Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hoàn thiện nâng cao hệ thống thông tin tín dụng

Hoàn thiện nâng cao hệ thống thông tin tín dụng

Tải bản đầy đủ - 0trang

Cơng tác thơng tin tín dụng là một cơng việc dịch vụ về thông tin cho các

ngân hàng và doanh nghiệp. Vì vậy cơng tác thơng tin tín dụng phải có chức

năng kinh doanh về tin, mọi việc thu thập cung ứng thông tin phải được dựa trên

quan hệ mua bán.

Cơng tác thơng tin tín dụng phải có bộ máy lao động riêng, hoạt động của

nó khơng nhằm mục tiêu sinh lời, chịu sự chỉ đạo và quản lý của Ngân hàng Nhà

nước trung ương.

Từ những suy nghĩ như trên, qua tham khảo kinh nghiệm của một số

nước. gắn với đặc thù riêng có của nền kinh tế và hệ thống ngân hàng Việt Nam,

để khắc phục những thiếu sót và tồn tại hiện nay, nhằm nâng cao chất lượng hoạt

động, chúng ta có thể thay đổi mơ hình hoạt động của trung tâm CIC như sau:

CIC Việt Nam là một doanh nghiệp nhà nước trực thuộc ngân hàng Nhà

nước Việt Nam để cung cấp các sản phẩm thông tin chuyên dung phục vụ hoạt

động ngân hàng. Hoạt động của trung tâm không nhằm mục tiêu sinh lời, trung

tâm được bố trí gọn nhẹ khơng rải đều ra các tỉnh, thành phố hiện nay. Các chi

nhánh CIC ở các thành phố trung tâm là nơi trực tiếp thu nhận, xử lí, và cung

cấp thơng tin cho các tổ chức tín dụng trong nước. Các chi nhánh này trực tiếp

nhận sự chỉ đạo của CIC trung ương.

1.3. Hoàn thiện hệ thống thông tin của Ngân hàng Nhà nước Việt

Nam

Hệ thống thông tin tín dụng của ngân hàng Nhà nước Việt Nam bao gồm

hệ thống thơng tin tín dụng của Nhà nước và phòng thơng tin tín dụng của các

ngân hàng thương mại, hình thành và đi vào hoạt động được gần 20 năm, bước

đầu thu được những kết quả đáng phấn khởi.

Hệ thống này đã bổ sung thêm một kênh giúp các ngân hàng thương mại

đối phó với vấn đề thơng tin khơng cân xứng, từ đó góp phần ngăn ngừa, hạn

chế rủi ro tín dụng. Tuy nhiên thơng tin tín dụng mà trung tâm thơng tin tín dụng

của ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại cung cấp vẫn chưa đáp



12



ứng được cả về số lượng và chất lượng, thiếu tin cậy. Đó là một trong những

nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng.

Vì vậy, giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động thông tin tín dụng của hệ

thống ngân hàng đang là một đòi hỏi cấp thiết trên cả phương diện lí luận và

thực tiễn. Sau đây là một số giải pháp nâng cao hoạt động của hệ thống thơng tin

tín dụng ngân hành Việt Nam:

1.3.1. Nâng cao chức năng của hệ thống thông tin tín dụng

Cung cấp thơng tin tín dụng cho ngân hàng Nhà nước phục vụ cho việc

thực hiện tốt chức năng hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia, góp

phần ổn định giá trị đồng tiền Việt Nam và chức năng quản lý của ngân hàng

Nhà nước đối với hoạt động ngân hàng trên lãnh thổ Việt Nam.

Cung cấp thơng tin tín dụng cho các ngân hàng nhằm làm lành mạnh hóa

các quan hệ tiền tệ tín dụng giữa các doanh nghiệp và các ngân hàng góp phần

đảm bảo an toàn và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng trong hệ thống nền

kinh tế.

