Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
IV. Các nguyên nhân gây chóng mặt

IV. Các nguyên nhân gây chóng mặt

Tải bản đầy đủ - 0trang

và/hoặc nghe kém có thể khơng xuất hiện trong những cơn đầu của bệnh. Nhưng

khi bệnh tiến triển thì các triệu chứng này xuất hiện đều đặn và cường độ tăng dần

lên trong cơn chóng mặt.

Cơn chóng mặt thường xảy ra đột ngột, kéo dài nhiều phút hoặc cả giờ đồng

hồ. Chóng mặt thường theo kiểu xoay tròn và ở mức độ nặng làm bệnh nhân không

thể đứng hoặc đi lại được. Chóng mặt thường đi kèm với buồn nơn, nôn mửa, ù tai,

cảm giác đầy cả tai, và giảm thính lực (cường độ có thể tăng dần trong cơn).

Khám lâm sàng ghi nhận rung giật nhãn cầu có hướng ngang (có khi kèm

thêm xoay tròn). Pha chậm của rung giật nhãn cầu cũng như hướng ngón tay chỉ

lệch, hướng nghiêng người trong nghiệm pháp Romberg đều cùng phía với tai

bệnh. Bệnh nhân có khuynh hướng nằm nghiêng, tai bệnh hướng lên trên (nằm áp

tai lành xuống mặt giường) và khơng thích nhìn sang bên lành vì động tác này làm

nặng thêm tình trạng chóng mặt và rung giật nhãn cầu.

Các cơn thay đổi rất nhiều về mức độ nặng nhẹ và về tần số xuất hiện. Cơn

có thể xảy ra nhiều lần trong tuần và nhiều tuần liên tiếp, hoặc có khi chỉ tái phát

sau nhiều năm khơng có cơn.

Trong các thể nhẹ của bệnh, bệnh nhân thường có cảm giác nặng đầu, kém

tập trung chứ khơng phải chóng mặt đúng nghĩa, và có thể bị chẩn đốn lầm là lo

lắng hoặc trầm cảm.

Bệnh thường gặp ở lứa tuổi 20 đến 50, nam nữ đều mắc bệnh như nhau

Cơ chế bệnh sinh chưa rõ, có thể là do tăng thể tích trong hệ thống nội dịch

do giảm sự hấp thu hoặc tắc nghẽn trong ống dẫn.

* Điều trị:

Điều trị trong cơn cấp: nằm tại giường là phương pháp điều trị tốt nhất vì

bệnh nhân có thể tìm ra một tư thế thích hợp để chóng mặt ít xảy ra nhất.

Trong những cơn kéo dài có thể dùng dimenhydrinate, cyclizine, meclizine.



Chế độ ăn giảm muối cũng nên dùng dù rằng hiệu quả của chế độ ăn này khó

mà đánh giá được.

Có thể điều trị bằng phẫu thuật.



b) Hội chứng tiền đình ngoại biên khơng có điếc tai đi kèm

Khi khơng có điếc tai đi kèm chúng ta cần phân biệt giữa hội chứng tiền đình

ngoại biên và hội chứng tiền đình trung ương xảy ra đột ngột. Trong hội chứng tiền

đình ngoại biên sẽ khơng có các dấu hiệu tổn thương thân não hay tiểu não đi kèm.

* Viêm thần kinh tiền đình:

Cơn xảy ra kịch phát, thường chỉ có chóng mặt, khơng có ù tai, điếc tai đi

kèm.

Thường gặp ở tuổi trung niên, xảy ra ở cả hai phái.

Cơn chóng mặt xảy ra sau khi bị nhiễm trùng ở đường hơ hấp trên, do đó

nghĩ nhiều đến có thể do nhiễm siêu vi.

Chóng mặt tự thun giảm trong vòng vài giờ, vài ngày. Việc điều trị chỉ là ủ

ấm. Nếu kéo dài có thể sử dụng các thuốc điều trị triệu chứng.

Cơn chóng mặt có thể chỉ là một đợt duy nhất hoặc có khi tái đi tái lại nhiều

lần (gọi là bệnh lý tiền đình mãn tính), nhưng ln có tiên lượng tốt vì khơng ảnh

hưởng đến ốc tai.

1.2. Chóng mặt ngoại biên xuất hiện mãn tính

Trong trường hợp này chóng mặt thường khơng rõ, xảy ra trong thời gian

ngắn hoặc thường gặp là cảm giác chóng mặt, cảm giác mất thăng bằng và thường

khó phân biệt với cảm giác sợ té, cảm giác hoa mắt.



a) Chóng mặt tư thế

Tất cả các trường hợp chóng mặt đều nặng lên khi có cử động của đầu, tuy

nhiên gọi là chóng mặt tư thế chỉ khi mà chóng mặt xuất hiện ở một tư thế định sẵn

trong khơng gian.

Chóng mặt tư thế lành tính (Benign Positional Vertigo):

Bệnh có đặc điểm là cơn chóng mặt kịch phát và rung giật nhãn cầu xảy ra ở

những tư thế đặc biệt của đầu, nhất là khi nằm xuống, khi lật qua lật lại trên

giường, khi ngóc đầu lên và đứng dậy, khi ngửa đầu ra sau. Mỗi cơn kéo dài chưa

đầy một phút, nhưng có thể có nhiều cơn lập lại trong nhiều ngày, nhiều tháng hoặc

hiếm hơn nhiều năm. Khám lâm sàng hồn tồn khơng phát hiện bất thường về

thính lực, về tổn thương trong tai, hoặc bất thường ở những nơi khác.

