nền kinh tế theo các cách thức mà rất

khó để các nhà hoạch định chính sách có thể quản lý được: một mặt, sự gia tăng giá

xăng dầu tạo áp lực gây ra lạm phát thông qua hiện tượng giá cánh kéo. Do xăng

dầu là yếu tố đầu vào của hầu như tất cả các ngành kinh tế khác, nên giá đầu vào

tăng, trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi, sẽ kéo theo giá đầu ra sản

phẩm tăng lên dẫn đến chỉ số giá cả nói chung gia tăng, ảnh hưởng đến sức mua

của xã hội và gây ra áp lực lạm phát. Chi phí sản xuất tăng sẽ tác động đến năng

lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam.

Ngoài ra, còn khơng ít những chiêu thức mà đại lý sử dụng móc túi người

tiêu dùng trong lĩnh vực xăng dầu như; gian lận trong đo lường và kinh doanh sản

phẩm xăng dầu. Đây là thực trạng mà nhiều năm qua người tiêu dùng Việt Nam đã

phải gánh chịu. Trong những năm qua, giá xăng trong nước gặp nhiều biến động do

tình hình thế giới càng khiến nhiều gian thương gia tăng hành vi “móc túi” khách

hàng bằng nhiều thủ đoạn tinh vi hơn.

Theo một số thống kê chưa chính thức, những kiểu đong thiếu xăng, gắn chíp

điện tử, pha xăng dỏm… đã khiến người tiêu dùng thiệt hại với giá trị ước tính lên

đến vài trăm tỷ đồng. Cũng trong năm nay, các cơ quan thơng tấn báo chí đã đồng

loạt lên tiếng phê phán các hành vi gian lận trong đo lường xăng dầu, đồng thời Hội

Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam kiến nghị truy tìm và xử lý hình sự đối với những



16



tổ chức, cá nhân bn bán, cung cấp những thiết bị, phụ kiện tiếp tay cho việc thực

hiện gian lận thương mại.

CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

Hạn chế độc quyền là việc làm cần thiết vì độc quyền gây ra thiệt hại đối với

nền kinh tế. Hạn chế độc quyền là vấn đề quan trọng trong kinh tế học ứng dụng.

Một số ngành quan trọng như ngành xăng dầu thường bị khống chế bằng pháp luật,

nhằm buộc ngành nghề này phải hoạt động theo phương thức có lợi nhất cho xã hội

để hạn chế thiệt hại do độc quyền. Một số giải pháp đề nghị nhằm giảm những tổn

thất đối với nền kinh tế.

- Nhà nước cần xác định rõ và bóc tách giữa 2 nhiệm vụ về bản chất khác

hẳn nhau là: Kinh doanh xăng dầu như mục đích tự thân của các doanh nghiệp kinh

doanh xăng dầu, với việc dự trữ xăng dầu bảo đảm an ninh năng lượng như một

mục tiêu chính trị quốc gia.

- Nhà nước cần xác định được giá sàn và giá trần trên cơ sở phân nhóm đúng

vai trò của từng nhân tố cấu thành giá bán lẻ xăng dầu.

- Nhà nước cần cho phép tự động điều chỉnh giá bán lẻ xăng dầu theo xu

hướng và cạnh tranh thị trường, đồng thời tăng cường các chế tài của Nhà nước và

giám sát xã hội.

- Thúc đẩy quá trình tự do hố kinh doanh xăng dầu, tạo cạnh tranh lành

mạnh đầy đủ trên thị trường bán buôn và bán lẻ xăng dầu Việt Nam. Khi đó, Nhà

nước vẫn thu được thuế, các doanh nghiệp có thêm động lực và cơ hội đầu tư phát

triển, còn người tiêu dùng thì được lợi cả về chất lượng dịch vụ và giá cả do các

“nhà xăng’ cung cấp.

- Chính phủ chỉ đạo các cơ quan chức năng tiến hành kiểm toán tồn diện và

khách quan các chi phí kinh doanh hiện hành và chuẩn mực của các hoạt động kinh

doanh xăng dầu, lập và cơng khai hố cơ sở dữ liệu có liên quan (giá mua, chi phí

17



vận tải, duy trì hệ thống dự trữ và phân phối xăng, lợi nhuận định mức và các nghĩa

vụ tài chính của kinh doanh xăng dầu…), để các cơ quan chức năng và giới tiêu

dùng có cơ sở khoa học minh bạch cho việc tính và kiểm tra “giá chuẩn” trên thị

trường kinh doanh xăng dầu trong nước.

- Các cơ quan chức năng nên thường xuyên thanh tra, kiểm tra việc chấp

hành chính sách pháp luật trong hoạt động sản xuất kinh doanh xăng dầu đối với

các doanh nghiệp nhằm đảm bảo sự công bằng cho doanh nghiệp và người tiêu

dùng.

- Pháp quy hoá các quy định và yêu cầu quản lý nhà nước có liên quan đến

chất lượng, định giá và quản lý giá xăng dầu, bảo đảm cạnh tranh tự do và minh

bạch về giá cả, cũng như tạo các căn cứ ổn định và thuận lợi cho hình thành và dự

báo giá xăng dầu theo sát các động thái thị trường và giảm thiểu các “thắc mắc”,

đốn mò và tin đồn thất thiệt trên thị trường này./.



18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ ĐỘC QUYỀN TRONG KINH DOANH XĂNG DẦU TẠI VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×