1.3.2. Nhiệm vụ của hệ thống thơng tin tín dụng

Thứ nhất là thu thập thông tin, tổ chức và tiến hành thu thập thơng tin về

các doanh nghiệp, các thơng tin khác có liên quan đến hoạt động kinh doanh tiền

tệ và dịch vụ từ các ngân hàng, các cơ quan hữu quan, các doanh nghiệp, các cơ

quan thông tin trong nước theo các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước

và của ngành.

Hợp tác với các cơ quan thông tin nước ngồi để thu thập, trao đổi thơng

tin để phục vụ cho hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng Việt Nam.

Thứ hai là phải lưu trữ, xử lý và phân tích thơng tin: Trên cơ sở thơng tin

đã thu thập được tiến hành xử lý, phân tích thông tin, đưa ra bản báo cáo thông

tin doanh nghiệp, danh sách xếp loại doanh nghiệp có quan hệ tại các ngân hàng,

các báo cáo, dự bảo có liên quan đến hoạt động tín dụng từng thời kì.

Tổ chức lưu trữ, xây dựng kho dữ liệu thông tin về doanh nghiệp và các

thơng tin khác có liên quan đến hoạt động tín dụng.

13



Thứ ba là phục vụ thơng tin: Cung cấp thông tin phục vụ ngân hàng Nhà

nước, các cơ quan hữu quan và các loại dịch vụ thông tin tín dụng đáp ứng nhu

cầu của các ngân hàng trong và ngoài nước.

Thứ tư là phải nên phục vụ các nhiệm vụ khác cho khách hàng như đào

tạo, hướng dẫn nghiệp vụ thơng tin tín dụng, lập trình phần mềm thơng tín tín

dụng, phân tích tình hình hoạt động doanh nghiệp….

1.3.3. Giải pháp về mơ hình tổ chức

Trung tâm thơng tin tín dụng được thành lập năm 1999 dưới sự chỉ đạo

của thống đốc ngân hàng Nhà nước, trên cơ sở tổ chức lại trung tâm thơng tin tín

dụng thuộc Vụ tín dụng. Trung tâm thơng tin tín dụng có chức năng làm đầu mối

và chỉ đạo hoạt động nghiệp vụ thơng tin tín dụng trong tồn bộ hệ thống ngân

hàng. Đồng thời phải củng cố lại các trung tâm, bộ phận CIC hiện có tại các

ngân hàng Nhà nước để thực hiện việc thu thập và cung cấp thông tin cho các

ngân hàng, chi nhánh ngân hàng trên địa bàn.

Về phía các ngân hàng, tại trung tâm điều hành phải thành lập phòng

thơng tin tín dụng, hoặc phòng thơng tin phòng ngừa rủi ro. Để triển khai hoạt

động thơng tin tín dụng trong từng hệ thống ngân hàng thương mại, tại các chi

nhánh tổ chức tín dụng cũng phải có cán bộ chuyên trách để phối hợp thu thập

và cung cấp thông tin.

1.3.4. Nâng cao chất lượng cán bộ và đào tạo cán bộ

Yêu cầu đối với cán bộ chun trách là về cơng tác thơng tin tín dụng, kể

cả tại ngân hàng Nhà nước và tại các chi nhánh trung tâm các ngân hàng là: cần

phải có trình độ đại học về ngân hàng, tài chính hoặc kinh tế, phải sử dụng thành

thạo máy vi tính và ít nhất một ngoại ngữ. Các cán bộ đó phải được tập huấn để

sử dụng thành thạo chương trình phần mềm CIC, biết cách thu thập, khai thác

thông tin, biết phân tích, đánh giá về doanh nghiệp.

Ngồi ra, các cán bộ CIC cần phải có thu nhập trung bình so với mặt bằng

chung của ngành, có chế độ thích hợp khi đi thu thập thơng tin. Cần phải có chế

độ quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của cán bộ CIC, được phép kiểm tra, đối

14



chiếu số liệu để thu thập thông tin tại các ngân hàng. Nếu để chế độ quá thấp sẽ

có tác dụng xấu đến chất lượng hoạt động thơng tin tín dụng do cán bộ chán nản,

khơng tận tình với cơng việc, thậm chí còn có thể sinh ra tiêu cực, lợi dụng cho

cá nhân, không đảm bảo an tồn, an ninh cho thơng tin.