Chẩn đoán nhờ nghiệm pháp Nylen-Barany. Khi cho làm nghiệm pháp, bệnh

nhân xuất hiện cơn chóng mặt kịch phát (sau vài giây), bệnh nhân sợ hãi, nắm chặt

tay người khám hoặc thành giường và ngồi dậy. Chóng mặt thường kèm theo

những cử động đong đưa của mắt và rung giật nhãn cầu, chủ yếu theo kiểu ngangxoay tròn, hướng xuống nền nhà. Chóng mặt và rung giật nhãn cầu kéo dài không

quá 30-40 giây (thường không quá 15 giây). Khi chuyển từ tư thế nằm sang tư thế

ngồi thường bệnh nhân vẫn còn chóng mặt và vẫn còn rung giật nhãn cầu.

Lập lại nghiệm pháp này, chóng mặt và rung giật nhãn cầu sẽ ít rõ ràng hơn,

sau 3-4 lần chúng ta sẽ khơng thấy xuất hiện chóng mặt và rung giật nhãn cầu nữa.

Tuy nhiên, sau khi cho bệnh nhân nghỉ một thời gian, làm lại nghiệm pháp, chóng

mặt và rung giật nhãn cầu nhãn cầu có thể xuất hiện lại với mức độ trầm trọng như

lúc đầu.

Lưu ý rằng nghiệm pháp Nylen-Barany âm tính vẫn khơng thể loại trừ chẩn

đốn. Ở một số bệnh nhân khơng có chóng mặt và rung giật nhãn cầu khi làm



nghiệm pháp này, tuy nhiên dựa vào bệnh sử và những yếu tố khác chúng ta vẫn

phải nghĩ đến chóng mặt tư thế lành tính.

Một biến thể khác của chóng mặt tư thế lành tính là chóng mặt xuất hiện vài

giây khi đột ngột xoay đầu. Những cơn chóng mặt kịch phát như vật có thể đến rồi

đi xảy ra nhiều năm, nhất là ở người già mà khơng cần điều trị gì cả.

b) Chóng mặt khơng theo tư thế: do viêm tai, do u thần kinh thính giác

(neurinome).

2/ Hội chứng tiền đình trung ương

2.1. Cơn chóng mặt dữ dội cấp tính

Cơn chóng mặt kịch phát xảy ra mà khơng có tổn thương thính lực đi kèm,

giúp chúng ta có thể phân biệt được với hội chứng tiền đình ngoại biên.

Nguyên nhân mạch máu: nhồi máu thân não (hội chứng Wallenberg), nhồi

máu tiểu não biểu hiện bằng hội chứng tiền đình cấp tính như chóng mặt, buồn

nơn, ói mửa. Chẩn đốn dựa trên sự xuất hiện các dấu thần kinh khác (ví dụ như

trtiệu chứng tiểu não), tuy nhiên không phải lúc nào cũng có những dấu hiệu thần

kinh này.

Bệnh xơ cứng rải rác (Multiple sclerosis): cũng có thể có những cơn chóng

mặt cấp tính dữ dội. Tuy nhiên ít khi nghĩ đến chẩn đốn này khi bệnh nhân chỉ có

dơn thuần cơn chóng mặt mà khơng kèm những tổn thương thần kinh khác (kiểu đa

ổ) như triệu chứnt tiểu não, liệt giữa nhân, triệu chứng tháp.

2.2. Chóng mặt trung ương xuất hiện mãn tính



a



Chóng mặt tư thế có nguồn gốc trung ương: hiếm gặp hơn chóng mặt



tư thế ngoại biên. Khác với chóng mặt tư thế ngoại biên là chóng mặt ở đây xảy ra

ngay lập tức ở những tư thế khác nhau khi làm nghiệm pháp NylenBarany; khơng

có hiện tượng quen dần khi lập lkại nghiệm pháp này nhiều lần. Rung giật nhãn



cầu nhãn cầu đánh nhiều hướng. Thường do thiếu máu não động mạch cột sống

thân nền hoặc hiếm hơn do u hố sau.



b



Chóng mặt khơng theo tư thế: Ở bệnh nhân < 50 tuổi, thường có thể



do u não, hoặc hiếm hơn do bệnh xơ cứng rải rác.

VI. ĐIỀU TRỊ

Tùy vào nguyên nhân mà cách điều trị của chúng ta khác nhau.

VI.1. Điều trị nội khoa

- Antihistamine:

Meclizine (Antivert, Bonine): 25-50mg mỗi 4-6 giờ

Dimenhydrinate: 50mg uống, tiêm, bắp mỗi 4-6 giờ

-Anticholinergic:

Scopolamine: 0,6mg uống mỗi 4-6 giờ

Sympathomimetic: Amphetamine, Ephedrine.

-Manhê Sunphát

- Corticoid + acyclovir ( trong viêm dây thầnh kinh tiền đình )

VI.2. Phẫu thuật

VI.3. Luyện tập tiền đình



Tài liệu tham khảo:

1. Tai Mũi Họng ( cho BS đa khoa ) Phạm Khánh Hòa 2010

2. Bệnh Tiền đình- Chẩn đóan và điều trị - Phạm Khánh Hòa, Phạm Trần

Anh, Phạm Bích Đào – Nhà xuất bản Y Học 2009

3. Schwindel- Diagnose und Therapie Becker, Naumann Thieme 2015



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

IV. Các nguyên nhân gây chóng mặt

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×