1.3.5. Về xây dựng hành lang pháp lý cho hoạt động thông tin tín dụng

Cần xây dựng đồng bộ, đầy đủ các văn bản pháp quy, về hoạt động thơng

tin tín dụng trong hệ thống ngân hàng, như quy chế về tổ chức và hoạt động của

trung tâm thơng tin tín dụng ngân hàng Nhà nước, quy chế về tổ chức và hoạt

động nghiệp vụ thơng tin tín dụng của ngân hàng, hướng dẫn về tổ chức và hoạt

động thơng tin tín dụng tại các ngân hàng…

1.3.6. Người sử dụng tin và mối quan hệ với CIC

Người sử dụng tin chủ yếu là các ngân hàng: Các ngân hàng vừa là nguồn

cũng cấp thông tin quan trọng, vừa là người sử dụng thông tin của CIC nên cần

thiết lập mối quan hệ thành viên bắt buộc. Ngân hàng nhà nước cần quy định tất

cả các ngân hàng thương mại phải là thành viên CIC, coi đây là yếu tố trách

nhiệm, bắt buộc khi đăng kí hoạt động dưới tư cách một tổ chức tín dụng.

Người sử dụng thơng tin là doanh nghiệp Việt Nam: Không nên để doanh

nghiệp thành viên CIC như trước, mà chỉ là khách hàng mua tin, quan hệ bạn

hàng, chỉ được tra cứu những thông tin nhất định và phải trả phí sử dụng thơng

tin.

Các cơ quan nhà nước quản lý doanh nghiệp: là đối tượng phục vụ đặc

biệt quan hệ thông tin theo quy định của pháp luật. Các cơ quan này vừa là

nguồn cung cấp, vừa là người sử dụng thông tin, nên quan hệ trên cơ sở trao đổi

thơng tin giữa các cơ quan chính phủ.

Các cơ quan thơng tin trong và ngồi nước: là khách hàng mua tin, quan

hệ bạn hàng, có thể mối quan hệ hai chiều trên cơ sở thỏa thuận hoặc kí hợp

đồng (cam kết) trao đổi thông tin hai chiều với trung tâm CIC.

1.3.7. Thu thập thông tin



15



Nguồn thu thập thông tin: Trên cơ sở đúc kết kinh nghiệm về việc thu

thập thơng tin để hạn chế những khó khăn về phía nguồn thơng tin, có thể mở

rộng nguồn thu thập tin tới các cơ quan có thể khai thác được thông tin theo quy

định của pháp luật trên cơ sở quan hệ hai chiều, chú trọng nguồn thông tin từ

thông tin đại chúng.

Đồng thời mở rộng nguồn thu thập thông tin nước ngoài, cần tiếp cận

được với một số cơ quan thơng tin tín dụng lớn, đặc biệt cần tham gia thành viên

và trao đổi thông tin với diễn đàn thơng tin tín dụng ASEAN, Hiệp hội thơng tin

tín dụng châu Á, các cơ quan xếp hạn tín dụng trong khu vực.

Phương pháp thu thập thông tin: Trước đây, định hướng chủ yếu của trung

tâm CIC là thu thập thông tin thơng qua tổ chức tín dụng. Để đáp ứng yêu cầu

của việc đổi mới phương pháp thu thập thông tin, từ một số phương pháp thu

thập thông tin của nước ngồi, đồng thời từ kinh nghiệm thực tiễn, có thêm đề

xuất từ một số phương pháp thu thập thông tin đối với hệ thống thơng tin tín

dụng:

Phương pháp thu tin qua mạng máy tính nối với các ngân hàng.

Phương pháp thu tin từ các biểu báo cáo.

Thu tin qua đường công văn từ các cơ quan nhà nước quản lý doanh

nghiệp trên cơ sở quan hệ giữa các ngân hàng và các bộ, ban ngành hữu quan.

Phương pháp thu thập thông tin trực tiếp từ doanh nghiệp: CIC trực tiếp

gặp gỡ để phỏng vấn lãnh đạo doanh nghiệp hoặc có thể liên lạc qua điện thoại,

fax để chuyển đến doanh nghiệp một mẫu thu thập thông tin và đề nghị doanh

nghiệp gửi về CIC các thông tin dưới dạng văn bản.

Phương pháp thu thập thông tin từ các cơ quan thơng tin báo chí: đây là

phương pháp đơn giản nhưng rất hữu hiệu, thơng tin có nguồn gốc xác thực, đa

dạng phong phú.

Phương pháp thu thập thông tin qua mạng thơng tin điện tử như mạng

Internet, mạng trí tuệ Việt Nam của FPT-Vinanet, mạng Netnam, mạng 3C…



16



Nội dung thu thập thông tin: Theo đề xuất mới về việc mở rộng nguồn thu

thập thơng tin thì nội dung thu thập thông tin phải phong phú đa dạng hơn. Một

số điểm cần chú trọng trong nội dung thu thập thông tin về doanh nghiệp như

sau: Về loại hình sở hữu của doanh nghiệp, tình hình tài chính của doanh

nghiệp, người điều hành doanh nghiệp, cách thức quản lý của doanh nghiệp,

ngành hoạt động của doanh nghiệp, vị trí doanh nghiệp trên thị trường, sản phẩm

của doanh nghiệp, tình hình tài sản thế chấp của doanh nghiệp, mối quan hệ của

doanh nghiệp với doanh nghiệp khác.

Phạm vi thu thập thông tin: Đối với doanh nghiệp, phạm vi thu thập thơng

tin là tồn bộ doanh nghiệp của Việt Nam, hợp tác xã…

Về cá nhân kinh doanh, phạm vi thu thập thông tin là về các cá nhân kinh

doanh có mức dư nợ hơn 100 triệu đồng tại một ngân hàng.

1.3.8. Giải pháp đối với khâu xử lý thơng tin

Phân tích chất lượng tín dụng: Tại trung tâm CIC, việc phân tích chất

lượng hoạt động tín dụng nên tiến hành theo các tiêu thức khác nhau:

Một là phân loại nợ theo tổng dư nợ tiền Việt Nam và ngoại tệ của toàn hệ

thống ngân hàng đối với nền kinh tế, trong đó phân loại dư nợ thành 4 nhóm

theo chế độ hiện hành

Hai là phân loại dư nợ theo các tiêu thức trên đối với từng tổ chức tín

dụng.

Ba là phân loại dư nợ theo các tiêu thức trên đối với từng tỉnh, thành phố.

Bốn là phân loại dư nợ theo các tiêu thức trên đối với các ngành kinh tế,

thành phần kinh tế.

Năm là phân loại dư nợ theo từng thời hạn nợ: ngắn hạn, trung hạn, dài

hạn và nợ khác trong toàn hệ thống, từng ngân hàng và theo lãnh thổ, ngành

kinh tế, thành phần kinh tế.

Phân tích, xếp loại doanh nghiệp: Đối với thơng tin tín dụng Việt Nam thì

việc phân tích, xếp loại doanh nghiệp trước hết phải vì mục đích phục vụ cho

hoạt động tín dụng. Vì vậy đối với trung tâm CIC, phương án xếp loại doanh

17



nghiệp có quan hệ tại các tổ chức tín dụng như sau: Việc đánh giá, xếp loại một

doanh nghiệp, sẽ được dựa vào bốn nhóm tiêu thức: Quy mơ doanh nghiệp, khả

năng thanh tốn, quan hệ tín dụng, hiệu quả sản xuất kinh doanh.

1.3.9. Cung cấp thông tin ra

Về thông tin doanh nghiệp trong nước: thứ nhất hiện nay đang có 8 biểu

thông tin về doanh nghiệp, như vậy tương đối rườm rà, có thể ghép thành 4 biểu

như sau: Thơng tin về hồ sơ pháp lý doanh nghiệp, thông tin về tình hình phi tài

chính và thơng tin về quan hệ tín dụng.

Thứ hai là thơng tin về cá nhân kinh doanh có quan hệ tín dụng.

Thứ ba nên phát hành định kì hàng tháng bản tin CIC để đảm bảo thông

tin cập nhật và nội dung cải tiến.

Về phạm vi cung cấp thông tin ra: Được phép cung cấp công khai các

thông tin về doanh nghiệp, đối với các thông tin mật chỉ được cung cấp số tương

đối.

1.3.10. Áp dụng kĩ thuật tin học

Chương trình phần mềm CIC phải được xây dựng để đảm bảo một số yêu

cầu: thích hợp công nghệ mới tiên tiến, thuận tiện trong việc truyền tin và phù

hợp với các thiết bị hiện có tại Việt Nam, có khả năng bảo mật cao…

2. Kiểm tra, giám sát vốn vay của các ngân hàng

Kiểm tra, giám sát vốn vay của khách hàng phải đảm bảo được mức độ tín

nhiệm của khách hàng vay vốn. Có nhiều cách đánh giá, nhưng cách đánh giá

chung nhất là cán bộ tín dụng phải thu thập thơng tin về khách hàng và đánh giá

xem khách hàng là người vay tốt đến mức nào và dự báo khách hàng đó có thể

có khó khăn khi thanh tốn món tiền vay hay không bằng cách giám sát các hoạt

động sản xuất kinh doanh của khách hàng để biết họ có tuân theo những quy

định trong hợp đồng tín dụng hay khơng nhằm ngăn ngừa rủi ro có thể xảy đến

với các ngân hàng cho vay.

Nếu khách hàng vay tiền đã có tài khoản tiền gửi hoặc tiền vay qua một

thời gian dài, cán bộ tín dụng có thể nhìn vào hoạt động quá khứ đối với các tài

18



khoản đó sẽ biết được nhiều thơng tin về khách hàng đó. Số dư tài khoản tiền

gửi tại ngân hàng cho biết hoạt động của khách hàng tiềm tàng đến mức nào và

vào lúc nào trong năm, người đó rất cần tiền mặt. Việc xem lại những tấm sec

mà khách hàng vay viết cho biết những người nào đã cung cấp cho khách hàng

này.

Quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng như vậy sẽ làm lợi cho cả 2 bên.

Ngân hàng tốn ít thời gian hơn cho việc giám sát, còn khách hàng tránh được

những hoạt động rủi ro để không ảnh hưởng đến ngân hàng. Mối quan hệ trên có

thể giúp cho ngân hàng có thể đối phó với sự bất ngờ rủi ro đạo đức mà ngay cả

ngân hàng cũng không lường trước được ban đầu. Do vậy cần tạo lập được chiến

lược khách hàng đa dạng, lâu dài trên cơ sở giữ trọn chữ tín và sự thỏa mãn đối

với khách hàng vay cũng như gửi tiền.

Muốn vậy ngân hàng phải luôn củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động

của mình, đồng thời ln sâu sát tìm hiểu khách hàng để có phương hướng phục

vụ thích hợp. Đây là cơ sở cho việc kiểm tra, giám sát vốn vay của khách hàng

một cách tốt nhất.

3. Trích lập các quỹ dự phòng rủi ro

Hoạt động ngân hàng là một lĩnh vực chứa đựng nhiều rủi ro, trong đó rủi

ro do thơng tin khơng cân xứng có thể có ở mọi lúc, mọi nơi. Nó khơng hồn

tồn phụ thuộc vào mức độ kiểm soát của ngân hàng nhưng lại chịu sự chi phối

của các yếu tố khách quan. Vì vậy, nên chăng khi chúng ta thiết lập các quỹ với

một cơ chế trích lập dự phòng rủi ro khả thi trong điều kiện của nền kinh tế nước

ta hiện nay. Cơ chế tính phí dự phòng rủi ro vào ngay trong lãi suất cho vay của

khách hàng.



19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hoàn thiện nâng cao hệ thống thông tin tín dụng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x